Thứ Ba, Tháng Năm 21, 2024
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Những vấn đề về công cụ chính sách phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam

ĐNA -

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã định hướng cho phát triển kinh tế xanh, chiến lược phát triển kinh tế xã hội có mục tiêu và giải pháp phát triển kinh tế xanh. Để thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế xanh, cần nghiên cứu các công cụ chính sách kinh tế xanh, trong đó 4 nhóm công cụ chính sách bao gồm: Công cụ tổ chức, công cụ pháp luật, công cụ kinh tế, công cụ thông tin tuyên truyền vận động cần được nghiên cứu để hoàn thiện chính sách kinh tế xanh. Bài nghiên cứu tổng quan các nghiên cứu về giải pháp và công kinh tế xanh, từ đó phân tích và đề xuất 04 nhóm công cụ chính sách kinh tế xanh, đặc biệt chú trọng sự phối hợp giữa các nhóm công cụ chính sách để đảm bảo hoàn thành mục tiêu chính sách kinh tế xanh ở Việt Nam.

So với mô hình kinh tế tuyến tính truyền thống, kinh tế tuần hoàn mang lại nhiều lợi ích

Đặt vấn đề
Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011  – 2020 xác định nội dung của đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế “…Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh”. Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta nêu rõ, phải “xây dựng nền kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”. Văn kiện Đại hội XIII nêu ra là, “Phát triển kinh tế xanh, ít chất thải, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, các bon thấp; khuyến khích phát triền mô hình kinh tế tổng hợp để sử dụng tổng hợp và hiệu quả đầu ra của quá trình tái sản xuất”.  Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XIII xác định mục tiêu bảo đảm phát triển nhanh, bền vững  đã chỉ ra nhiều hạn chế nội tại của Việt Nam là kinh tế vĩ mô có tăng trưởng tốt nhưng chưa bền vững dẫn đến đề xuất thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng xanh, kinh tế xanh với năng lượng sạch, năng lượng tái tạo. Mô hình kinh tế xanh được biết là mô hình phát triển mới lấy môi trường và tài nguyên và con người làm trung tâm của sự phát triển. Nghiên cứu này góp phần truyền thông chính sách, phổ biến kiến thức và đóng góp thiết kế, xây dựng, thực hiện hiệu quả công cụ chính sách kinh tế xanh.

Nghiên cứu tập trung vào các giải pháp và công cụ kinh tế xanh góp phần thực hiện chính sách kinh tế xanh ở Việt Nam. Nhà nước có nhiều cách can thiệp tác động đến xã hội, ảnh hưởng đến đời sống người dân. Các công cụ chính sách chính là cách thức mà nhà nước sử dụng để tác động vào thực tiễn xã hội, các ngành kinh tế xanh. Công cụ chính sách được sử dụng rộng rãi trong thực hiện chính sách kinh tế xanh. Qua nghiên cứu, bốn nhóm công cụ chính sách trong thực hiện chính sách kinh tế xanh là rất quan trọng, cần phải được nghiên cứu đầy đủ cho từng ngành kinh tế trong bối cảnh cụ thể hiện nay để có thể lựa chọn, vận dụng tốt nhất.

Nghiên cứu đóng góp về mặt lý luận về công cụ chính sách kinh tế xanh vận dụng thực hiện những giải pháp chính sách kinh tế xanh. Nghiên cứu sáng tỏ thêm thực trạng về vận dụng công cụ chính sách xanh trong các ngành kinh tế hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện việc vận dụng công cụ chính sách kinh tế xanh, đó là:

Thứ nhất là cần phổ biến kiến thức về hệ thống các công cụ chính sách kinh tế xanh hiện nay.

Thứ hai là chúng ta cần có tư duy ‘mở’ trong lựa chọn công cụ chính sách kinh tế xanh, tránh bó hẹp đối với các công cụ pháp lý hoặc lựa chọn đa công cụ chính sách kinh tế xanh.

Thứ ba là chúng ta cần tập trung xây dựng năng lực vận dụng công cụ chính sách xanh đối với các nhà phân tích và các nhà lập chính sách kinh tế xanh ở các ngành kinh tế.

Thứ tư là chúng ta cần hoàn thiện thể chế chính sách công đảm bảo sự lựa chọn hiệu quả các công cụ chính sách kinh tế xanh tránh ràng buộc chặt chẽ việc lựa chọn các công cụ chính sách trong phạm vị công cụ luật pháp.

Thứ năm là chúng ta cần thiết nâng cao năng lực các cơ quan lập chính sách giúp cho việc thiết kế, phân tích, lựa chọn, thực hiện công cụ chính sách kinh tế xanh hiệu quả hơn.

Phát triển kinh tế xanh đang là xu hướng chung của thế giới. (Nguồn: UNDP)

Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Kinh tế truyền thống khai thác tài nguyên, sản xuất – phân phối – tiêu dùng – rác thải. Biến tài nguyên thành rác thải làm cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Mô hình kinh tế tuần hoàn dự kiến thay thế bền vững mô hình kinh tế truyền thống, khắc phục những hạn chế và hệ quả của mô hình kinh tế cũ (xem Đỗ Phú Hải, 2018). Kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn là giảm và loại bỏ thải và ô nhiễm, sử dụng của sản phẩm và nguyên vật liệu; tái tạo hệ thống tự nhiên giảm rác thải ra môi trường, rác thải có khả năng tái sử dụng và tái chế cao mang tính khép kín chu trình sản xuất nhờ công nghệ sản xuất hiện đại, sạch, xanh và công nghệ xử lý chất thải bảo đảm xanh, sạch (ibib). Khái niệm kinh tế tuần hoàn đi cùng với khái niệm kinh tế xanh, bởi nội hàm của hai khái niệm cùng hướng tới việc tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm thải ra môi trường.

