Thứ Bảy, Tháng 3 28, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trong thời kỳ đổi mới và hội nhập



ĐNA -

Đại hội VI (12/1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện, khẳng định cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật là đặc điểm nổi bật của thời đại, thúc đẩy mạnh mẽ lực lượng sản xuất và quá trình quốc tế hóa kinh tế. Từ đó nhấn mạnh yêu cầu cấp bách phải đưa khoa học, kỹ thuật trở thành động lực then chốt cho phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời, Đại hội chủ trương xây dựng chiến lược khoa học – công nghệ gắn với mục tiêu phát triển, mở đầu cho quá trình chuyển đổi quản lý từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo nâng tầm vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Chủ trương của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Nhằm cụ thể hóa đường lối đổi mới được đề ra tại Đại hội VI, ngày 30/3/1991, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW “Về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới”. Nghị quyết tiếp tục khẳng định quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học, kỹ thuật; theo đó, mọi ngành, mọi người đều phải tham gia nhằm nâng cao năng suất lao động, tạo ra nhiều của cải vật chất, góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Nghị quyết đồng thời xác định rõ các nhiệm vụ trước mắt của khoa học và công nghệ: tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản phục vụ việc hoàn thiện và triển khai Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng như Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ, đồng thời phát triển một số ngành khoa học – công nghệ hiện đại; xây dựng và tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ, kịp thời giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra.

Trên cơ sở những thành tựu đạt được sau hơn 4 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đại hội VII (1991) của Đảng đã đề ra các phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu về phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh vai trò then chốt của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, cũng như bảo đảm chất lượng và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Các chiến lược khoa học và công nghệ được xác định nhằm phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, từng bước vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới; đồng thời sử dụng hiệu quả và nhanh chóng nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia.

Bên cạnh đó, Đại hội VII chủ trương phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật gắn với phát triển giáo dục và văn hóa, nhằm nâng cao dân trí. Khoa học và công nghệ, cùng với giáo dục và đào tạo, được xác định là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò nền tảng và động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Đánh giá tổng quát 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội VIII (1996) của Đảng khẳng định các nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho giai đoạn 1991–1995 đã cơ bản hoàn thành, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội. Trên cơ sở đó, Đại hội xác định giai đoạn đến năm 2000 là bước phát triển đặc biệt quan trọng, tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong bối cảnh này, khoa học và công nghệ được khẳng định là động lực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; cần kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, đồng thời tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu then chốt, quyết định.

Sau 10 năm đổi mới, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đã được làm sáng tỏ, đặc biệt là những kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW về khoa học và công nghệ. Trên cơ sở đó, Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII (12-1996) đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/HNTW “Về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”.

Nghị quyết đã xác định các quan điểm chỉ đạo cơ bản về phát triển khoa học và công nghệ. Trước hết, cùng với giáo dục – đào tạo, khoa học và công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải dựa vào và gắn liền với khoa học và công nghệ, với sự quan tâm đầu tư, khuyến khích và hỗ trợ từ Đảng và Nhà nước.

Bên cạnh đó, khoa học và công nghệ được coi là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của các ngành, các cấp; là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời góp phần củng cố quốc phòng – an ninh. Sự phát triển khoa học và công nghệ phải gắn bó chặt chẽ với giáo dục – đào tạo; kết hợp hài hòa giữa khoa học tự nhiên, kỹ thuật với khoa học xã hội và nhân văn.

Nghị quyết cũng nhấn mạnh phát triển khoa học và công nghệ là sự nghiệp của toàn dân, cần phát huy tối đa năng lực sáng tạo của quần chúng, các tổ chức khoa học – công nghệ, doanh nghiệp và mọi thành phần kinh tế, cũng như mỗi công dân. Đồng thời, phải kết hợp giữa phát huy năng lực nội sinh với việc tiếp thu có chọn lọc các thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới.

Cuối cùng, phát triển khoa học và công nghệ phải gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, bảo đảm cho sự phát triển kinh tế – xã hội diễn ra nhanh, hiệu quả và bền vững.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển khoa học và công nghệ của nước ta trong giai đoạn cách mạng mới, đồng thời phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Nội dung Nghị quyết thể hiện sự nhạy bén, chủ động của Đảng trước thực tế cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển nhanh với trình độ ngày càng cao, qua đó thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới và xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế, đời sống xã hội. Những nhận thức này hướng tới mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.

Tiếp nối quan điểm đó, Đại hội IX (2001) và Đại hội X (2006) của Đảng tiếp tục khẳng định khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đến Đại hội XI (2011), nhận thức về vai trò của khoa học và công nghệ được bổ sung, phát triển sâu sắc hơn, nhấn mạnh đây là động lực quan trọng để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức; góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, đồng thời tăng tỷ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp vào tăng trưởng.

