Thứ Bảy, Tháng 8 29, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Rõ ràng, minh bạch để tạo dựng niềm tin và đồng thuận trong Nhân dân

Xử lý đúng đắn cán bộ mắc sai lầm, khuyết điểm



ĐNA -

Cuộc sống có những vấn đề phức tạp cần thời gian để nhận thức, có những quyết định cần cân nhắc nhiều chiều và những khác biệt cần đối thoại. Nhưng phức tạp không đồng nghĩa với nhập nhằng, thận trọng không phải né tránh. Điều cần thiết chính là sự rõ ràng trong tư duy và hành động: rõ vấn đề, rõ căn cứ, rõ trách nhiệm. Từ cá nhân đến tập thể, từ quản lý đến hoạch định chính sách, khi rõ ràng đi cùng minh bạch và trách nhiệm, niềm tin được củng cố và động lực phát triển được khơi thông.

Rõ ràng, minh bạch để tạo dựng niềm tin và đồng thuận trong Nhân dân

Rõ ràng với chính mình.
Rõ ràng trước hết không phải là yêu cầu đặt ra cho người khác, mà là yêu cầu đối với chính mình. Muốn nhận xét hay đánh giá một vấn đề, mỗi người cần biết mình thực sự biết gì, chưa biết gì và đâu mới chỉ là suy nghĩ, phỏng đoán chủ quan. Trong thời đại thông tin lan truyền nhanh chóng, sự phân biệt ấy càng trở nên cần thiết. Một thông tin được nhiều người chia sẻ chưa chắc đã là sự thật; một nhận định nhận được nhiều đồng tình cũng không vì thế mà mặc nhiên đúng.

Sự tỉnh táo trong tư duy đòi hỏi mỗi người biết dừng lại để kiểm chứng và tự hỏi: căn cứ cho nhận định của mình là gì? Khi chưa đủ thông tin và cơ sở, cần thẳng thắn thừa nhận rằng chưa thể kết luận. Điều đó không thể hiện sự yếu thế hay thiếu quyết đoán, mà là sự trung thực trong nhận thức. Biết giới hạn hiểu biết của mình cũng là điều kiện để con người tiếp tục tìm hiểu, điều chỉnh và tiến gần hơn đến sự thật.

Rõ ràng với chính mình còn là biết phân biệt sự thật với suy diễn, sự kiện với bình luận, hiện tượng với bản chất. Một sự việc có thể tạo ra cảm xúc mạnh, nhưng cảm xúc không thể thay thế chứng cứ. Một hiện tượng cá biệt không mặc nhiên đại diện cho toàn bộ vấn đề; sai sót của một cá nhân cũng không thể dễ dàng quy thành bản chất của cả một tập thể. Nếu không phân định được những tầng nấc ấy, con người rất dễ đi từ nhận xét đến quy kết, từ phê bình đến phủ định, từ một thông tin riêng lẻ đến những kết luận vượt quá bản chất và phạm vi của sự việc. Khi đó, sự thiếu rõ ràng không chỉ dẫn đến nhận thức sai lệch mà còn có thể tạo ra những đánh giá và hành động thiếu công bằng.

Mỗi người đều có quyền có chính kiến. Xã hội cần những tiếng nói khác nhau, cần phản biện và tranh luận để nhìn nhận vấn đề đầy đủ, đa chiều hơn. Nhưng một chính kiến không trở thành chân lý chỉ vì người nói tin chắc vào nó. Phản biện chỉ thực sự có giá trị khi dựa trên lý lẽ, căn cứ và thái độ tôn trọng sự thật. Có thể không đồng tình với một quan điểm, nhưng cần chỉ ra không đồng tình ở điểm nào, vì sao và dựa trên cơ sở nào để bảo vệ cách nhìn của mình.

Đó cũng là ranh giới giữa phản biện có trách nhiệm và phản ứng theo cảm xúc. Tranh luận nhằm làm sáng tỏ vấn đề khác với tranh luận chỉ để bảo vệ quan điểm cá nhân hay phủ nhận người khác. Một xã hội văn minh không e ngại bất đồng, bởi khác biệt về cách nhìn là điều bình thường. Điều đáng lo là khi bất đồng không còn được giải quyết bằng lý lẽ, chứng cứ và đối thoại, mà bị đẩy sang định kiến, công kích cá nhân hoặc sức ép của đám đông. Khi ấy, điều cần được tranh luận dễ bị che khuất bởi thái độ đối đầu, còn mục tiêu tìm kiếm sự thật cũng bị đẩy xuống phía sau.

Nhưng rõ ràng trong nhận thức chưa đủ. Sự rõ ràng trong tư duy phải được thể hiện bằng sự rõ ràng trong hành động. Mỗi người cần biết mình đang làm gì, vì sao lựa chọn như vậy, hành động ấy tác động đến ai và bản thân phải chịu trách nhiệm đến đâu. Không thể nói một đằng, làm một nẻo; yêu cầu người khác tuân thủ nhưng bản thân lại tìm cách né tránh; đòi hỏi trách nhiệm ở người khác nhưng lại không sẵn sàng chịu trách nhiệm về lời nói và hành động của mình. Những biểu hiện ấy, xét đến cùng, đều cho thấy sự thiếu nhất quán và thiếu rõ ràng với chính mình.