Kinh tế xanh là nội dung Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc về phát triển bền vững tại thành phố Rio de Janeiro, Brazil năm 2012 (Rio+20). Ngày Môi trường thế giới ngày 5 tháng 6 năm 2012 có chủ đề là “Kinh tế xanh: Có bạn không?” (Green Economy: Does it include you). Kinh tế xanh định hướng tới phát triển bền vững bao gồm sản xuất xanh, tiêu dùng xanh, lối sống xanh, sản phẩm xanh với hàm ý là “thân thiện với môi trường”. Ngân hàng Thế giới đã xuất “Xanh hoá Công nghiệp: Vai trò mới của Cộng đồng, Thị trường và Chính phủ”  giới thiệu một mô hình mới cho việc kiểm soát ô nhiễm trong công nghiệp là xanh hoá công nghiệp.

Như vậy, bản chất cốt lõi của kinh tế xanh là đổi mới công nghệ sản xuất, đầu tư lớn vào công nghệ xanh. Nếu khả năng, năng lực về vốn đầu tư công nghệ còn hạn chế, xét triển vọng thu lại lợi nhuận từ sự đầu tư không hẳn cao, sẽ khó thuyết phục được các nhà đầu tư.

Xu hướng tăng trưởng, phát triển từ ‘nâu’ sang ‘xanh’ vẫn đang là chủ đạo trong phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia. Bởi lẽ không chỉ thực tế gánh nặng, áp lực khắc phục, giải quyết hệ quả nặng nề của tăng trưởng, phát triển nâu đối với tương lai phát triển tiếp tục của từng quốc gia và của cả thế giới mà còn cả bởi lợi ích kinh tế xanh, phát triển xanh đem lại cho tương lai.

Sự tất yếu chuyển sang kinh tế xanh cũng cần có thời gian cho nhận thức và hành động nhưng chắc chắn là sẽ ít hơn nhiều vì kinh tế xanh cũng là phát triển bền vững, hay đúng hơn là cách thức, phương thức thực hiện phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Chuyển đổi sang kinh tế xanh được hỗ trợ, thúc đẩy bởi cộng đồng quốc tế, mỗi quốc gia đang trong giai đoạn tái cơ cấu lại để thích ứng với những thay đổi trong bối cảnh phát triển thay đổi liên quan tới hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và ứng phó với tác động của BĐKH . Như vậy, thực hiện kinh tế xanh, hay là xanh hóa nền kinh tế nâu là con đường duy nhất để phát triển bền vững đối với các quốc gia (tổng hợp mục tiêu SDGs).

Lợi ích chính của kinh tế xanh là : “Giá trị và vai trò của đầu tư vào vốn tự nhiên; Nền kinh tế xanh là trụ cột để giảm nghèo; Nền kinh tế xanh tạo ra việc làm và cải thiện công bằng xã hội; Nền kinh tế xanh sử dụng năng lượng tái tạo và công nghệ các-bon thấp thay thế cho nhiên liệu hóa thạch; Nền kinh tế xanh khuyến khích sử dụng nguồn lực và năng lượng hiệu quả hơn; Nền kinh tế xanh hướng tới lối sống đô thị bền vững và sự giao thông các-bon thấp; Nền kinh tế xanh tăng trưởng nhanh hơn nền kinh tế nâu về dài hạn, đồng thời duy trì và phục hồi vốn tự nhiên”.

“Hướng tới Nền kinh tế Xanh – Lộ trình cho phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo” (UNEP, Rio+20, là “đe dọa chính cơ hội tồn tại và phát triển của gần 7 tỷ người – dự báo con số vào năm 2050 sẽ tăng lên 9 tỷ”. Khái niệm kinh tế xanh trở nên phổ biến một phần do “sự thất vọng của nhiều quốc gia với mô hình kinh tế hiện hành, sự mệt mỏi khi phải đối mặt cùng lúc với nhiều cuộc khủng hoảng và thất bại thị trường ngay trong thập kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ mới, trong đó phải kể tới khủng hoảng tài chính và kinh tế năm 2008”. Đồng thời, đó cũng là “minh chứng cho thấy một mô hình mới đang trỗi dậy, trong đó sự giàu có về vật chất được tạo ra có tính tới những rủi ro môi trường, những khan hiếm sinh thái và bất công xã hội ngày một trầm trọng hơn”  , . Điều tất yếu là “Thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và lối sống thân thiện với tài nguyên thiên nhiên và môi trường, kinh tế xanh dẫn đến một môi trường xanh, một xã hội xanh là tất yếu với các quốc gia”.