Cụ thể hóa quan điểm của Đại hội XI, ngày 01/11/2011, Hội nghị Trung ương 6 khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW “Về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Nghị quyết khẳng định phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất đối với phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời yêu cầu phải được ưu tiên đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp.

Tổng kết những thành tựu sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đại hội XII (2016) của Đảng đã đề ra mục tiêu, phương hướng và nhiệm vụ phát triển đất nước trong giai đoạn tiếp theo. Trên cơ sở kế thừa, bổ sung và phát triển các quan điểm trước đó về khoa học và công nghệ, Đại hội XII đã có bước tiến mới trong nhận thức khi nhấn mạnh “khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu”. Việc bổ sung hai chữ “thực sự” không chỉ mang ý nghĩa khẳng định mạnh mẽ hơn vai trò của khoa học và công nghệ, mà còn đặt ra yêu cầu đưa lĩnh vực này phát triển lên một trình độ mới, khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong thời gian qua. Điều đó đồng nghĩa với việc mọi chủ trương, chính sách trong thực tiễn phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và công nghệ, đồng thời được triển khai bằng chính khoa học và công nghệ.

Bên cạnh đó, việc xác định khoa học và công nghệ là “động lực quan trọng nhất” thể hiện sự đánh giá khách quan, toàn diện và phù hợp của Đảng trước bối cảnh khoa học và công nghệ thế giới đang phát triển mạnh mẽ. Trong điều kiện toàn cầu hóa sâu rộng và sự bứt phá của khoa học – công nghệ, Đại hội XII nhấn mạnh yêu cầu “đi tắt, đón đầu” thông qua việc xây dựng chiến lược phát triển công nghệ quốc gia, chiến lược thu hút công nghệ từ bên ngoài và thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI đang hoạt động tại Việt Nam. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao, được xác định là một hướng ưu tiên quan trọng trong tiến trình hội nhập.

Đây là lần đầu tiên Đảng đề ra chủ trương xây dựng chiến lược phát triển công nghệ quốc gia, tạo cơ sở và động lực thúc đẩy đổi mới khoa học và công nghệ vốn còn chậm so với yêu cầu phát triển. Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp FDI đang đầu tư vào Việt Nam, việc chủ động thu hút và chuyển giao công nghệ từ khu vực này được xem là giải pháp hiệu quả, nhanh chóng và ít tốn kém. Ngược lại, nếu chỉ dựa vào năng lực khoa học và công nghệ nội sinh như trước đây, nguy cơ tụt hậu của Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thế giới sẽ ngày càng gia tăng.

Sau Đại hội XII, nhằm chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Nghị quyết xác định rõ việc chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan, đồng thời là nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn liền với tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng.

Nghị quyết cũng đề ra mục tiêu tận dụng hiệu quả các cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại nhằm thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hóa đất nước; phát triển mạnh kinh tế số; bảo đảm tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái.

Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu toàn hệ thống chính trị và xã hội phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội hàm và bản chất của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, từ đó đổi mới mạnh mẽ tư duy và hành động. Đây được xem là giải pháp đột phá với lộ trình phù hợp, tạo cơ hội để Việt Nam bứt phá trong phát triển, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa công nghệ.

Sự ra đời của Nghị quyết số 52-NQ/TW đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong nhận thức của Đảng về chuyển đổi số tại Việt Nam, thể hiện rõ tầm nhìn, bản lĩnh và quyết tâm của toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội trong việc chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia, Đại hội XIII (2021) của Đảng tiếp tục khẳng định nhất quán quan điểm coi khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, Đại hội nhấn mạnh yêu cầu xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế thế giới và điều kiện đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Đặc biệt, Đại hội XIII có bước phát triển mới trong nhận thức khi gắn chặt phát triển khoa học và công nghệ với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đồng thời nhấn mạnh vai trò của đổi mới sáng tạo và định hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Các chương trình khoa học và công nghệ được yêu cầu cơ cấu lại theo hướng phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; ưu tiên chuyển giao và ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, con người, quốc phòng và an ninh trọng yếu.

Tiếp đó, nhằm tạo động lực phát triển mạnh mẽ đất nước trong kỷ nguyên mới, ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Nghị quyết khẳng định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chủ yếu để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu và đưa đất nước bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.

