Phát triển kinh tế xanh, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050 là định hướng chiến lược của Việt Nam nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bền vững. Trong tiến trình này, kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã, giữ vai trò quan trọng trong chuyển đổi mô hình sản xuất và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở các chủ trương của Đảng, đặc biệt là Văn kiện Đại hội XIV, chính sách, pháp luật của Nhà nước và cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 98/2023/QH15, bài viết đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã xanh tại Thành phố Hồ Chí Minh theo các tiêu chí môi trường, xã hội và quản trị (ESG); chỉ ra kết quả, khó khăn, rào cản hành chính, tài chính và đề xuất các giải pháp đột phá, khả thi, phù hợp với cơ chế đặc thù của đô thị.

Bối cảnh và yêu cầu phát triển kinh tế tập thể gắn với mục tiêu Net Zero.
Biến đổi khí hậu, gia tăng phát thải khí nhà kính, suy giảm tài nguyên và ô nhiễm môi trường đang đặt ra những thách thức lớn đối với phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trở thành yêu cầu cấp thiết. Mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050 vì thế đã trở thành định hướng phát triển và cam kết của nhiều quốc gia.
Đối với Việt Nam, thực hiện mục tiêu Net Zero vào năm 2050 không chỉ thể hiện trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế mà còn tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh, bền vững dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, phát triển kinh tế tuần hoàn và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Cùng với đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW và Luật Hợp tác xã năm 2023 tạo cơ sở chính trị, pháp lý quan trọng để phát triển kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã, theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Là trung tâm kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo lớn của cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều điều kiện để tiên phong trong chuyển đổi xanh. Đặc biệt, Nghị quyết số 98/2023/QH15 tạo thêm dư địa về thể chế và chính sách để Thành phố huy động nguồn lực cho tăng trưởng xanh, thúc đẩy các mô hình sản xuất, kinh doanh thân thiện với môi trường.
Trong tiến trình này, kinh tế tập thể có tiềm năng phát huy vai trò tổ chức sản xuất xanh, hài hòa lợi ích kinh tế của thành viên với trách nhiệm bảo vệ môi trường và cộng đồng. Tuy nhiên, khu vực này vẫn còn những hạn chế về quy mô, năng lực quản trị, khả năng kiểm kê phát thải và tiếp cận nguồn vốn xanh. Vì vậy, việc đánh giá thực trạng, xác định rõ vai trò của kinh tế tập thể và đề xuất các giải pháp phù hợp với đặc thù Thành phố Hồ Chí Minh là cần thiết nhằm phát huy hiệu quả khu vực này trong thực hiện mục tiêu Net Zero vào năm 2050.
Thực trạng phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã xanh tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thời gian qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã tích cực triển khai các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể. Dưới tác động của Nghị quyết số 20-NQ/TW (Ban Chấp hành Trung ương, 2022) và Luật Hợp tác xã năm 2023 (Quốc hội, 2023), khu vực kinh tế tập thể của Thành phố từng bước chuyển biến về chất lượng. Mặc dù tỷ trọng đóng góp trực tiếp vào GRDP còn khiêm tốn, khu vực này có vai trò quan trọng trong bảo đảm an sinh xã hội, duy trì chuỗi cung ứng nông sản, thực phẩm và tạo sinh kế bền vững cho người dân.
Trong xu thế chuyển đổi xanh, nhiều hợp tác xã đã chủ động ứng dụng công nghệ cao, phát triển nông nghiệp hữu cơ, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và sử dụng mã QR để truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Một số mô hình kinh tế tuần hoàn như tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, lắp đặt điện mặt trời áp mái theo hình thức tự sản xuất, tự tiêu thụ cũng từng bước được triển khai.
Trong các lĩnh vực phi nông nghiệp, một số hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực môi trường, vận tải, thương mại và dịch vụ đã bước đầu số hóa quy trình quản lý, ứng dụng công nghệ trong quản lý hành trình, sử dụng hóa đơn điện tử và tham gia hoạt động phân loại rác thải tại nguồn. Những chuyển biến này cho thấy kinh tế tập thể đang từng bước tiếp cận các yêu cầu của mô hình tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Để đánh giá toàn diện hơn, thực trạng phát triển kinh tế tập thể theo định hướng tăng trưởng xanh và mức độ đáp ứng các tiêu chí môi trường, xã hội và quản trị (ESG) tại Thành phố Hồ Chí Minh được tổng hợp, phân tích qua các bảng dưới đây:
Bảng 1: Khung phân tích thực trạng phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã theo định hướng tăng trưởng xanh tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguồn: Tác giả tổng hợp và phân tích trên cơ sở Nghị quyết số 20-NQ/TW (2022), Luật Hợp tác xã năm 2023, báo cáo của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Thành phố Hồ Chí Minh và UBND Thành phố
Hồ Chí Minh
Bảng 2: Đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chí của mô hình hợp tác xã xanh tại Thành phố Hồ Chí Minh theo khung ESG.