Do hệ quả của sự phát triển không thân thiện môi trường, biến đổi khí hậu đang đe dọa tới sự phát triển, thậm chí còn phá hủy các kết quả phát triển đã đạt được. Thực tế đó đòi hỏi phải tìm kiếm những công cụ chính sách mới và chuyển đổi mô hình phát triển hiện nay để giải quyết các vấn đề trong quá trình phát triển bền vững. Mô hình kinh tế hiện đang được các quốc gia trên thế giới đồng thuận chuyển đổi sang, trong đó có Việt Nam, là kinh tế xanh.

Nhiều định nghĩa về Kinh tế xanh thể hiện các cố gắng nhận dạng khái niệm mới mẻ này, từ rộng đến hẹp theo nội hàm của cụm từ này. Năm 2012, Tổng cục Môi trường, Bộ TNMT trong báo cáo đề dẫn tại Hội thảo “Kinh tế xanh và Phát triển bền vững” thấy rằng “hầu hết các ý kiến đều cho rằng trong định nghĩa về kinh tế xanh vấn đề năng lượng sạch là vấn đề cốt lõi”. Đến nay nội hàm khái niệm kinh tế xanh đã được mở rộng hơn với thống kê chưa thật đầy đủ, đã có tới vài chục định nghĩa về nó và định nghĩa sau đây của Chương trình Môi trường của LHQ (UNEP) trong cuốn sách “Hướng tới Nền kinh tế Xanh – Lộ trình cho PTBV và xóa đói giảm nghèo” đã nói ở trên viết dành cho các nhà hoạch định, xây dựng chính sách được trích dẫn nhiều hơn cả ở Việt Nam:“Nền kinh tế xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái. Nói một cách đơn giản, nền kinh tế xanh có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hướng tới công bằng xã hội”,.

Việt Nam có đủ điều kiện để ứng dụng kinh tế tuần hoàn

Trong thực tiễn hoạch định và xây dựng chính sách công còn có khái niệm ‘tăng trưởng xanh’ và khái niệm này hiện cùng đồng hành với khái niệm ‘kinh tế xanh’. Khái niệm tăng trưởng xanh được định nghĩa theo nhiều cách thức khác nhau với nội hàm cốt lõi của tăng trưởng xanh, nói một cách đơn giản, là “tăng trưởng thân thiện với môi trường tự nhiên”, đạt được đồng thời cả mục tiêu tăng trưởng kinh tế và cả mục tiêu bảo vệ môi trường. Định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): “Tăng trưởng xanh là đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong khi vẫn đảm bảo rằng tự nhiên vẫn có đủ năng lực cung cấp các nguồn lực sản xuất và vẫn duy trì môi trường sống”. Hay nói cách đơn giản hơn nữa thì đó là làm xanh hóa sự tăng trưởng kinh tế. Như vậy, kinh tế xanh và tăng trưởng xanh là 2 khái niệm tương đồng nhưng không phải là tương đương. Rõ ràng, theo khoa học kinh tế phát triển, tăng trưởng là một cấu thành của nền kinh tế, kinh tế xanh có nội hàm rộng hơn và phong phú hơn so với tăng trưởng xanh.

OECD (2011), vấn đề chính sách kinh tế xanh được chia thành 02 nhóm vấn đề chính:

Thứ nhất, lợi ích kinh tế tổng thể thấp tạo ra bởi bao gồm các yếu tố tạo ra sức ì trong hệ thống kinh tế và rào cản năng lực hoặc “lợi ích xã hội thấp”. Vấn đề sức í nằm ở các nguyên nhân sau: Thiếu lợi ích từ R&D, hiệu ứng mạng lưới, rào cản cạnh tranh, thông lệ thói quen… Vấn đề lợi ích xã hội thấp là do nguyên nhân nguồn vốn nhân lực và vốn xã hội yếu kém, cơ sở hạ tầng không đủ, cơ sở hạ tầng không đáp ứng được yêu cầu,

Thứ hai, lợi ích không hợp lý. Do nhiều nguyên nhân, bởi thất bại của thị trường và thất bại của chính phủ ngăn cản mọi người nắm bắt được giá trị đầy đủ của kết quả môi trường được cải thiện và hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Tầm quan trọng của các hạn chế đối với kinh tế xanh sẽ khác nhau tùy theo mức độ phát triển, bối cảnh kinh tế xã hội, và các giải pháp chính sách kinh tế xanh bao gồm tập trung giải quyết vấn đề vốn con người thấp hoặc cơ sở hạ tầng không đầy đủ sẽ có xu hướng đi kèm với mức độ phát triển kinh tế thấp hơn (mặc dù không độc quyền). Việc khắc phục những hạn chế này sẽ được ưu tiên cao và có lẽ là điều kiện tiên quyết để giải quyết nhiều ràng buộc khác liên quan đến kinh tế xanh. Trên cơ sở đó, công cụ chính sách kinh tế xanh quyết định sự thành công hay thất bại chính sách kinh tế xanh. Có 4 nhóm công cụ chính sách được sử dụng trong khâu thực hiện chính sách công (xem Howlett, 2003) bao gồm:

Nhóm công cụ tổ chức: Nhà nước trực tiếp cung ứng (dịch vụ công) do các đơn vị sự nghiệp công lập tiến hành; Công ty công thực hiện chính sách; Gia đình, cộng đồng và các tổ chức tình nguyện; Tạo ra thị trường (tạo lập thị trường mới); Tái cơ cấu các đơn vị sự nghiệp nhà nước.