Quan điểm này đánh dấu bước chuyển căn bản trong tư duy phát triển của Đảng. Lần đầu tiên, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được xác định là nền tảng cốt lõi, là “gốc” của mô hình tăng trưởng mới, thay vì chỉ đóng vai trò hỗ trợ như trước đây. Nghị quyết cũng thể hiện nhiều điểm mới mang tính đột phá trong nhận thức, như chấp nhận rủi ro và cơ chế thí điểm trong các dự án khoa học và công nghệ; tăng cường hợp tác giữa khu vực công và tư, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và phát triển; chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao và đổi mới sáng tạo; cùng với đó là đề xuất các chính sách ưu đãi về thuế và hỗ trợ pháp lý nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Sự ra đời của Nghị quyết số 57-NQ/TW được xem là bước đột phá trong tư duy phát triển của Đảng, phù hợp với xu thế của thời đại. Đồng thời, Nghị quyết cũng mang ý nghĩa như một lời hiệu triệu, một mệnh lệnh hành động đối với đội ngũ trí thức, nhà khoa học trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài, cũng như toàn thể nhân dân, tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới và thúc đẩy chuyển đổi số. Qua đó, góp phần phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia, phục vụ hiệu quả sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển mạnh mẽ và tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Lực lượng sản xuất mới, đặc biệt là công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo, đang có những bước phát triển đột phá chưa từng có. Trong bối cảnh đó, công nghệ số và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành yếu tố quyết định tốc độ và chất lượng phát triển của các quốc gia.

Tại Việt Nam, mặc dù khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã đạt được một số kết quả nhất định, song nhìn chung vẫn chưa thực sự trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng. Năng suất lao động còn thấp; mức độ ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số trong nhiều ngành, lĩnh vực còn hạn chế; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển chưa đồng bộ. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có những quyết sách mang tính đột phá, đủ mạnh và đủ tầm để tạo ra những chuyển biến căn bản.

Trước bối cảnh quốc tế và yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Đại hội XIV của Đảng xác định “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” là một định hướng chiến lược trọng tâm. Theo đó, cần tập trung triển khai các đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại; đồng thời ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp và công nghệ chiến lược, trong đó trọng tâm là công nghiệp chip bán dẫn và trí tuệ nhân tạo.

Đây không chỉ là sự kế thừa và phát triển nhất quán tư duy đổi mới của Đảng qua các kỳ Đại hội, mà còn thể hiện bước tiến mới về tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh chính trị trong việc lựa chọn con đường phát triển phù hợp với xu thế thời đại và điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Những kết quả đạt được trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sau 40 năm đổi mới
Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986–2026), lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Nhận thức về vai trò của khoa học và công nghệ ngày càng đầy đủ, nhất quán, với nhiều giải pháp được triển khai nhằm thực hiện quan điểm coi đây là “quốc sách hàng đầu”, là “động lực then chốt” cho phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Hoạt động hợp tác và hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ được tăng cường; nội dung đổi mới sáng tạo trong hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia được xác định rõ hơn, qua đó thúc đẩy sự hình thành và phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Đặc biệt, trong năm 2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua 10 đạo luật liên quan đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng pháp lý toàn diện và đồng bộ cho lĩnh vực này phát triển. Trên thực tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã có những đóng góp to lớn trên nhiều phương diện. Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, nhiều công trình nghiên cứu đã phục vụ hiệu quả cho việc hoạch định đường lối, chính sách; góp phần nâng cao dân trí, định hướng lối sống theo hướng hiện đại, nhân văn, tiến bộ; hình thành hệ giá trị văn hóa mới phù hợp với sự phát triển của thời đại; đồng thời góp phần giảm thiểu xung đột xã hội, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, phát triển con người toàn diện và nâng tầm các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam.

Trong khi đó, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ đã đóng vai trò quan trọng trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt ở trình độ sau đại học; tạo điều kiện để Việt Nam chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Mô hình tăng trưởng kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng giảm phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu thô, lao động giá rẻ và mở rộng tín dụng; thay vào đó, ngày càng dựa nhiều hơn vào ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng lên, trong khi ngành khai khoáng có xu hướng giảm. Năng suất lao động được cải thiện rõ rệt, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) ngày càng tăng.

Bên cạnh đó, các quỹ phát triển khoa học và công nghệ, quỹ đổi mới công nghệ quốc gia và quỹ khoa học – công nghệ của doanh nghiệp đã đi vào hoạt động và phát huy hiệu quả. Hệ thống bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ ngày càng hoàn thiện, tiệm cận các cam kết quốc tế; hệ thống tiêu chuẩn quốc gia từng bước tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế. Cơ sở dữ liệu về công nghệ và đội ngũ chuyên gia bước đầu được hình thành. Các khu công nghệ cao đã góp phần thu hút nhiều dự án công nghệ cao của các tập đoàn lớn trên thế giới.

Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia được hình thành và phát triển nhanh chóng. Theo Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2025 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Việt Nam xếp thứ 44/139 quốc gia và nền kinh tế, đứng thứ 3 trong khu vực ASEAN (sau Singapore và Malaysia). Thực tiễn cũng cho thấy khoa học và công nghệ đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề do đời sống đặt ra; nhiều kết quả nghiên cứu đã được chuyển giao, ứng dụng hiệu quả vào sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội.

