Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, thuật ngữ “xã hội dân sự” ngày càng được nhắc đến như một vấn đề đáng quan tâm. Bên cạnh những giá trị tích cực, danh nghĩa “xã hội dân sự” cũng có thể bị một số tổ chức, cá nhân lợi dụng để thực hiện các hoạt động vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì vậy, nhận diện đúng bản chất của “xã hội dân sự”, đồng thời nhận diện và đấu tranh với các hành vi lợi dụng danh nghĩa này, là yêu cầu cấp thiết nhằm góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia trong tình hình mới.

“Xã hội dân sự” là thuật ngữ được nhà triết học Hy Lạp cổ đại A-ri-xtốt (384 – 322 trước Công nguyên) sử dụng từ rất sớm để chỉ một cộng đồng người, trong đó các công dân tự do, bình đẳng gắn bó với nhau trong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định. Đến nay, do sự khác biệt về bối cảnh lịch sử, chính trị, tư tưởng và đời sống xã hội, “xã hội dân sự” được tiếp cận dưới nhiều góc độ, với hàng trăm cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, “xã hội dân sự” có thể được hiểu là hệ thống các tổ chức, mạng lưới và hoạt động nằm ngoài bộ máy nhà nước, do công dân tự nguyện thành lập và tham gia nhằm thực hiện những mục đích nhất định. Một số đặc trưng cơ bản của “xã hội dân sự” gồm: (1) nằm ngoài bộ máy nhà nước; (2) hoạt động trên cơ sở tự nguyện, thu hút sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội; (3) có tính tự chủ, tương đối độc lập về tổ chức và tài chính.
Cần khẳng định rằng, không phải mọi tổ chức thuộc “xã hội dân sự” đều mang tính đối lập hoặc chống Nhà nước. Trên thực tế, ở Việt Nam có nhiều hội, quỹ và tổ chức xã hội hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, tích cực đóng góp cho cộng đồng trên các lĩnh vực thiện nguyện, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, giáo dục, y tế…, qua đó góp phần nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, do có sự đa dạng về thành phần, lợi ích và phương thức hoạt động, một số tổ chức, cá nhân có thể lợi dụng danh nghĩa “xã hội dân sự” để thao túng, chi phối, phục vụ các mục đích chính trị, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đáng chú ý, trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và không gian mạng phát triển mạnh mẽ, một số tổ chức, cá nhân đã lợi dụng danh nghĩa “xã hội dân sự” để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát tán thông tin sai lệch, kích động, gây chia rẽ; thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc, đe dọa sự ổn định và phát triển của đất nước.
Quan điểm của Đảng, Nhà nước về “xã hội dân sự”.
Đảng và Nhà nước Việt Nam nhất quán quan điểm tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền lập hội và tham gia các hoạt động xã hội theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Việt Nam cũng khuyến khích các hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức xã hội khác phát huy vai trò trong các hoạt động nhân đạo, từ thiện, bảo vệ môi trường, phát triển khoa học, giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức khỏe và các lĩnh vực khác, vì lợi ích cộng đồng và sự phát triển bền vững của đất nước.
Tháng 9/2000, Chủ tịch nước Việt Nam ký “Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc”, trong đó Việt Nam cam kết tạo thêm cơ hội để khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ (NGO) và “xã hội dân sự” nói chung tham gia đóng góp vào việc thực hiện các mục tiêu, chương trình của Liên hợp quốc, được quy định tại Mục 8, Điều 31, Nghị quyết số 55/2 của Liên hợp quốc thông qua ngày 8/9/2000.
Đồng thời, pháp luật Việt Nam xác định rõ việc đấu tranh, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng quyền lập hội, quyền tự do dân chủ, quyền tự do ngôn luận hoặc danh nghĩa “xã hội dân sự”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “phản biện xã hội” để tuyên truyền thông tin sai sự thật, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xâm phạm độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích quốc gia – dân tộc.
Như vậy, vấn đề cốt lõi không nằm ở bản thân khái niệm “xã hội dân sự”, mà ở mục đích, phương thức và tính chất hoạt động của các tổ chức, cá nhân nhân danh khái niệm này. Việc nhận diện đúng bản chất, phân biệt hoạt động xã hội dân sự lành mạnh với hành vi lợi dụng danh nghĩa “xã hội dân sự” để vi phạm pháp luật là yêu cầu quan trọng, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới.
Đối với đảng viên, nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương và tiếp tục hoàn thiện các chuẩn mực về trách nhiệm nêu gương, giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đã ban hành Quy định số 207-QĐ/TW ngày 26/7/2026 về những điều đảng viên không được làm, thay thế Quy định số 37-QĐ/TW. Quy định góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đồng thời chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và hành vi lợi dụng danh nghĩa “xã hội dân sự” để vi phạm pháp luật.
Nhận thức đúng quan điểm của Đảng, Nhà nước về “xã hội dân sự” là cơ sở để phát huy những giá trị tích cực của các tổ chức xã hội, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi lợi dụng danh nghĩa “xã hội dân sự” xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc, đe dọa sự ổn định của đất nước.

Nhận diện hành vi lợi dụng danh nghĩa “xã hội dân sự”.
Lợi dụng danh nghĩa “xã hội dân sự” là một trong những phương thức được các thế lực thù địch và phần tử chống đối sử dụng nhằm tác động, chuyển hóa nhận thức xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, từ đó gây mất ổn định chính trị – xã hội. Các biểu hiện cần nhận diện và cảnh giác gồm:
Thứ nhất, lợi dụng việc thành lập, tham gia các hội, nhóm, câu lạc bộ, diễn đàn để tổ chức hoặc vận động thành lập các tổ chức hoạt động không đúng quy định của pháp luật; núp bóng các hoạt động xã hội, từ thiện, bảo vệ môi trường, giáo dục, nghiên cứu, hỗ trợ pháp lý… để móc nối, tập hợp lực lượng, mở rộng ảnh hưởng, phục vụ các mục đích chính trị.
Thứ hai, lợi dụng các nguồn tài trợ và hoạt động hợp tác quốc tế để tiếp nhận, sử dụng nguồn tài trợ từ tổ chức, cá nhân nước ngoài thiếu công khai, minh bạch hoặc không đúng quy định pháp luật; thông qua các chương trình hợp tác, đào tạo, hội thảo, khảo sát, tập huấn, hội nghị, diễn đàn… để thu thập thông tin, xây dựng mạng lưới, tuyển chọn, đào tạo lực lượng phục vụ các hoạt động chống phá lâu dài.
Thứ ba, lợi dụng các vấn đề nhạy cảm, phức tạp trong xã hội như dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, đất đai, môi trường, khiếu kiện và các vụ việc “nóng” để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tâm lý bất mãn, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm phức tạp tình hình an ninh, trật tự.
Thứ tư, lợi dụng không gian mạng và các nền tảng công nghệ, truyền thông để phát tán thông tin sai sự thật, bóp méo sự việc; đăng tải, chia sẻ các tài liệu, “công trình nghiên cứu”, văn hóa phẩm có nội dung xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước, Quân đội và lực lượng Công an; qua đó kích động, tạo tâm lý hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống chính trị.
Thứ năm, móc nối với các tổ chức, cá nhân phản động ở nước ngoài để xây dựng báo cáo, kiến nghị hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông sai lệch; tìm cách quốc tế hóa những vấn đề nội bộ, gây sức ép đối với Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.
Thứ sáu, lồng ghép nội dung chính trị vào các hoạt động thiện nguyện, cứu trợ, bảo vệ môi trường, hỗ trợ cộng đồng, qua đó tuyên truyền những quan điểm trái với chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Thứ bảy, lôi kéo cán bộ, đảng viên, trí thức, văn nghệ sĩ, người có uy tín và những người có ảnh hưởng trên không gian mạng tham gia hoặc tiếp tay lan truyền các quan điểm sai trái; cổ súy tư tưởng “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”, từng bước hình thành các tổ chức đối lập dưới danh nghĩa “xã hội dân sự độc lập”.