Nhóm công cụ dựa vào quyền lực: các quy định mệnh lệnh và kiểm soát bằng luật pháp; Ủy ban tư vấn/ hội đồng tư vấn; Quy định hoặc liên minh, mạng lưới hợp tác về trách nhiệm hoặc là tự có trách nhiệm của khu vực thị trường và xã hội dân sự; Tổ chức phi chính phủ tham gia tự quy định việc tham gia chính sách công. Quá trình này mang tính tự nguyện mà nhà nước cho phép các tổ chức xã hội dân sự tham gia vào quá trình chính sách.

Nhóm công cụ kinh tế: Trợ cấp tài chính (tài trợ, miễn thuế, cho vay vốn..vv); Hạn chế tài chính (tăng thuế , phí, vv); Tài trợ lợi ích.

Nhóm công cụ tuyên truyền vận động, thuyết phục: Chiến dịch truyền thông; Tuyên truyền cổ vũ và thuyết phục; Tài trợ nghiên cứu kinh tế xanh.

Kết quả và thảo luận.

Quan điểm phát triển kinh tế xanh
Các nghiên cứu trước đây đều thể hiện quan điểm tăng trưởng xanh là động lực của kinh tế xanh, luận điểm chính là góp phần thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài, hiện thực hóa Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2021 – 2030, hệ thống quy hoạch quốc gia, chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực.

Ở góc độ chính sách – pháp luật, cho rằng kinh tế xanh đóng góp trực tiếp vào giảm phát thải khí nhà kính để hướng tới nền kinh tế trung hòa các-bon trong dài hạn. Kinh tế xanh lấy con người làm trung tâm phát triển, giúp giảm thiểu tính dễ bị tổn thương của con người trước biến đổi khí hậu; khuyến khích lối sống có trách nhiệm của từng cá nhân đối với cộng đồng và xã hội, định hướng thế hệ tương lai về văn hóa sống xanh, hình thành xã hội văn minh, hiện đại hài hòa với thiên nhiên và môi trường. Kinh tế xanh cần có các công cụ chính sách tốt thể hiện quản trị hiện đại, khoa học và công nghệ tiên tiến, nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với sự nghiệp của cả hệ thống chính trị, toàn dân, cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức liên quan, được thúc đẩy bằng tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, bền vững.

Thực hiện giải pháp chính sách kinh tế xanh
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “phát triển kinh tế xanh, ít chất thải, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, cácbon thấp; khuyến khích phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn để sử dụng tổng hợp và hiệu quả đầu ra của quá trình sản xuất”. Nghị quyết của Đảng khẳng định KTTH trong mối tương quan với bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xanh, phát triển nhanh và bền vững tránh bị tụt hậu về kinh tế và nỗ lực phát triển kinh tế sao cho hạn chế tối đa rác thải, chống ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu một cách tốt nhất. Mục tiêu cụ thể là:

Giảm cường độ phát thải nhà kinh trên GDP

Xanh hóa các ngành kinh tế

Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững

Xanh hóa quá trình chuyển đổi trên nguyên tắc bình đẳng, bao trùm, nâng cao năng lực chống chịu.

Giải pháp chính sách và các công cụ chính sách cần triển khai là:

Giải pháp thứ nhất, Tăng cường khuyến khích, ưu đãi về cơ chế tài chính, tiếp cận các nguồn lực xanh và chế tài chính xanh rõ ràng, minh bạch.
Có công cụ chính sách kinh tế khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp lớn tích cực đầu tư, phát triển công nghiệp tái chế, năng lượng tái tạo, thúc đẩy sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhiên liệu xanh sạch, đi đôi xác định lộ trình thay thế các nhiên liệu hóa thạch. Tăng thuế đối với hàng hóa sản phẩm của các doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu nguy hại, sản phẩm sử dụng một lần bằng các nhiên liệu, nguyên liệu thân thiện với môi trường, sản phẩm sử dụng nhiều lần, kéo dài thời gian sử dụng hữu ích của sản phẩm. Nên hết sức tập trung vào các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân, Đảng ta đã xác định đó là động lực phát triển chính, nếu gắn họ với các cơ chế tài chính xanh sẽ thành công hoàn thành mục tiêu chính sách kinh tế xanh. Nên có đề xuất sử dụng các công cụ chính sách cần sử dụng như hợp tác công – tư, cơ chế tài chính xanh…nhằm hỗ trợ doanh nghiệp từng bước tiếp cận kinh tế số. Nên phát triển các thị trường hàng hóa sản phẩm sử dụng nguyên liệu tái chế, thị trường nguyên vật liệu thứ cấp từ sản phẩm tái chế.

Nhóm công cụ kinh tế cần được sử dụng. Công cụ kinh tế được sử dụng lợi ích kinh tế làm đòn bẩy cho công chúng tự nguyện đi theo thực hiện chính sách. Đó là chính sách về thuế, tài chính tiền tệ, hợp đồng công.