Những thành tựu đạt được đã khẳng định hiệu quả của quá trình đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong thời gian qua, đồng thời tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn tiếp theo.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, lĩnh vực khoa học và công nghệ ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Năng suất lao động và năng suất các yếu tố tổng hợp còn thấp; mô hình tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào vốn và lao động. Thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm, thiếu các tổ chức trung gian có uy tín và kinh nghiệm trong kết nối cung – cầu. Việc khuyến khích, nuôi dưỡng và phát triển các phát minh, sáng chế để trở thành sản phẩm cuối cùng và được thương mại hóa còn hạn chế.

Tỷ lệ ứng dụng khoa học và công nghệ trong các ngành, lĩnh vực chưa cao. Trong nông nghiệp, lao động thủ công vẫn chiếm tỷ trọng lớn, sản xuất còn phân tán và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Trong công nghiệp, hoạt động sản xuất chủ yếu vẫn là gia công, lắp ráp; còn trong lĩnh vực dịch vụ, tính chuyên nghiệp và tính thị trường chưa cao. Công nghệ nhập khẩu phần lớn chưa phải là công nghệ nguồn.

Bên cạnh đó, tốc độ và mức độ bứt phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia còn chậm; quy mô, tiềm lực và trình độ khoa học – công nghệ của quốc gia còn khoảng cách khá xa so với nhóm các nước phát triển. Hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ chưa tạo được những đột phá rõ nét; chưa làm chủ được các công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi. Thể chế pháp luật, cơ chế, chính sách còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu; hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng số, chưa đồng bộ; vấn đề an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu còn nhiều thách thức.

Tổng mức đầu tư toàn xã hội cho khoa học và công nghệ, nhất là từ khu vực doanh nghiệp, còn thấp. Các hoạt động nghiên cứu khoa học chưa gắn chặt với nhu cầu thực tiễn, tính ứng dụng chưa cao; đồng thời chưa có cơ chế đủ mạnh để phát huy tính sáng tạo và năng lực nghiên cứu trong toàn xã hội. Đặc biệt, cơ chế và chính sách đối với đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ còn nặng tính hành chính, chưa tạo được môi trường thuận lợi để khuyến khích sáng tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, quan điểm “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” được xác định tại Đại hội XIV của Đảng không phải là sự hình thành đột ngột, mà là kết quả của cả một quá trình nhận thức lâu dài, liên tục được bổ sung, phát triển qua các giai đoạn cách mạng. Trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, khu vực và yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn trong nước, Đảng ta luôn thể hiện sự nhạy bén, chủ động trong việc điều chỉnh, hoàn thiện các quan điểm, chủ trương nhằm đưa sự nghiệp cách mạng phát triển phù hợp với xu thế thời đại. Điều đó hoàn toàn bác bỏ những luận điệu sai trái cho rằng Văn kiện Đại hội XIV “không có gì mới”, “thiếu tầm nhìn”, “không phù hợp với xu thế”, hay mang tính “giáo điều, bảo thủ”. Thực tiễn phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước trong thời gian qua chính là minh chứng sinh động, thuyết phục cho tính đúng đắn và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong lĩnh vực này.

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, với những thời cơ và thách thức đan xen, đất nước ta đang đứng trước yêu cầu phải tạo ra những bước đột phá mạnh mẽ về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và sức mạnh tổng hợp quốc gia. Trong bối cảnh đó, việc thực hiện hiệu quả chủ trương “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” có ý nghĩa quyết định. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự đồng tâm, hiệp lực của toàn thể nhân dân, đội ngũ trí thức, nhà khoa học trong và ngoài nước, quyết sách này sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, nâng cao năng suất lao động, đồng thời tạo nền tảng vững chắc để đất nước phát triển nhanh và bền vững. Qua đó, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Th.s. Đào Duy Tùng, Th.S. Hồ Thức Tài & TS. Bùi Nghĩa/Học viện Chính trị khu vực II

Tài liệu tham khảo
1.Ban Chấp hành Trung ương (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 27/9/2019 “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, tr. 3. Truy cập ngày 01/3/2026, từ https://hcma.vn/-nghi-quyet-so-52nqtw-ngay-2792019-cua-bo-chinh-tri-ve-mot-so-chu-truong-chinh-sach-chu-dong-tham-gia-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-19144.htm.
2.Ban Chấp hành Trung ương (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Truy cập ngày 01/3/2026, từ https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-57-nqtw-ngay-22122024-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-11162.
3.Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 47, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4.Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 50, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5.Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 51, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6.Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 55, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
7.Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8.Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9.Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
10.Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
11.Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
12.Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam.