Khi thiên tai cực đoan, ô nhiễm môi trường, suy thoái hệ sinh thái và các sự cố môi trường ngày càng diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến đời sống Nhân dân, môi trường không còn là câu chuyện riêng của tự nhiên mà đã trở thành vấn đề cấp thiết đối với mỗi gia đình, cộng đồng và sự phát triển bền vững của đất nước. Trước những thách thức đó, việc phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường là yêu cầu quan trọng, trong đó sự phối hợp chặt chẽ giữa quân đội và Nhân dân giữ vai trò thiết thực trong chủ động phòng ngừa, ứng phó và khắc phục các sự cố môi trường.

Đằng sau mỗi khu dân cư ngập úng là cuộc sống của người dân bị đảo lộn; đằng sau mỗi nguồn nước ô nhiễm là nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng; đằng sau mỗi cánh rừng bị tổn thương là những hệ lụy đối với hệ sinh thái và sinh kế của người dân. Bởi vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là bảo vệ thiên nhiên, mà trước hết là bảo vệ sự sống, chất lượng cuộc sống và tương lai phát triển bền vững của con người.
Với tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm, khả năng cơ động, huy động lực lượng và phương tiện nhanh chóng, cùng mối quan hệ gắn bó với Nhân dân và địa bàn, Quân đội có nhiều lợi thế trong tham gia phòng ngừa, ứng phó và khắc phục các sự cố môi trường. Tuy nhiên, đây không phải là nhiệm vụ của riêng Quân đội mà đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cấp ủy, chính quyền, các lực lượng chức năng và toàn thể Nhân dân. Trong đó, phối hợp quân – dân chính là yếu tố quan trọng để phát huy sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường.
Vấn đề cốt lõi là phải đưa sự phối hợp ấy từ hoạt động ứng phó khi có tình huống xảy ra thành cơ chế hành động chủ động, thường xuyên, xuyên suốt từ phòng ngừa, sẵn sàng ứng phó đến khắc phục và phục hồi môi trường. Qua đó, phát huy vai trò của mỗi người dân với tư cách là một chủ thể bảo vệ môi trường, đồng thời phát huy trách nhiệm của người lính không chỉ trong những thời điểm khó khăn, khẩn cấp mà cả trong xây dựng môi trường sống an toàn, xanh và bền vững.

Phối hợp quân – dân: Phát huy sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ môi trường
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, phối hợp quân – dân là quá trình Quân đội cùng cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan chuyên môn và Nhân dân thống nhất trách nhiệm, huy động và tổ chức các nguồn lực nhằm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả và phục hồi môi trường trước những nguy cơ, thiên tai, ô nhiễm và sự cố môi trường. Bản chất của sự phối hợp này không phải là lực lượng này làm thay nhiệm vụ của lực lượng khác, mà là sự bổ trợ, phát huy thế mạnh và trách nhiệm của từng chủ thể trong một mục tiêu chung.
Trong đó, cần đặc biệt đề cao vai trò chủ thể của Nhân dân. Người dân không chỉ là đối tượng được bảo vệ mà còn trực tiếp tham gia bảo vệ môi trường. Với sự am hiểu địa bàn, điều kiện sinh sống và những biến đổi của môi trường xung quanh, Nhân dân có khả năng phát hiện sớm nguy cơ, chủ động phòng ngừa và tham gia xử lý các vấn đề phát sinh. Quân đội với tính tổ chức, kỷ luật, khả năng cơ động và huy động lực lượng, phương tiện sẽ phát huy tốt hơn năng lực khi kết hợp với kinh nghiệm, nguồn lực và sức mạnh tại chỗ của cộng đồng. Đó là sự phối hợp cùng hành động, cùng chia sẻ trách nhiệm, chứ không phải Quân đội làm thay Nhân dân.