+ Công cụ thuế cho phát triển kinh tế xanh: Đối với thuế, theo một số học giả thì công cụ này được sử dụng để huy động tài chính, chuyển nhượng tài sản, và điều tiết sản xuất trong xã hội. Đây là công cụ được sử dụng nhiều nhất có mối quan hệ khăng khít với chính sách tài chính. Nhưng thuế vừa có tác động gián tiếp, vừa có tác động trực tiếp, còn chính sách tài chính thì chỉ có tác động gián tiếp đến thực hiện chính sách kinh tế xanh. Thuế là nguồn thu cơ bản của ngân sách, do đó công cụ này giúp tập trung tài chính để thực hiện chính sách kinh tế xanh. Đó là tác động trực tiếp của thuế đối với chính sách kinh tế xanh mà phạm vi của một chính sách có cho phép nó được thực hiện hiệu quả đối với chủ thể là doanh nghiệp và người dân. Thuế còn có tác động gián tiếp, đó là có thể là trở ngại/ khuyến khích chi phối hành vi trong xã hội hoặc khuyến khích đầu tư sản xuất các ngành, lĩnh vực khác thực hiện chính sách kinh tế xanh. Đối với sản xuất thì điều này rất có ý nghĩa, đó là chỉ ra được những hoạt động sản xuất được khuyến khích xanh hóa nền kinh tế, hoặc những hoạt động sản xuất nên hạn chế do gây hại cho nền kinh tế, mặc dù những hoạt động này không bị cấm như những hoạt động sản xuất tiềm năng gây ô nhiễm môi trường, làm gia tăng biến đổi khí hậu vv. Công cụ thuế cũng có những hạn chế như là không đảm bảo công bằng, chẳng hạn như đánh thuế người giầu quá cao rồi tái phân phối chia cho người nghèo. Hoặc công cụ thuế làm suy giảm sức sản xuất do gây những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái.

Tái phân phối tài sản cũng là một công cụ kết hợp với công cụ chính sách thuế nhằm thực hiện các chính sách kinh tế xanh hiệu quả. Đó là công cụ trợ cấp xanh, bù thu nhập xanh, bảo hiểm miễn phí đối với sản xuất tiêu dùng xanh, dịch vụ miễn phí đối với sản xuất dịch vụ xanh, cho vay lãi suất thấp hoặc không tính lãi đối với những hoạt động kinh tế xanh bởi vì thuế làm chức năng tích lũy tài chính từ việc thu thuế, kể cả thuế thu nhập cá nhân cao đối với người có thu nhập cao để phục vụ cho việc thực hiện các giải pháp chính sách kinh tế xanh. Tuy nhiên việc thực hiện kết hợp công cụ thuế và công cụ tái phân phối tài sản còn chưa có sự thống nhất trên thế giới đối với kinh tế xanh do các sự khác biệt văn hóa. Mô hình nhà nước phúc lợi xã hội sử dụng hiệu quả kết hợp hai công cụ chính sách này. Chẳng hạn mô hình nhà nước phúc lợi ở Bắc Âu. Thể chế Hoa Kỳ không phù hợp cho việc thực hiện công cụ này. Tuy nhiên, ngay ở Hoa Kỳ thì Đảng Dân chủ có xu hướng tăng phúc lợi xã hội người dân bằng thu thuế cao từ người giầu. Rõ ràng, công cụ chính sách có được vận dụng hay không phụ thuộc và bản chất chính trị của thể chế đó.

+ Công cụ tài chính tiền tệ xanh: Công cụ chính sách tài chính, tiền tệ xanh được sử dụng trong tổng thể chính sách kinh tế xanh nói chung. Tuy nhiên tác động của công cụ này cũng có tính phi kinh tế mà trọng tâm là khuyến khích thúc đẩy kinh tế xanh. Do đó, công cụ này cần được vận dụng như một công cụ của chính sách kinh tế xanh hơn là công cụ tài chính đơn thuần. Đối với chính sách tài chính, đó là thu và chi tiêu công, và thu ngân sách thì phần lớn là thu thuế, công cụ này đã được phân tích ở trên, nhưng thu và chi tiêu công nhắm đến khuyến khích và thúc đẩy kinh tế xanh, cụ thể là hành vi xanh. Theo OECD, công cụ chi tiêu công là một công cụ hữu hiệu trong chính sách kinh tế xanh, bản chất là việc chi tiêu công có định hướng kinh tế xanh sẽ khuyến khích kinh tế xanh phát triển. Tài chính nhà nước là rất lớn nên việc chi tiêu công có định hướng tạo ra sự thay đổi tổng cầu trong một ngành nào đó. Nếu chi tiêu công định hướng sản xuất xanh, tiêu dùng xanh nghĩa là đã kích thích tạo ra sự thành công của chính sách kinh tế xanh một cách gián tiếp. Chẳng hạn doanh nghiệp sán xuất hàng hóa nhận được vay ưu đãi kèm theo quỹ tín dụng xanh sẽ ưu tiên ngành hàng và giảm giá thành sản phẩm. Đây là cách thức gián tiếp tác động đến người tiêu dùng thông qua công cụ tài chính xanh. Hoặc mua sắm chính phủ đặt ra các tiêu chí sản phẩm xanh, doanh nghiệp đầu tư thay đổi công nghệ sản xuất sản phẩm xanh.

