Thứ Hai, Tháng 5 11, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Phản bác các luận điệu sai trái nhằm xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh và nền tảng tư tưởng của Người



ĐNA -

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng rõ nét, Nhà nước của dân, do dân và vì dân tiếp tục được khẳng định. Để đạt được những thành tựu đổi mới và cuộc sống ấm no, hạnh phúc hôm nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn kiên định học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không ngừng dùng nhiều thủ đoạn nhằm “bóp méo”, “xuyên tạc” Chủ tịch Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người, dù những giá trị lịch sử và thời đại ấy vẫn là nền tảng giúp dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thành tựu công cuộc đổi mới dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh và những luận điểm sai trái, chống phá cách mạng của thế lực thù địch
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, những thành tựu đạt được sau gần 40 năm đổi mới đã và đang tạo nên vị thế mới cho đất nước, đặc biệt là uy tín chính trị và vai trò đối ngoại ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế. Thực tiễn phát triển đất nước đã minh chứng rõ nét cho hiệu quả của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Năm 2023, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 430 tỷ USD, đứng thứ 35 thế giới và thứ 5 trong khu vực ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt gần 4.300 USD, tăng gấp 58 lần sau ba thập kỷ. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% theo chuẩn cũ năm 1993 xuống còn 2,93% vào năm 2023 theo chuẩn nghèo đa chiều với tiêu chí cao hơn trước.

Bên cạnh đó, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn duy trì ở mức khá cao so với khu vực và thế giới. Năng suất lao động không ngừng được cải thiện, giai đoạn 2016–2020 tăng 6,05%, giai đoạn 2021–2023 tăng 8,94%. Động lực tăng trưởng ngày càng dựa nhiều hơn vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Mức đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng kinh tế liên tục gia tăng, từ 34,75% ở giai đoạn 2011–2015 lên 46,04% trong giai đoạn 2016–2020 và đạt 37,61% giai đoạn 2021–2023. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao rõ rệt.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được khẳng định rõ nét. Nhà nước của dân, do dân và vì dân tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện trên nền tảng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo đảm thực hiện vững chắc nguyên tắc: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Đây chính là cơ sở quan trọng để củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của dân tộc.

Để đạt được những thành tựu đổi mới cùng cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân hôm nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn kiên định học tập, nghiên cứu và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tư tưởng của Người không chỉ mang giá trị lịch sử sâu sắc mà còn có ý nghĩa thời đại to lớn, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giúp dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách sử dụng những thủ đoạn và luận điệu xuyên tạc nhằm “bóp méo” hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và phủ nhận giá trị tư tưởng của Người. Tuy nhiên, bằng thực tiễn phát triển đất nước và những thành tựu đạt được, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định sức sống bền vững và giá trị to lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam hiện nay.

Các vấn đề thường xuyên bị bóp méo và xuyên tạc về Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người
Vấn đề của tính kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh: Các thế lực thù địch thường xuyên đưa ra luận điệu cho rằng cách mạng Việt Nam chỉ phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh, còn chủ nghĩa Mác – Lênin là “yếu tố ngoại lai”, không phù hợp với điều kiện Việt Nam. Từ đó, họ cố tình đặt tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là quan điểm sai trái, xuyên tạc nghiêm trọng mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Xét về hình thức, những luận điệu này dường như đang đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách đưa tư tưởng của Người lên cao hơn chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời sử dụng những lời lẽ ca ngợi công lao, cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, bản chất của âm mưu đó là nhằm tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin, qua đó phủ nhận cơ sở lý luận quan trọng nhất hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh chính là chủ nghĩa Mác – Lênin. Mục đích sâu xa của họ là phủ nhận thế giới quan và phương pháp luận khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó tiến tới phủ định bản chất cách mạng và khoa học của toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trước những luận điệu xuyên tạc đó, cần khẳng định rõ rằng con đường cách mạng do chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra, tức con đường cách mạng vô sản thực hiện đồng thời ba nhiệm vụ giải phóng: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người trong một chỉnh thể thống nhất, chính là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn cho dân tộc Việt Nam. Người lựa chọn con đường này bởi đây là con đường duy nhất có thể mang lại độc lập, tự do và hạnh phúc thực sự cho mọi người dân, không phân biệt giàu nghèo, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giới tính hay địa vị xã hội. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để thực hiện triệt để sự nghiệp giải phóng dân tộc gắn liền với xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa.