Sự phối hợp quân – dân trước hết tạo điều kiện kết nối, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội. Bởi bảo vệ môi trường là nhiệm vụ đòi hỏi sự tham gia đồng thời của nhiều lực lượng, từ nhân lực, phương tiện, kinh phí, thông tin đến chuyên môn và sự đồng thuận của cộng đồng. Khi các nguồn lực được tập hợp, phân công và điều phối thống nhất, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ sẽ được nâng cao, khắc phục tình trạng hoạt động riêng lẻ, thiếu liên kết.
Quan trọng hơn, sự phối hợp này góp phần nâng cao năng lực phòng ngừa và ứng phó trước các nguy cơ môi trường. Thông qua việc trao đổi thông tin, nhận diện sớm rủi ro, chuẩn bị lực lượng, phương tiện và tổ chức hành động kịp thời, các chủ thể có thể chủ động hạn chế thiệt hại do thiên tai, ô nhiễm và sự cố môi trường, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản và sinh kế của Nhân dân.
Không chỉ mang lại hiệu quả thiết thực trong bảo vệ môi trường, mỗi hoạt động phối hợp còn góp phần củng cố tình đoàn kết, gắn bó quân – dân. Hình ảnh người lính đồng hành cùng Nhân dân trong những thời điểm khó khăn, cùng với sự chủ động tham gia, hỗ trợ của cộng đồng, sẽ tiếp tục bồi đắp niềm tin, tăng cường sự đồng thuận và phát huy sức mạnh từ lòng dân. Đây cũng là nền tảng quan trọng để xây dựng ý thức, trách nhiệm và hành động chung trong bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, nếu chỉ huy động lực lượng khi thiên tai, ô nhiễm hoặc sự cố môi trường xảy ra thì hiệu quả phối hợp vẫn chủ yếu dừng ở khâu ứng cứu, xử lý hậu quả. Yêu cầu đặt ra là phải chuyển mạnh từ tư duy ứng phó bị động sang chủ động phòng ngừa, quản trị rủi ro môi trường, với quy trình xuyên suốt: nhận diện nguy cơ, phòng ngừa, chuẩn bị lực lượng và phương tiện, tổ chức ứng phó, khắc phục hậu quả, phục hồi môi trường và nâng cao năng lực cộng đồng. Khi đó, phối hợp quân – dân không còn là những hoạt động mang tính thời điểm hay phong trào, mà trở thành phương thức hành động thường xuyên, có tổ chức và hiệu quả. Trong cơ chế ấy, Quân đội là một lực lượng quan trọng, Nhân dân là chủ thể trực tiếp tham gia, còn cấp ủy, chính quyền, các tổ chức và lực lượng chức năng giữ vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều phối và bảo đảm thực hiện.

Những biểu hiện sinh động của sức mạnh quân – dân trong bảo vệ môi trường của Bộ Tư lệnh Vùng
Sức mạnh phối hợp quân – dân trong bảo vệ môi trường không chỉ được thể hiện qua số cây xanh được trồng, lượng rác thải được thu gom hay số ngày công lao động, mà quan trọng hơn là những chuyển biến trong nhận thức và hành động của cộng đồng. Từ những việc làm thiết thực như thu gom rác thải, khơi thông dòng chảy, vệ sinh đường làng, ngõ xóm, chăm sóc cây xanh, cải tạo cảnh quan đến tuyên truyền phân loại rác tại nguồn, cán bộ, chiến sĩ cùng Nhân dân từng bước hình thành ý thức và thói quen bảo vệ môi trường. Tiêu biểu là chương trình “Đồng hành cùng ngư dân” của Cảnh sát biển Việt Nam phối hợp với các tổ chức địa phương năm 2026, góp phần xây dựng cảnh quan xanh, sạch, đẹp, đồng thời củng cố tình đoàn kết quân – dân.