Những hành vi trên thường được che đậy dưới các khẩu hiệu như “xã hội dân sự độc lập”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do”, “minh bạch”, “phản biện xã hội” hoặc núp bóng các hoạt động nhân văn, từ thiện, thiện nguyện. Điều này có thể khiến người dân khó nhận biết bản chất nếu thiếu thông tin và hiểu biết pháp luật.
Vì vậy, cần phân biệt rõ các tổ chức xã hội hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và quy định của pháp luật với những tổ chức, cá nhân lợi dụng danh nghĩa “xã hội dân sự” để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc. Chủ động nhận diện, phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi lợi dụng là yêu cầu quan trọng, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong tình hình mới.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, phòng ngừa và đấu tranh.
Để phát huy những giá trị tích cực của các tổ chức xã hội, đồng thời chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi lợi dụng danh nghĩa “xã hội dân sự” để vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hội, hiệp hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện và các tổ chức xã hội khác; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong hoạt động của các tổ chức xã hội.
Thứ hai, chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời, minh bạch, nhất là đối với những vấn đề được dư luận quan tâm, qua đó định hướng nhận thức xã hội, hạn chế khoảng trống thông tin và không để các thông tin sai lệch, xuyên tạc có cơ hội chi phối dư luận. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý hội, quỹ xã hội và các tổ chức phi chính phủ; từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về tổ chức, nhân sự, nguồn tài trợ và hoạt động, phục vụ công tác quản lý, giám sát và phát hiện sớm dấu hiệu vi phạm.
Thứ ba, đẩy mạnh giáo dục chính trị, pháp luật và nâng cao kỹ năng nhận diện thông tin sai lệch, góp phần tăng cường “sức đề kháng xã hội” cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, trước những thông tin sai trái trên không gian mạng. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức chấp hành pháp luật và kỹ năng số, chủ động nhận diện các phương thức, thủ đoạn lợi dụng danh nghĩa “xã hội dân sự” để tác động, lôi kéo, kích động hoặc vi phạm pháp luật.
Thứ tư, phát huy vai trò của báo chí chính thống, lực lượng chuyên trách và mỗi công dân trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Cùng với việc nâng cao kỹ năng xác minh nguồn tin, cần trang bị kiến thức nhận diện nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra, công nghệ deepfake và các thủ đoạn thao túng thông tin. Mỗi cán bộ, đảng viên và công dân cần có trách nhiệm kiểm chứng trước khi chia sẻ, không tiếp tay lan truyền thông tin sai sự thật; đồng thời chủ động phát hiện, phản ánh những hành vi vi phạm đến cơ quan chức năng.
Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và tuân thủ pháp luật Việt Nam, chủ động phòng ngừa, phát hiện và kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng hợp tác, hỗ trợ quốc tế hoặc các hình thức liên kết xuyên biên giới để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc.
Thứ sáu, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức xã hội hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và quy định của pháp luật, phát huy vai trò trong các lĩnh vực an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, khuyến học, cứu trợ thiên tai, chăm sóc cộng đồng… Qua đó, khuyến khích các giá trị tích cực, huy động nguồn lực xã hội và góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Thứ bảy, phát huy vai trò chủ thể của mỗi người dân trong bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn môi trường thông tin lành mạnh trên không gian mạng. Người dân không chỉ là đối tượng được bảo vệ mà còn trực tiếp tham gia nhận diện, phòng ngừa và phản ánh các hành vi vi phạm; qua đó góp phần xây dựng thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc và sự ổn định của đất nước.
Nhận diện đúng bản chất “xã hội dân sự”, phát huy những giá trị tích cực của các tổ chức xã hội, đồng thời chủ động phòng ngừa, phát hiện và kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng danh nghĩa “xã hội dân sự” để vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc là yêu cầu khách quan và nhiệm vụ thường xuyên. Đây không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan quản lý, lực lượng chức năng mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mỗi người dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trung tướng Ngô Quý Đức/Nguyên Cục trưởng, Cục Cứu hộ – Cứu nạn (Bộ Quốc phòng)