Tuy nhiên, việc chi tiêu công cũng có mặt hạn chế như sau: (i) không kiểm soát được chi tiêu công hằng năm vì phải chi tiêu liên tục cho chính sách kinh tế xanh dài hạn. Hậu quả là làm cho ngân sách bị thâm hụt kéo dài và hệ lụy của nó ảnh hưởng đến chính sách kinh tế nói chung, chẳng hạn như phải điều chỉnh đầu tư, mục tiêu tăng trưởng do thâm hụt ngân sách gây nên (ii) chi tiêu công quá lớn, liên tục dẫn đến lạm phát. Do đó, công cụ này phải được cân nhắc những hạn chế trên trước khi quyết định áp dụng đối với chính sách kinh tế xanh.

Đối với công cụ chính sách tiền tệ, đây cũng là cấu thành của chính sách kinh tế xanh, nhưng lại là công cụ chính sách hữu hiệu. Chính sách tiền tệ do Ngân hàng nhà nước phối hợp với Bộ Tài chính đề xuất cho Chính phủ/Quốc hội quyết định, do đó công cụ chính sách tiền tệ có tác động đối với chính sách kinh tế xanh một cách gián tiếp. Đối với công cụ tiền tệ, có 05 công cụ được sử dụng chủ yếu đó là: (1) chính sách lãi suất (2) tỷ lệ dự trữ bắt buộc (3) nghiệp vụ thị trường mở (4) tỷ giá (5) quản lý cho vay.

Lãi suất là công cụ chính tác động gián tiếp đến chính sách kinh tế xanh. Lãi suất liên quan đến quyết định đầu tư hay mua sắm, tiêu dùng. Do đó, lãi suất trước hết là tác động đến các Quỹ tài chính, các Ngân hàng thương mại, làm tăng hay giảm Quỹ tài chính hay làm tăng hay giảm hoạt động của Ngân hàng thương mại tác động đến sản xuất, dịch vụ, tiêu dùng xanh. Lãi xuất ưu đãi với hoạt động kinh tế xanh sẽ giúp thực hiện chính sách kinh tế xanh hiệu quả. Nghiệp vụ bán hay mua trên thị trường mở có tác động gián tiếp đối với chính sách kinh tế xanh thông qua hiệu ứng của nó. Tỷ giá cũng có tác động gián tiếp đối với chính sách kinh tế xanh thông qua hiệu ứng đối với nền kinh tế. Tỷ giá tăng hay giảm có thể làm thay đổi xuất nhập khẩu, thay đổi hoạt động của doanh nghiệp, tác động tăng hay giảm nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Do đó, tỷ giá giúp nhập khẩu máy móc, công nghệ, trang thiết bị giúp cho thực hiện chính sách kinh tế xanh gián tiếp.

Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc đây là công cụ mang nặng tính quản lý Nhà nước giúp Ngân hàng nhà nước chủ động trong việc đIều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của nó cũng rất mạnh đến cung tiền. Song tính linh hoạt của nó đối với kinh tế xanh không cao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại.

+ Các hợp đồng công. Các hoạt động của chính phủ được thực hiện qua hợp đồng công hoặc thỏa thuận hoặc với khu vực tư nhân, hoặc nhà cung ứng nước ngoài. Việc phân bổ hợp đồng cũng làm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến mục tiêu chính sách kinh tế xanh theo đuổi. Đây là một hình thức can thiệp quyền lực hiệu quả, thông qua hình thức hợp đồng, các hoạt động chính sách được thực hiện rất hiệu quả với chi phí thấp và tiết kiệm thời gian. Đây là một yếu tố quan trọng của mô hình quản lý công mới. Trên thế giới, hợp đồng tư nhân được thực hiện cho (1) hợp đồng thực hiện chính sách công (2) nghiên cứu và phát triển (3) quản lý dự án, chương trình (4) hợp đồng tư vấn các vấn đề chính sách kinh tế xanh (5) hợp đồng cung cấp dịch vụ công (6) hợp đồng công để chi phối thực hiện các chính sách công khác, chẳng hạn như đưa ra yêu cầu buộc các doanh nghiệp trong ngoài nước nhận được hợp đồng thỏa thuận về đảm bảo hàng hóa và dịch vụ xanh.

Áp các tiêu chuẩn kinh tế xanh vào các thỏa thuận, hợp đồng này có hiệu lực ngay tức thì. Tuy nhiên, công cụ này cũng có những hạn chế sau: (1) tư nhân trước hết có được cung ứng hàng hóa dịch vụ hay không? nếu quyền cung ứng về tay tư nhân, có thể dẫn đến sử dụng vào mục đích tối đa hóa lợi nhuận mà quên mất thực hiện mục tiêu xanh (2) lựa chọn nhà thầu trao hợp đồng thường có vấn đề về tham nhũng, những hợp đồng lớn thường ít có cạnh tranh mà bỏ sót mục tiêu xanh (3) lựa chọn nhà thầu mang tính phân bổ hợp đồng điều hòa sản xuất hơn là tìm ra nhà cung cấp tốt nhất đối với kinh tế xanh. Trường hợp VN, là quốc gia quy mô kinh tế chưa lớn, trình độ phát triển thấp khó lựa chọn nhà thầu đáp ứng yêu cầu kinh tế xanh; các quốc gia tập trung cao độ tư bản vào một số tập đoàn cũng làm hạn chế lựa chọn thầu(4) Nạn tham nhũng hối lộ có khả năng xẩy ra trong hợp đồng công, do đó quên mất mục tiêu kinh tế xanh khi nhóm doanh nghiệp sẵn sàng làm việc này, nhưng sẽ tìm cách không thực hiện mục tiêu kinh tế xanh. Hậu quả là chất lượng sản phẩm và dịch vụ giảm, tác động đến chính sách bị suy giảm theo (5) hợp đồng công có thể ảnh hưởng đến vận động hành lang của các nhóm lợi ích ngoài kinh tế xanh nhằm mục đích giành hợp đồng.