Giá trị của những hoạt động này không chỉ nằm ở kết quả trước mắt mà còn ở sự chuyển biến trong ý thức cộng đồng: từ tâm lý trông chờ, ỷ lại sang chủ động tham gia và cùng chịu trách nhiệm. Khi người dân trực tiếp góp sức, những hoạt động bảo vệ môi trường không còn dừng lại ở các đợt ra quân hay phong trào nhất thời, mà từng bước trở thành việc làm thường xuyên, gắn với trách nhiệm của mỗi cá nhân và cộng đồng.
Nếu các hoạt động thường xuyên tạo nền tảng thì thiên tai, thời tiết cực đoan chính là phép thử đối với khả năng phối hợp quân – dân. Bão, mưa lớn, lũ quét, sạt lở, ngập lụt, hạn hán và cháy rừng diễn biến ngày càng phức tạp, đặt ra yêu cầu cao về khả năng chủ động phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả. Trước yêu cầu đó, Bộ Quốc phòng xác định nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng, phương tiện, điều chỉnh phương án và sẵn sàng giúp Nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn.
Trong những tình huống khẩn cấp, hình ảnh cán bộ, chiến sĩ vượt dòng nước lũ đưa người dân đến nơi an toàn, tìm kiếm người mất tích, gia cố đê điều, khơi thông đường sá, dọn dẹp nhà cửa và hỗ trợ khôi phục sản xuất thể hiện rõ vai trò của Quân đội trong bảo vệ tính mạng, tài sản và môi trường sống của Nhân dân. Hiệu quả ứng phó được nâng lên khi năng lực tổ chức, chỉ huy của Quân đội kết hợp với sự điều hành của chính quyền, kinh nghiệm của lực lượng tại chỗ và tinh thần tương trợ trong cộng đồng. Thực tiễn đó cho thấy phương châm “bốn tại chỗ” không chỉ là yêu cầu về tổ chức lực lượng, phương tiện mà còn là cách phát huy sức mạnh tổng hợp, trong đó lực lượng quân đội giữ vai trò quan trọng và Nhân dân là nguồn lực trực tiếp, tại chỗ.
Đối với các sự cố môi trường, sức mạnh phối hợp quân – dân được thể hiện ở khả năng phát hiện, cảnh báo, huy động lực lượng và tổ chức xử lý kịp thời. Quá trình ứng phó đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ từ khoanh vùng, ngăn chặn nguy cơ lan rộng đến khắc phục hậu quả và phục hồi môi trường. Vì vậy, cần có sự chuẩn bị trước về phương án, phân công trách nhiệm và cơ chế trao đổi thông tin giữa Quân đội, chính quyền, cơ quan chuyên môn và cộng đồng dân cư. Với tính tổ chức, kỷ luật và khả năng cơ động, Quân đội có thể phối hợp với các lực lượng chức năng và Nhân dân tạo nên sức mạnh ứng phó thống nhất, góp phần bảo vệ an toàn cộng đồng. Điều đó cũng cho thấy bảo vệ môi trường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiệm vụ phòng thủ dân sự và bảo đảm an toàn địa bàn.
Một lĩnh vực đặc biệt quan trọng, thể hiện chiều sâu và tính lâu dài của sự phối hợp quân – dân, là khắc phục hậu quả bom mìn, chất độc hóa học và các dạng ô nhiễm tồn lưu sau chiến tranh. Đây là nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của nhiều bộ, ngành, địa phương, lực lượng trong và ngoài Quân đội, cùng sự hợp tác của các tổ chức quốc tế. Trong giai đoạn 2021–2025, cả nước đã triển khai 21 dự án liên quan đến khắc phục hậu quả bom mìn, vật nổ; gần 188.000 ha đất được rà phá, góp phần đưa diện tích đất còn ô nhiễm bom mìn xuống khoảng 5,57 triệu ha. Cùng với hoạt động rà phá, việc nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực xử lý tiếp tục được chú trọng.
Những kết quả đó không chỉ góp phần giảm thiểu nguy cơ đối với tính mạng, sức khỏe con người mà còn từng bước trả lại những vùng đất an toàn cho sản xuất và đời sống, phục hồi môi trường, mở rộng không gian phát triển kinh tế – xã hội. Đây cũng là minh chứng cho thấy bảo vệ môi trường không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là trách nhiệm lâu dài đối với cộng đồng và các thế hệ tương lai.

Không để phối hợp quân – dân ở Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 chỉ dừng ở phong trào
Bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn phối hợp quân – dân trong bảo vệ môi trường vẫn đặt ra một số vấn đề cần được nhận diện và khắc phục để nâng cao tính thiết thực, hiệu quả và bền vững.
Trước hết, ở một số nơi, hoạt động phối hợp vẫn mang tính thời điểm, tập trung chủ yếu vào các chiến dịch, ngày môi trường, đợt phát động hoặc khi có thiên tai, sự cố xảy ra. Những hoạt động này có thể tạo hiệu ứng tích cực trước mắt, nhưng nếu thiếu cơ chế duy trì thì khó hình thành ý thức và thói quen bảo vệ môi trường trong cộng đồng. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải chuyển từ hoạt động theo đợt sang thực hiện thường xuyên, từ những ngày ra quân tập trung sang duy trì trách nhiệm bảo vệ môi trường hằng ngày.
Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp ở một số địa bàn chưa thật sự đồng bộ, thông suốt. Việc trao đổi thông tin, xác định đầu mối, phân công trách nhiệm, chuẩn bị lực lượng, phương tiện và tổ chức xử lý tình huống đôi khi còn phụ thuộc vào kinh nghiệm, sự chủ động của từng đơn vị. Điều này có thể ảnh hưởng đến tốc độ và hiệu quả ứng phó, nhất là đối với những sự cố môi trường diễn biến nhanh, phạm vi tác động rộng. Do đó, cần cụ thể hóa cơ chế phối hợp theo hướng rõ lực lượng, rõ nhiệm vụ, rõ trách nhiệm, rõ phương án và bảo đảm khả năng huy động kịp thời khi có tình huống.
Một vấn đề khác là năng lực tự phòng ngừa, ứng phó và phục hồi của cộng đồng chưa được phát huy đầy đủ. Bảo vệ môi trường không thể chỉ dựa vào lực lượng chuyên trách hay sự hỗ trợ của Quân đội mỗi khi có sự cố. Người dân cần được xác định là chủ thể trực tiếp tham gia phát hiện, giám sát, phòng ngừa và xử lý những vấn đề môi trường tại địa bàn. Muốn vậy, phải chú trọng trang bị kiến thức, kỹ năng, nâng cao khả năng tự quản và phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng tại chỗ, từng bước hình thành cộng đồng có khả năng chủ động ứng phó và phục hồi trước các nguy cơ môi trường.
Đặc biệt, công tác tuyên truyền cần đổi mới cả nội dung và phương thức, chuyển từ truyền đạt một chiều sang tổ chức, hướng dẫn và khuyến khích Nhân dân trực tiếp tham gia. Hiệu quả tuyên truyền không chỉ thể hiện ở số buổi phổ biến hay số lượng người được tiếp cận, mà quan trọng hơn là sự chuyển biến trong hành vi: không xả rác bừa bãi, chủ động phân loại rác, phát hiện và thông báo nguy cơ ô nhiễm, tích cực tham gia làm sạch địa bàn, bảo vệ nguồn nước và cảnh quan. Khi người dân thực sự trở thành chủ thể hành động, công tác tuyên truyền mới tạo được chuyển biến bền vững.
Từ những vấn đề trên, yêu cầu đặt ra đối với Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 là không chạy theo số lượng hay quy mô của các đợt phát động, mà phải chú trọng xây dựng cơ chế phối hợp thực chất, thường xuyên và có khả năng duy trì lâu dài. Phối hợp quân – dân cần được triển khai xuyên suốt từ tuyên truyền, nâng cao nhận thức, phòng ngừa, giám sát đến ứng phó, khắc phục và phục hồi môi trường; trong đó, phát huy vai trò của cán bộ, chiến sĩ gắn với sự chủ động, trách nhiệm của chính quyền, các tổ chức và Nhân dân địa phương. Chỉ khi sự phối hợp trở thành nền nếp trong hoạt động và ý thức tự giác trong cộng đồng, sức mạnh quân – dân mới thực sự được chuyển hóa thành nguồn lực bền vững, góp phần bảo vệ môi trường biển, giữ gìn an toàn địa bàn và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.

Môi trường là không gian sống chung, bảo vệ môi trường vì thế là trách nhiệm của toàn xã hội, đòi hỏi sự chung sức, đồng lòng của mọi lực lượng và mỗi người dân. Trong đó, phối hợp quân – dân có ý nghĩa quan trọng trong việc kết nối sức mạnh tổ chức, kỷ luật, khả năng cơ động, ứng phó của Quân đội với kinh nghiệm địa bàn, nguồn lực và sự tham gia chủ động của Nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong phòng ngừa, ứng phó và khắc phục các vấn đề môi trường.
Tình quân – dân trong bảo vệ môi trường không chỉ được thể hiện ở sự có mặt của người lính khi thiên tai, sự cố xảy ra, mà còn ở trách nhiệm đồng hành cùng Nhân dân từ khâu phòng ngừa, chủ động ứng phó đến khắc phục hậu quả và phục hồi môi trường. Đối với Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2, phát huy sức mạnh ấy cần gắn với việc xây dựng cơ chế phối hợp thực chất, thường xuyên, khơi dậy vai trò chủ thể của Nhân dân và nâng cao năng lực tự bảo vệ môi trường của cộng đồng. Để mỗi hoạt động phối hợp không chỉ giải quyết những vấn đề trước mắt mà còn góp phần hình thành ý thức, trách nhiệm và hành động bền vững vì môi trường.
Bảo vệ môi trường là hành trình lâu dài, không thể chỉ trông chờ vào những đợt ra quân hay sự ứng cứu khi khó khăn xảy đến. Khi người lính và Nhân dân cùng chủ động hành động, cùng chia sẻ trách nhiệm và cùng gìn giữ môi trường sống, sức mạnh quân – dân sẽ trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển an toàn, bền vững của cộng đồng, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng một Việt Nam xanh.
Thượng tá Nguyễn Quốc Dinh/Phó chính ủy Hải đoàn 21, Bộ tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương (2026), Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới, Hà Nội
2. Bộ Chính trị (2026), Chương trình hành động số 31-CTr/TW của Bộ Chính trị về “Bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới”, Hà Nội
3. Lê Huy Hải (2026), Bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong kỷ nguyên xanh, Tạp chí TTXVN điện tử ngày 17/9/2026
4. Nguyễn Trung Thắng, Hoàng Hồng Hạnh, Vũ Thị Thanh Nga, Nguyễn Ngọc Tú (2020), Một số định hướng chiến lược về bảo vệ môi trường ở nước ta trong thời gian tới, Tạp chí Công nghiệp Môi trường điện tử ngày 17/7/2020
5. Nguyễn Gia Thọ (2026), Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển xanh: Dành tối thiểu 2% ngân sách cho bảo vệ môi trường, Tạp chí Môi trường điện tử ngày 04/8/2026
Bài viết cùng chuyên mục
Kỳ 3: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đức, tài và sự nghiệp trồng người
Kỳ 1: Sự thật lịch sử – Nền tảng của ký ức và bản sắc dân tộc
Kỳ Cuối: Sách giáo khoa vì con người, vì đất nước – trách nhiệm với tương lai dân tộc
Quảng Ngãi: Vùng biên Ia Tơi nỗ lực đổi mới, không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục
“Cách mạng trắng”: Nhận diện mục tiêu và phương thức của một chiến lược chính trị
Kỳ V: Quản lý sách giáo khoa – vai trò Nhà nước và cơ chế kiểm soát quyền lực