Trong quá trình tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp cận nhiều học thuyết và con đường cách mạng khác nhau. Tuy nhiên, Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Điều đó cho thấy sự lựa chọn của Người không phải là sự tiếp thu máy móc, mà là kết quả của quá trình khảo nghiệm thực tiễn, tiếp thu có chọn lọc và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam.

Đối với tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin giữ vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho chiến lược và hành động của cách mạng Việt Nam. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Người nhấn mạnh: “Chủ nghĩa Mác – Lênin làm gốc”; “Chủ nghĩa Mác – Lênin là kim chỉ nam cho hành động”; “Chủ nghĩa Mác – Lênin là chủ nghĩa cách mạng và khoa học nhất”; đồng thời khẳng định đó là “ngọn đuốc soi sáng con đường cho dân tộc chúng tôi tiến tới tương lai tươi sáng”. Người còn ví chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là “cẩm nang thần kỳ”, là “kim chỉ nam”, mà còn là “mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác – Lênin có mối quan hệ thống nhất, gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Vì vậy, mọi âm mưu đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin đều là những luận điệu sai trái, phản khoa học và cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Các nội dung bóp méo và xuyên tạc Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người về giải phóng dân tộc và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội: Các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc bản chất của cách mạng Việt Nam nhằm gây chia rẽ khối đoàn kết quốc tế, cô lập Việt Nam trên trường quốc tế và quy chụp Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa Sô vanh. Để thực hiện âm mưu đó, chúng cố tình bóp méo tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Người chỉ theo đuổi mục tiêu giải phóng dân tộc và “lợi dụng” chủ nghĩa xã hội như một “vỏ bọc” chính trị nhằm phục vụ riêng cho lợi ích dân tộc Việt Nam. Đây là luận điệu sai trái, xuyên tạc bản chất cách mạng và nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Để phản bác những luận điệu này, cần khẳng định rõ nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và con đường cách mạng Việt Nam. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc không chỉ là giành độc lập cho Tổ quốc mà còn phải đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Mục tiêu ấy thống nhất chặt chẽ với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột và bất công. Vì vậy, độc lập dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh không tách rời chủ nghĩa xã hội mà luôn gắn bó hữu cơ với nhau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng giải phóng dân tộc không phải là hành động tự phát, càng không phải là sự ban phát của bất kỳ thế lực nào. Muốn giải phóng dân tộc thành công phải tổ chức được phong trào đấu tranh tự giác của quần chúng nhân dân, có sự hy sinh, đoàn kết và lãnh đạo đúng đắn của một chính đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác – Lênin, đó là Đảng Cộng sản. Chính vì vậy, trong tư tưởng của Người, giải phóng dân tộc luôn gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người.

Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện xuyên suốt trong các bài viết, bài phát biểu và những văn kiện lịch sử quan trọng của cách mạng Việt Nam. Trong “Tuyên ngôn Độc lập” năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Lời tuyên bố đanh thép đó không chỉ thể hiện khát vọng độc lập của dân tộc Việt Nam mà còn góp phần khẳng định quyền tự do, quyền sống của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Tiếp đó, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định ý chí bảo vệ độc lập dân tộc bằng tuyên ngôn bất hủ: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người một lần nữa nhấn mạnh chân lý thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đồng thời, Hồ Chí Minh còn khẳng định cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam không chỉ vì độc lập của dân tộc mình mà còn vì trách nhiệm đối với phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Điều đó cho thấy cách mạng Việt Nam luôn gắn bó với phong trào cách mạng thế giới, hoàn toàn không mang tư tưởng dân tộc hẹp hòi hay chủ nghĩa Sô vanh như các thế lực thù địch xuyên tạc.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng con đường giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của dân tộc Việt Nam. Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ không chỉ là cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc Việt Nam mà còn góp phần cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho nền độc lập dân tộc được giữ vững và phát triển bền vững. Vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”.

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vừa thể hiện tính dân tộc sâu sắc, vừa mang giá trị nhân văn và ý nghĩa quốc tế to lớn. Mọi luận điệu cho rằng Hồ Chí Minh chỉ theo đuổi chủ nghĩa dân tộc đơn thuần hay “lợi dụng” chủ nghĩa xã hội đều là những sự xuyên tạc sai trái, phản khoa học và cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Luận điệu xuyên tạc thường đặt nghi vấn đối với giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam : Các thế lực thù địch thường xuyên đưa ra luận điệu cho rằng việc gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn cho cách mạng Việt Nam là không còn phù hợp hoặc không có giá trị trong bối cảnh hiện nay. Đây là quan điểm sai trái, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của cách mạng Việt Nam nhằm phủ nhận con đường phát triển mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Để phản bác luận điệu này, cần khẳng định rằng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, đồng thời mang lại những giá trị lý luận và thực tiễn vô cùng to lớn. Cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, trong đó độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt và nhất quán. Đây không chỉ là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam mà còn trở thành tài sản tinh thần vô giá của dân tộc và nhân dân Việt Nam.

Trải qua dòng chảy lịch sử, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh không những không thay đổi mà còn tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cho đến công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn giữ vai trò là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam. Thực tiễn phát triển đất nước đã chứng minh rằng chỉ có đi lên chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm vững chắc độc lập dân tộc, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân và hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Sự kế thừa và phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng, từ Cương lĩnh chính trị, chiến lược phát triển đất nước cho đến các nghị quyết, chỉ thị của Đảng qua các kỳ Đại hội. Các văn kiện này đều khẳng định kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, coi đây là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Điều đó cho thấy tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị lịch sử mà còn mang ý nghĩa thời đại sâu sắc, tiếp tục là cơ sở lý luận vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng được thể hiện rõ thông qua nhiều chủ trương, nghị quyết và cuộc vận động lớn của Đảng và Nhà nước. Tiêu biểu như Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị khóa XI “Về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; và Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW. Những chủ trương này đã và đang được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, góp phần củng cố niềm tin vào con đường cách mạng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

Như vậy, việc gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội không chỉ là sự lựa chọn đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lịch sử mà còn là chân lý được kiểm nghiệm bằng thực tiễn cách mạng Việt Nam. Mọi âm mưu phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đều là những luận điệu sai trái, phản khoa học và cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Luận điểm sai trái, bóp méo rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một nhà tư tưởng: Các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách hạ thấp vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, đồng thời xuyên tạc và phủ nhận những giá trị to lớn trong tư tưởng mà Người đã để lại cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Một trong những luận điệu sai trái thường được chúng đưa ra là cho rằng các bài viết, bài nói và phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh không đủ cơ sở để hình thành một hệ tư tưởng vì không mang tính “kinh điển”, thiếu màu sắc lý luận hàn lâm hay chiều sâu học thuật như các học thuyết phương Tây.

Một số quan điểm còn dựa trên cách tiếp cận học thuật tư sản để phủ nhận vai trò tư tưởng của Người, cho rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một nhà tư tưởng. Đây là nhận thức phiến diện, mang động cơ xuyên tạc và cố tình đánh đồng giá trị của một hệ tư tưởng với hình thức biểu đạt mang tính kinh viện, xa rời thực tiễn. Thực chất, tư tưởng Hồ Chí Minh không nằm ở sự cầu kỳ về câu chữ hay hệ thống lý luận khô cứng, mà ở chiều sâu tư duy, giá trị khoa học, tính cách mạng và khả năng định hướng thực tiễn cách mạng Việt Nam. Chính hệ thống quan điểm toàn diện, nhất quán và được kiểm nghiệm bằng thực tiễn cách mạng đã khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng lớn, một nhà lý luận kiệt xuất của cách mạng Việt Nam.

Đây là quan điểm phiến diện, sai trái và thiếu cơ sở khoa học. Việc đánh giá một nhà tư tưởng không thể chỉ dựa vào hình thức diễn đạt hay mức độ hàn lâm của câu chữ, mà quan trọng hơn phải dựa trên giá trị lý luận, khả năng định hướng thực tiễn và sức ảnh hưởng đối với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội. Một hệ tư tưởng chân chính không tồn tại ở sự cầu kỳ về ngôn ngữ mà ở khả năng phản ánh đúng quy luật vận động của xã hội, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và dẫn dắt phong trào cách mạng đi đến thắng lợi.

V.I. Lê-nin từng khẳng định: “Một người xứng đáng là nhà tư tưởng khi nào biết giải quyết trước người khác tất cả những vấn đề chính trị – sách lược, các vấn đề về tổ chức, về những yếu tố vật chất của phong trào không phải một cách tự phát”. Xét trên tiêu chí đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn toàn xứng đáng được khẳng định là một nhà tư tưởng thiên tài, một nhà lý luận kiệt xuất của cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

Tư tưởng của Người không chỉ dừng lại ở việc nhận thức đúng đắn quy luật phát triển của xã hội Việt Nam trong thời đại mới mà còn trực tiếp soi đường, định hướng và tổ chức thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Đồng thời, tư tưởng Hồ Chí Minh còn góp phần bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện các nước thuộc địa, mở ra con đường đấu tranh giải phóng cho nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới. Điều đó chính là minh chứng rõ ràng và thuyết phục nhất khẳng định giá trị tư tưởng, tầm vóc lý luận và ảnh hưởng lịch sử to lớn của Chủ tịchHồ Chí Minh.

Giá trị tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không nằm ở những câu chữ cầu kỳ hay những lập luận mang tính hàn lâm thuần túy, mà nằm ở chiều sâu nội dung, ở khả năng kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người đã kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tư tưởng của Người chứa đựng khát vọng cháy bỏng về độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam dưới ách đô hộ thực dân, khi phần lớn nhân dân còn chịu cảnh mù chữ do chính sách nô dịch văn hóa của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn cách diễn đạt giản dị, dễ hiểu, gần gũi với quần chúng. Chính sự mộc mạc ấy lại làm nên sức sống mạnh mẽ trong tư tưởng của Người. Những bài viết, bài nói và tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ giàu tính lý luận mà còn thấm đẫm triết lý nhân sinh, tinh thần nhân văn, tư tưởng thân dân và khát vọng giải phóng con người. Người luôn thể hiện sự thống nhất giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách; giữa lý luận và thực tiễn; giữa tri thức và hành động; giữa lời nói và việc làm.

Không chỉ dừng lại ở phương diện lý luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người trực tiếp tổ chức, lãnh đạo và hiện thực hóa tư tưởng cách mạng vào thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc. Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin để lãnh đạo thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, đồng thời góp phần cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa trên thế giới. Những tư tưởng và đường lối mà Người đề ra hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng của quần chúng nhân dân bị áp bức và từ thực tiễn cách mạng Việt Nam. Chính điều đó đã tạo nên sức sống bền vững và giá trị lịch sử to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Vì vậy, hoàn toàn có cơ sở để khẳng định rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đó là một học thuyết mang tính khoa học và cách mạng, có nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng nhất quán, phản ánh ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Tư tưởng ấy được hình thành theo quy luật phát triển của lịch sử, đồng thời quay trở lại cải biến thực tiễn, tạo nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam, góp phần làm nên những biến chuyển sâu sắc trong phong trào cách mạng thế giới.

Do đó, mọi luận điệu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp vai trò của Người hoặc cho rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng đều là những quan điểm sai trái, phản khoa học và mang động cơ chính trị thù địch. Những luận điệu ấy cần phải được nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh bác bỏ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam hiện nay và mai sau.

Luận điểm xuyên tạc cho rằng tư tưởng của Người chỉ là sự sao chép nguyên bản, áp dụng khiên cưỡng chủ nghĩa Mác – Lê-nin hoặc “đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin”. Trong tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân ở các nước thuộc địa. Người cho rằng mâu thuẫn dân tộc ở các nước thuộc địa cần phải được giải quyết trước hết và triệt để thông qua cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn giải quyết tận gốc sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân thì các dân tộc bị áp bức phải đứng lên tiến hành một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ triệt để dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản. Đây là sự phát triển sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại nhiều công trình, bài viết và tác phẩm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc về chủ nghĩa thực dân, tiêu biểu như “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Thông qua những tác phẩm đó, Người không chỉ vạch trần bản chất áp bức, bóc lột và phản nhân đạo của chủ nghĩa thực dân mà còn thức tỉnh tinh thần đấu tranh của các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới. Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc đã góp phần bổ sung và phát triển lý luận cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và thực dân.

Từ sự vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, đưa dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành độc lập và từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam không chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc Việt Nam mà còn tạo động lực, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới. Điều đó tiếp tục khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với phong trào cách mạng thế giới.

Khẳng định “Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng” không chỉ là sự ghi nhận của nhân dân Việt Nam mà còn là đánh giá khách quan của nhiều học giả chân chính trên thế giới, những người coi trọng vai trò của lý luận đối với thực tiễn cách mạng. Những học giả này nhìn nhận rằng lý luận chân chính không phải là lý luận giáo điều, sáo rỗng, mà phải xuất phát từ thực tiễn, phục vụ thực tiễn và được kiểm nghiệm bằng thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là hiện thân tiêu biểu cho sự thống nhất giữa lý luận và hành động cách mạng.

Người đã trở thành một nhà tư tưởng, nhà lý luận lỗi lạc bởi khả năng vận dụng sáng tạo phương pháp luận duy vật lịch sử để giải quyết những vấn đề thực tiễn của xã hội Việt Nam và các dân tộc thuộc địa. Tư tưởng của Người mang tính lý luận sâu sắc nhưng đồng thời giàu tính thực tiễn, bởi toàn bộ hệ thống quan điểm ấy đều được kiểm nghiệm trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Từ thực tiễn đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm và định hướng có giá trị đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.

Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam mà còn có giá trị thời đại sâu sắc, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận cách mạng của nhân loại. Những luận điệu phủ nhận vai trò tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh hay cho rằng Người không phải là nhà tư tưởng đều là những quan điểm sai trái, thiếu căn cứ khoa học và cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

 Luận điểm nghi ngờ về việc có hay không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội được thể hiện sâu sắc và nhất quán trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, đặc biệt được kết tinh rõ nét trong bản Di chúc lịch sử. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc đến cụm từ “chủ nghĩa xã hội”, thể hiện niềm tin, mục tiêu và khát vọng lớn lao đối với con đường phát triển của dân tộc Việt Nam. Người căn dặn Đảng phải chăm lo đào tạo thế hệ trẻ trở thành “những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa ‘hồng’ vừa ‘chuyên’”. Đồng thời, Người nhấn mạnh việc lựa chọn và đào tạo những chiến sĩ trẻ ưu tú thành lực lượng nòng cốt “trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Người cũng bày tỏ mong muốn được “thay mặt nhân dân đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa và các nước bầu bạn khắp năm châu”. Những lời căn dặn ấy cho thấy chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu chính trị mà còn là lý tưởng xuyên suốt trong tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tư duy chiến lược và tầm nhìn xa rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội còn được thể hiện ở tinh thần đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước chứa đựng trong toàn bộ bản Di chúc. Người khẳng định mục tiêu cốt lõi của chủ nghĩa xã hội là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Khát vọng về một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh cũng được Người thể hiện sâu sắc khi khẳng định: “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Đó không chỉ là mong ước của riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn là khát vọng chung của cả dân tộc Việt Nam.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là con đường xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn, nơi con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột và bất công; nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đất nước phát triển bền vững và tiến bộ. Vì vậy, mục tiêu độc lập dân tộc luôn gắn chặt với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho nền độc lập dân tộc được giữ vững và phát triển lâu dài.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch lại cố tình xuyên tạc rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có tư tưởng về giải phóng dân tộc mà không có tư tưởng về chủ nghĩa xã hội, bởi phần lớn cuộc đời hoạt động cách mạng của Người gắn với nhiệm vụ đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước. Đây là quan điểm sai trái, phiến diện và phủ nhận toàn bộ hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh.

Trên thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận thức sâu sắc bản chất áp bức, bóc lột và phản nhân đạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Chính vì vậy, Người đã lựa chọn con đường cách mạng vô sản để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng giải phóng dân tộc không chỉ nhằm đánh đổ ách thống trị của thực dân, đế quốc mà còn để xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, “giặc dốt” và mọi hình thức áp bức xã hội, từ đó xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn theo mục tiêu và lý tưởng của chủ nghĩa xã hội.

Ý nghĩa của tư tưởng này không chỉ giới hạn trong phạm vi Việt Nam mà còn mang giá trị thời đại sâu sắc đối với phong trào cách mạng thế giới. Cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột, bất công, nghèo đói và lạc hậu luôn là khát vọng chung của các dân tộc trên thế giới. Vì vậy, tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội chính là cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.

Đối với cách mạng Việt Nam, đây là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn và là bước phát triển sáng tạo trong lý luận cách mạng. Tư tưởng ấy đã mở ra con đường, mục tiêu và phương thức phát triển phù hợp cho dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Thực tiễn lịch sử từ thắng lợi của các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, đến thời kỳ đổi mới và công cuộc xây dựng đất nước hiện nay đã chứng minh giá trị đúng đắn và bền vững của con đường mà Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn. Đó là tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng xã hội chủ nghĩa, đồng thời trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ bảo vệ độc lập dân tộc, giữ vững chủ quyền quốc gia và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Với những tác phẩm được tập hợp trong bộ Hồ Chí Minh Toàn tập gồm 15 tập do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản năm 2011; bộ Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử gồm 10 tập xuất bản năm 2016; cùng nhiều công trình nghiên cứu, chuyên khảo, tài liệu tham khảo của các cơ quan nghiên cứu khoa học và các học giả uy tín trong và ngoài nước về lịch sử, lịch sử Đảng, chính trị học và tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể khẳng định rằng đây là những nguồn tư liệu khách quan, toàn diện và có giá trị khoa học sâu sắc. Những tư liệu ấy, cùng với thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam, đã minh chứng rõ ràng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng lỗi lạc, một nhà lý luận kiệt xuất của cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Các bài viết, bài nói, tác phẩm và phát biểu của Người đã hình thành nên một hệ thống tư tưởng có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, có khả năng định hướng, cải biến và thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam qua nhiều giai đoạn lịch sử.

Tư tưởng Hồ Chí Minh mang sức sống bền vững và giá trị thời đại sâu sắc bởi đó là hệ thống tư tưởng thấm đẫm bản chất cách mạng, tính khoa học và giá trị nhân văn cao cả. Những luận điểm mà Người nêu ra không chỉ phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam mà còn có ý nghĩa đối với phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình, công bằng và tiến bộ xã hội trên thế giới. Thực tiễn cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ đã chứng minh giá trị đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời khẳng định việc Đảng và Nhà nước ta kiên trì học tập, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người là cơ sở quan trọng để đưa đất nước phát triển bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ giảng viên nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị, việc học tập, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là trách nhiệm chính trị mà còn là yêu cầu về đạo đức, bản lĩnh và năng lực chuyên môn. Cần tiếp tục phát huy giá trị tư tưởng của Người trong từng bài giảng, công trình nghiên cứu khoa học và trong thực tiễn công tác bằng nhiều hình thức phong phú, sáng tạo, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc. Qua đó, giữ vững nguyên tắc “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, coi đây là nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng và của cách mạng Việt Nam, không cho phép bất kỳ sự dao động hay phủ nhận nào đối với những giá trị cốt lõi ấy./.

Th.S. Nguyễn Phan Liên/Học viện Chính trị khu vực II

Tài liệu tham khảo
1.Đảng Cộng sản Việt Nam. (2001).Văn kiện Đảng Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2.Đảng Cộng sản Việt Nam. (2007).Văn kiện Đảng Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3.Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, t.II. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4.Hồ Chí Minh toàn tập (15 tập). (2011). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật.
5.Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử (10 tập). (2016). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật.
6.Website: Cơ đồ, tiềm lực và vị thế của Việt Nam sau 40 năm đổi mới.