Giải pháp thứ hai, Kiểm soát hành vi phi kinh tế xanh, gây hại cho môi trường sinh thái.
Nhóm công cụ luật pháp: Đây là công cụ chính sách kinh tế dựa vào quyền lực áp đặt, luật pháp được xem như công cụ điều tiết hành vi và hướng dẫn hoạt động của các chủ thể chính sách kinh tế xanh. Luật pháp là công cụ pháp chế của chính quyền mà khu vực xã hội và tư nhân không có có thể áp đặt lên các chủ thế chính sách kinh tế. Luật dẫn giải thực hiện quyền thi hành luật và nội dung luật để thi hành các chính sách kinh tế xanh. Do đó đây là công cụ chính sách kinh tế xanh có đặc thù sự tham gia của nhà nước. Công cụ luật pháp có ý nghĩa là (i) xác lập quyền cơ bản của công dân với kinh tế xanh (ii) xác lập các nghĩa vụ hay ràng buộc mà công dân phải có trách nhiệm, bổn phận chấp hành vì mục tiêu chính sách kinh tế xanh, nói cách khác là mục tiêu chính sách, mục tiêu luật. Rõ ràng, công cụ luật pháp thực thi nguyên tắc bắt buộc thực hiện của chính sách kinh tế xanh là hiệu quả ngay tức thì.  Tác động của công cụ luật pháp có thể là trực tiếp hoặc tác động gián tiếp mà các nhà lập chính sách, nhà nghiên cứu chính sách cần phải thấm nhuần để áp dụng trong nghiên cứu và thực tiễn.

+ Tác động trực tiếp của công cụ pháp luật trong kinh tế xanh: Luật pháp mang tính trực tiếp và bắt buộc thi hành đến từng đối tượng theo nguyên tắc bắt buộc thực hiện của chính sách kinh tế xanh. Đó là thủ tục và hành vi bắt buộc thực hiện tuân theo đảm bảo thực hiện mục tiêu kinh tế xanh, những điều khoản phạt và tố tụng nếu không chấp hành, những quyền lợi và thưởng nếu tuân theo. Có một số nhược điểm trong công cụ này, đó là xã hội và người dân có thể phản ứng tiêu cực, không tuân theo những quy định không phù hợp; hoặc những biện pháp chế tài không hợp lý. Trường hợp Việt Nam, 1 bộ phận có thái độ không tuân thủ đối với các quy định bắt buộc, đây là một hạn chế tiềm ẩn nguy cơ “nhờn luật”, giảm hiệu quả của công cụ pháp luật.

+ Tác động gián tiếp của công cụ pháp luật trong kinh tế xanh: Tác động gián tiếp của luật pháp là tác động chi phối động lực hoặc rào cản của hành vi cần được khuyến khích hoặc hạn chế. Đó là các quy định pháp luật khuyến khích hoặc chi phối hành vi tạo ra sự tự động, tự nguyện (khuyến khích sự tự nguyện) làm theo định hướng chính sách kinh tế xanh mong muốn.

Vận dụng công cụ chính sách luật pháp trong kinh tế xanh có tác động gián tiếp bằng khuyến khích hay chi phối đều có những mặt hạn chế, đó là: việc tăng lợi ích nhằm khuyến khích hành vi sẽ luôn là sự đánh đổi làm mất đi lợi ích từ nhóm khác.

Giải pháp thứ ba, Tăng cường công tác truyền thông chính sách kinh tế xanh, nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp. Nâng cao nhận thức người dân, doanh nghiệp thay đổi lối sống theo hướng tiêu dùng xanh. sử dụng năng lượng tái tạo, các sản phẩm có thể tái chế, tái sử dụng hoàn toàn; tăng cường phục hồi tài nguyên từ các sản phẩm đã qua sử dụng, kéo dài tuổi đời của sản phẩm thông qua cung cấp các dịch vụ nâng cấp, làm mới và thiết kế lại sản phẩm xanh.

Nhóm công cụ tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục cần được sử dụng trong chính sách kinh tế xanh. Về lâu dài công cụ tuyên truyền giáo dục cần được áp dụng nhằm thuyết phục lý trí tình cảm của công chúng để tình nguyện thực hiện chính sách kinh tế xanh hơn là bắt buộc. Đây là công cụ rất quan trọng cần được áp dụng trong bối cảnh chúng ta hiện nay, nhất là thay đổi tư duy xanh, lối sống xanh, tiêu dùng xanh. Thực tiễn thế giới cho thấy việc nâng cao nhận thức có ích lợi làm cho dân chúng tình nguyện thực hiện hơn là dựa vào các biện pháp khuyến khích động lực kinh tế hay kiểm soát hành vi. Mặc dù sự kết hợp các nhóm công cụ này là hoàn hảo. Ngay cả những chính sách bắt buộc thi hành cũng cần đến công cụ này nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết về vấn đề và mục tiêu chính sách, nghĩa là sự kết hợp công cụ luật pháp và công cụ kinh tế, công cụ tuyên truyền thuyết phục cũng là cần thiết trong bối cảnh chúng ta hiện nay trong thực hiện mục tiêu chính sách kinh tế xanh. Trong đó, phía nhà nước nhân danh đại diện cho lợi ích công, lợi ích quốc gia, vì sự phát triển mà dựa trên đó sự hợp lý kêu gọi, thuyết phục thực hiện quy định luật pháp, khuyến khích hỗ trợ. Công cụ này rất có hiệu quả khi người dân tin tưởng vào nhà nước và ngược lại không hiệu quả nếu người dân không còn tin tưởng vào nhà nước.  Như vậy, công cụ phổ biến, tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục là rất quan trọng trong thực hiện chính sách công.

Giải pháp thứ tư, Tăng cường quản trị nhà nước đối với kinh tế xanh. Thực hiện giải pháp chính sách này tập trung vào nhóm công cụ tổ chức.
Nhà nước trực tiếp cung ứng (dịch vụ công) do các đơn vị sự nghiệp công lập tiến hành. Phát triển nguồn nhân lực hướng đến chất lượng cao, nguồn nhân lực xanh cần sự tham gia đầy đủ của các Trường Đại học, Đại học, Học viện, Viện nghiên cứu, Công ty nhà nước, Trung tâm tham gia vào giáo dục đào tạo nguồn nhân lực xanh cho nhu cầu thị trường. Nghiên cứu phát triển kinh tế xanh. Tăng cường năng lực các tổ chức đảm bảo thực hiện chính sách kinh tế xanh.

Gia đình, cộng đồng và các tổ chức tình nguyện tham gia vào thực hiện chính sách kinh tế xanh, vận động nhân dân thay đổi lối sống xanh, tiêu dùng xanh. Các tổ chức dựa vào cộng đồng cần tham gia vào thực hiện chính sách kinh tế xanh.

Tạo ra thị trường (tạo lập thị trường mới) liên thông quốc tế đối với hành hóa, sản phẩm xanh, thị trường các bon, thị trường khoa học công nghệ xanh,…

Tái cơ cấu các tổ chức chính phủc phụ trách công tác xây dựng chính sách, thực hiện chính sách kinh tế xanh theo các ngành kinh tế

PGS.TS. Đỗ Phú Hải, Đinh Thị Hải, Hồ Thị Ngọc Hà, Phạm Thị Thanh Hảo, Tống Thị Nhuần.
Bộ môn Chính sách công, Khoa QTH, Đại học Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

  1. Vũ Tuấn Anh, 2015. Tiến tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam. Xanh hóa sản xuất, nxb. Khoa học xã hội, H. 2015.
  2. Đỗ Phú Hải (2018), “Những vấn đề lý luận về phát triển bền vững và kinh tế xanh ở Việt Nam”. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Chính sách và Quản lý, Tập 34, Số 2 (2018) 29-39.
  3. Đỗ Phú Hải (2014). “Chính sách biến đổi khí hậu”. Tạp chí Socio-economic Journal, VASS 4/2014.
  4. Howlett (2003). “Studying public policy”. Oxford University Press pp87-116.
  5. Nguyễn Danh Sơn (2014).“Các yếu tố tác động tới nông nghiệp, nông thôn và nông dân vùng Tây Nguyên nhìn từ góc độ phát triển bền vững”. Số 2(14)/2014. Tạp chí Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên.
  6. Nguyễn Song Tùng và Trần Ngọc Ngoạn (2014). Phát triển kinh tế xanh trong nông nghiệp ở Việt Nam, Một số vấn đề lý luận và thực tế. Chủ biên, nxb. Khoa học xã hội, H. 2014, trang 121-126.
  7. Trần Ngọc Ngoạn (2016). Chính sách thúc đẩy tăng trưởng xanh. Kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam, nxb. Khoa học xã hội, H. 2016.
  8. Bộ TNMT (2012). “Kỷ yếu Hội thảo “Kinh tế xanh và Phát triển bền vững”. Bộ TNMT, UBND tỉnh Quảng Ninh và Tổng Liên đoàn lao động VN tổ chức tháng 6/2012 tại Tp. Hạ Long.
  9. Green Growth in OECD countries: http://www.oecd.org/greengrowth/
  10. OECD (2011), “Tools for Delivering on Green Growth”. This document accompanies the publications Towards Green Growth and Towards Green Growth: Monitoring Progress – OECD Indicators. Page 5.
  11. Sustainable development framework in UNs:
  12. https://sustainabledevelopment.un.org/content/documents/8506IASD%20Workshop%20Report%2020150703.pdf
  13. UNEP (2011). “Hướng tới Nền kinh tế Xanh – Lộ trình cho PTBV và xóa đói giảm nghèo, 2011”. Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường. 107.
  14. World Bank (2006). “World Development Report 2006 – Equity and Development”.
  15. World Bank (2000). “Greening Industry: New Roles for Communities, Markets and Governments”. Bộ KHCN và MT Việt Nam Chu Tuấn Nhạ và Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Andrew Steer. 78.