Nguồn: Tác giả xây dựng trên cơ sở khung ESG và đối chiếu với Nghị quyết số 20-NQ/TW (2022), Luật Hợp tác xã năm 2023, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 (Quyết định số 1658/QĐ-TTg), Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050 (Quyết định số 896/QĐ-TTg) và Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh giai đoạn 2024 – 2030 của Thành phố Hồ Chí Minh (Quyết định số 3797/QĐ-UBND)
Hạn chế, rào cản và nguyên nhân.
Từ thực tiễn phát triển kinh tế tập thể gắn với chuyển đổi xanh tại Thành phố Hồ Chí Minh có thể nhận diện hai nhóm rào cản chính đang ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển đổi của khu vực này.
Thứ nhất, rào cản về thể chế, chính sách và tiêu chí nhận diện hợp tác xã xanh. Hiện chưa có bộ tiêu chí thống nhất để nhận diện, phân loại và đánh giá “hợp tác xã xanh”. Khoảng trống này gây khó khăn cho các cơ quan quản lý trong việc xác định đối tượng, thẩm định mức độ đáp ứng yêu cầu về môi trường và thiết kế chính sách hỗ trợ phù hợp. Do chưa có cơ chế phân loại cụ thể, các hợp tác xã đã đầu tư vào công nghệ sạch, sản xuất tuần hoàn, tiết kiệm năng lượng hoặc giảm phát thải chưa tạo được sự khác biệt rõ ràng trong tiếp cận các chính sách hỗ trợ so với hợp tác xã thông thường. Điều này phần nào làm giảm động lực đầu tư cho chuyển đổi xanh, nhất là đối với các hợp tác xã có nguồn lực hạn chế.
Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ kinh tế tập thể hiện được triển khai qua nhiều lĩnh vực như đất đai, tín dụng, khoa học – công nghệ, đào tạo và xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận và hấp thụ chính sách của các hợp tác xã còn hạn chế. Việc chuyển các định hướng về tăng trưởng xanh thành những công cụ hỗ trợ cụ thể, phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của hợp tác xã vì vậy vẫn là vấn đề cần được giải quyết.
Thứ hai, rào cản về nguồn lực tài chính, công nghệ và quy mô tham gia thị trường các-bon. Chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu tương đối lớn cho công nghệ, thiết bị, quy trình sản xuất, hệ thống dữ liệu và nhân lực. Trong khi đó, phần lớn hợp tác xã có quy mô vốn và năng lực tích lũy còn hạn chế, khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng xanh chưa cao. Đây là một trong những trở ngại trực tiếp đối với việc mở rộng các mô hình sản xuất ít phát thải.
Khó khăn này càng rõ khi xem xét khả năng tham gia thị trường các-bon. Về nguyên tắc, tín chỉ các-bon có thể tạo thêm nguồn thu, góp phần bù đắp một phần chi phí đầu tư giảm phát thải. Tuy nhiên, để hình thành tín chỉ có khả năng giao dịch, các chủ thể phải đáp ứng những yêu cầu về đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV), xây dựng dữ liệu phát thải và chứng minh kết quả giảm hoặc hấp thụ phát thải. Những yêu cầu này phát sinh chi phí kỹ thuật và quản lý đáng kể. Với quy mô sản xuất nhỏ, phân tán và nguồn lực hạn chế, việc từng hợp tác xã tự xây dựng và vận hành một dự án các-bon riêng lẻ khó bảo đảm hiệu quả kinh tế. Vì vậy, hạn chế về quy mô không chỉ ảnh hưởng đến năng lực đầu tư mà còn làm tăng chi phí giao dịch trên mỗi đơn vị tín chỉ, thu hẹp khả năng tham gia thị trường các-bon của hợp tác xã.
Những hạn chế trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, chuyển đổi xanh và thực hiện mục tiêu Net Zero là quá trình dài hạn, đòi hỏi nguồn vốn lớn, công nghệ phù hợp, dữ liệu đáng tin cậy và nguồn nhân lực có chuyên môn. Trong khi đó, các hợp tác xã còn phải đối mặt với biến động thị trường, tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu và sức ép cạnh tranh, làm hạn chế khả năng dành nguồn lực cho đầu tư dài hạn.
Về chủ quan, nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện chuyển đổi xanh của một bộ phận cán bộ quản lý, thành viên hợp tác xã còn hạn chế; tư duy và phương thức quản trị chưa theo kịp yêu cầu của chuyển đổi số và kinh tế xanh. Năng lực xây dựng phương án sản xuất, quản trị dữ liệu, đổi mới công nghệ, kiểm kê phát thải và tiếp cận các nguồn tài chính mới còn chưa đồng đều. Đồng thời, sự liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, cơ sở nghiên cứu, đơn vị tư vấn và cơ quan quản lý chưa đủ chặt chẽ để hình thành hệ sinh thái hỗ trợ chuyển đổi xanh hiệu quả.
Nhìn tổng thể, kinh tế tập thể tại Thành phố Hồ Chí Minh đang từng bước chuyển từ phương thức phát triển truyền thống sang mô hình dựa nhiều hơn vào đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh. Những mô hình sản xuất an toàn, ứng dụng công nghệ, kinh tế tuần hoàn và tiết kiệm tài nguyên đã tạo nền tảng ban đầu cho quá trình này. Tuy nhiên, chuyển đổi xanh trong khu vực hợp tác xã vẫn ở giai đoạn đầu, chưa đồng đều và chưa tạo thành xu hướng phổ biến. Các điểm nghẽn về thể chế, nguồn vốn, công nghệ, nhân lực và quy mô sản xuất cho thấy tiềm năng của hợp tác xã xanh chưa được khai thác đầy đủ.
Do đó, để kinh tế tập thể đóng góp hiệu quả hơn vào tăng trưởng xanh và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, vấn đề đặt ra không chỉ là hỗ trợ từng hợp tác xã chuyển đổi phương thức sản xuất, mà còn cần xây dựng một hệ sinh thái đủ khả năng kết nối chính sách, tài chính, công nghệ, dữ liệu và thị trường. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã xanh phù hợp với điều kiện và cơ chế đặc thù của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới.
Giải pháp phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã xanh tại Thành phố Hồ Chí Minh góp phần thực hiện Chiến lược Net Zero 2050.
Để khắc phục các rào cản trong thực tiễn và phát huy tối đa tính ưu việt về chính trị – xã hội của khu vực kinh tế tập thể, Thành phố Hồ Chí Minh cần tận dụng hiệu quả thẩm quyền đặc thù từ Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội (Quốc hội, 2023a), qua đó triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp mang tính đột phá về thể chế sau đây:
Một là, hoàn thiện thể chế đặc thù, thí điểm tích hợp chứng nhận xanh bằng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox). Thay vì chờ đợi một bộ tiêu chí chung ở cấp quốc gia vốn cần nhiều thời gian để xây dựng, Thành phố Hồ Chí Minh cần chủ động sử dụng cơ chế thử nghiệm Sandbox được trao quyền tại Nghị quyết số 98/2023/QH15 (Quốc hội, 2023a). Theo đó, kiến nghị Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành quy định thí điểm về “Tích hợp các chỉ số xanh và ESG vào quy trình phân hạng, đánh giá hợp tác xã kiểu mới” theo Luật Hợp tác xã năm 2023 (Quốc hội, 2023).
Bộ tiêu chí đặc thù này không hoạt động độc lập như một thủ tục hành chính mới mà được lồng ghép trực tiếp vào thang điểm thi đua và phân hạng hợp tác xã hằng năm của Thành phố. Việc đáp ứng các chỉ số xanh về tỷ lệ tuần hoàn chất thải, tiết kiệm năng lượng và bảo đảm sinh kế công bằng cho thành viên sẽ là điều kiện tiên quyết, bắt buộc để hợp tác xã được tiếp cận các gói hỗ trợ công của địa phương.
Hai là, khai thông điểm nghẽn tài chính thông qua đòn bẩy vốn đặc thù từ Nghị quyết số 98/2023/QH15. Đây là giải pháp cốt lõi nhằm giải quyết bài toán thiếu tài sản thế chấp của các hợp tác xã. Theo đó, kiến nghị Thành phố ban hành chính sách đặc thù hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn từ nguồn ngân sách Thành phố đối với các dự án đầu tư chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và năng lượng tái tạo của các hợp tác xã. Dòng vốn này được ủy thác thực hiện thông qua Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh (HFIC) – định chế tài chính công đặc thù của Thành phố (Quốc hội, 2023a).
Đồng thời, cho phép các hợp tác xã sử dụng các tài sản hình thành từ dự án xanh, như quyền sử dụng đất nông nghiệp liên kết dài hạn, hệ thống nhà màng đạt chuẩn hoặc hợp đồng bao tiêu sản phẩm xanh, làm tài sản bảo đảm hoán đổi. Biện pháp này góp phần giảm áp lực tài chính, tạo đòn bẩy để triển khai các kế hoạch hiện đại hóa công nghệ xanh trong khu vực kinh tế tập thể.
Ba là, xây dựng cơ chế trung gian tập hợp tài sản các-bon, thay thế mô hình tiếp cận đơn lẻ. Để khắc phục hạn chế về quy mô nhỏ và chi phí đo lường, báo cáo, thẩm định (MRV) cao của các hợp tác xã, Thành phố cần chuyển từ việc thúc đẩy từng hợp tác xã tham gia thị trường tín chỉ các-bon một cách đơn lẻ sang cơ chế tập hợp quy mô lớn. Theo đó, đề xuất thành lập Định chế trung gian quản trị tài sản các-bon cho khu vực kinh tế tập thể, dưới sự điều phối trực tiếp của Liên minh Hợp tác xã Thành phố, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường.
Định chế này có chức năng tập hợp diện tích rừng, vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ và lượng giảm phát thải của các hợp tác xã thành viên thành một gói tài sản các-bon tập trung có quy mô lớn. Chi phí đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV) ban đầu sẽ được ngân sách Thành phố hỗ trợ chi trả thông qua nguồn thu từ thuế, phí môi trường đặc thù của địa phương.
Khi gói tín chỉ các-bon tập trung được thương mại hóa thành công trên sàn giao dịch, nguồn thu sẽ được phân phối lại công bằng cho các hợp tác xã thành viên dựa trên mức độ đóng góp giảm phát thải thực tế, qua đó tạo động lực kinh tế trực tiếp cho người lao động.
Bốn là, củng cố bản chất tiến bộ của quan hệ sản xuất thông qua quản trị ESG hiện đại. Quá trình chuyển đổi xanh cần gắn với việc phát huy các giá trị cốt lõi của kinh tế tập thể, đặc biệt là tính nhân văn và quyền làm chủ của người lao động. Thành phố cần tổ chức các chương trình đào tạo bắt buộc nhằm nâng cao năng lực cho ban điều hành hợp tác xã về khung quản trị ESG tích hợp rủi ro khí hậu.
Đồng thời, cần hướng dẫn các hợp tác xã xây dựng cơ chế công khai, minh bạch thông tin, bảo đảm phân chia lợi ích hài hòa và ngăn chặn xu hướng tư nhân hóa ẩn danh dưới danh nghĩa hợp tác xã. Việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội và môi trường là nền tảng để củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đồng thời giúp hợp tác xã xanh khẳng định vai trò là chỗ dựa sinh kế tin cậy cho người lao động trước các cú sốc sinh thái đô thị.
Năm là, thúc đẩy liên kết đa chủ thể gắn với chuyển đổi số toàn diện.Chuyển đổi số cần đóng vai trò là hạ tầng kỹ thuật phục vụ quá trình chuyển đổi xanh. Theo đó, cần hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng công nghệ số dùng chung, như nền tảng Blockchain phục vụ truy xuất nguồn gốc và phần mềm tối ưu hóa logistics đô thị do Trung tâm Chuyển đổi số Thành phố cung cấp.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy mạnh mẽ mô hình liên kết “5 nhà” (Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp – Hợp tác xã – Nông dân). Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế đặc thù; doanh nghiệp đầu chuỗi chịu trách nhiệm bao tiêu sản phẩm xanh; các viện nghiên cứu, trường đại học trên địa bàn hỗ trợ chuyển giao các giải pháp kỹ thuật tuần hoàn có chi phí thấp, phù hợp với quy mô của hợp tác xã.
Phát triển kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã xanh, không chỉ góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, mà còn mang ý nghĩa kinh tế – chính trị sâu sắc trong việc củng cố nền tảng kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước (Ban Chấp hành Trung ương, 2022; Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu cần có những bước đi chủ động, đột phá, vượt khỏi tư duy quản lý hành chính thông thường, đồng thời phát huy hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù từ Nghị quyết số 98/2023/QH15.
Việc thí điểm cơ chế Sandbox tích hợp chứng nhận xanh, khai thông nguồn vốn hỗ trợ lãi suất thông qua HFIC và xây dựng định chế trung gian tập hợp tài sản các-bon là những giải pháp có thể góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính và quy mô của khu vực kinh tế tập thể. Nếu được triển khai đồng bộ và hiệu quả, các giải pháp này sẽ tạo động lực thúc đẩy hợp tác xã chuyển đổi theo hướng xanh, hiện đại và bền vững; qua đó đóng góp vào sự phát triển nhanh, bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh, củng cố vai trò đầu tàu kinh tế và tiên phong trong quá trình chuyển đổi xanh, hướng tới mục tiêu Net Zero vào năm 2050.
ThS. Đào Duy Tùng/Học viện Chính trị khu vực II
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV.
2. Ban Chấp hành Trung ương. (2022). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới.
3. Quốc hội. (2023). Luật Hợp tác xã năm 2023.
4. Quốc hội. (2023a). Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Thủ tướng Chính phủ. (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
6. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 896/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050.
7. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. (2024). Quyết định số 3797/QĐ-UBND ban hành Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh giai đoạn 2024 – 2030.
8. Các văn bản mới của UBND Thành phố Hồ Chí Minh về chuyển đổi xanh và tổ chức triển khai Đề án chuyển đổi xanh giai đoạn 2025 – 2035.