Từ đó có thể thấy, không biết một điều gì đó không đáng sợ; đáng ngại hơn là không biết nhưng lại cho rằng mình đã biết đủ để phán xét và kết luận. Con người cũng khó tránh hoàn toàn sai lầm. Điều quan trọng không phải là bằng mọi cách chứng minh mình luôn đúng, mà là có đủ tỉnh táo để nhận ra khi mình sai, đủ thẳng thắn để sửa sai và đủ trách nhiệm để chịu trách nhiệm về những gì mình đã nói, đã làm. Rõ ràng với chính mình, vì thế, không chỉ là một yêu cầu của tư duy mà còn là nền tảng của sự trung thực, trách nhiệm và cách ứng xử công bằng với người khác.

Rõ ràng trong tập thể và tổ chức.
Từ mỗi cá nhân, yêu cầu về sự rõ ràng được đặt ra ở một phạm vi rộng hơn: tập thể và tổ chức. Một tập thể muốn thống nhất trong hành động, trước hết phải thống nhất về mục tiêu. Mục tiêu không rõ, mỗi người có thể hiểu và thực hiện theo một cách; nhiệm vụ không rõ, công việc dễ chồng chéo hoặc bỏ sót; quyền hạn không rõ, người thực hiện khó biết mình được quyết định đến đâu và phải chịu trách nhiệm đến mức nào.

Xây dựng một tập thể mạnh không thể chỉ nói đến tinh thần đoàn kết mà còn phải bảo đảm sự rõ ràng trong tổ chức và thực hiện công việc. Đoàn kết không có nghĩa là mọi người cùng làm mọi việc hay trách nhiệm của người này có thể hòa lẫn vào trách nhiệm của người khác. Đoàn kết phải được thể hiện ở chỗ mỗi người làm tốt phần việc của mình, phối hợp chặt chẽ với những người liên quan và cùng hướng đến mục tiêu chung. Khi mục tiêu, nhiệm vụ và trách nhiệm được xác định rõ, sự phối hợp mới thực chất và sức mạnh tập thể mới được phát huy.

Một tổ chức hoạt động hiệu quả vì thế cần phân công cụ thể: rõ người, rõ việc, rõ quyền hạn và rõ trách nhiệm. Một nhiệm vụ được giao nhưng không xác định người chịu trách nhiệm chính rất dễ rơi vào tình trạng tưởng là việc của nhiều người nhưng cuối cùng lại không ai thực sự chịu trách nhiệm. Ngược lại, khi trách nhiệm có địa chỉ cụ thể, người được giao việc có cơ sở để chủ động thực hiện, người phối hợp biết phạm vi công việc của mình, còn người quản lý có căn cứ để kiểm tra và đánh giá kết quả.

Đó không đơn thuần là yêu cầu về thủ tục hay quy trình, mà phản ánh năng lực tổ chức và quản lý. Một tập thể càng lớn, công việc càng phức tạp thì càng cần những nguyên tắc và cơ chế vận hành rõ ràng. Sự rõ ràng giúp hạn chế tình trạng tùy tiện trong thực hiện, giảm khoảng trống hoặc chồng chéo trong phối hợp, đồng thời tạo điều kiện để mỗi thành viên phát huy tính chủ động trong phạm vi trách nhiệm và thẩm quyền của mình.

Cùng với phân công công việc, một vấn đề quan trọng khác là phân định đúng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể. Có những công việc thuộc trách nhiệm chung của tập thể, nhưng trong từng nhiệm vụ cụ thể vẫn phải xác định trách nhiệm của từng cá nhân, từng vị trí và từng khâu. Không thể lấy hai chữ “tập thể” để làm mờ trách nhiệm cá nhân, bởi nếu mọi trách nhiệm đều được hòa vào cái chung thì khi xảy ra hạn chế, sai sót sẽ rất khó xác định nguyên nhân và người chịu trách nhiệm.

Ở chiều ngược lại, cũng không thể từ sai sót của một cá nhân mà quy kết hoặc phủ nhận những đóng góp chính đáng của cả tập thể. Sự rõ ràng đòi hỏi cách nhìn công bằng ở cả hai phía: tập thể chịu trách nhiệm đối với mục tiêu, kết quả chung; mỗi cá nhân chịu trách nhiệm đối với phần việc, quyết định và thẩm quyền được giao. Trách nhiệm cá nhân không loại trừ trách nhiệm tập thể, cũng như trách nhiệm tập thể không thể thay thế trách nhiệm cá nhân. Chỉ khi phân định được rành mạch như vậy, trách nhiệm mới thực sự có địa chỉ và việc kiểm tra, đánh giá mới có căn cứ.

Sự rõ ràng của một tập thể còn thể hiện ở cách nhìn nhận kết quả và ứng xử với những hạn chế, sai sót. Khen thưởng phải có căn cứ; phê bình phải đúng người, đúng việc, đúng mức; sai sót phải được xem xét trên cơ sở sự thật, nguyên nhân và trách nhiệm cụ thể. Đánh giá không rõ ràng dễ dẫn đến hai thái cực: hoặc thành tích được nhìn nhận chung chung, công lao không được ghi nhận đúng; hoặc khi xảy ra khuyết điểm, trách nhiệm bị đẩy từ người này sang người khác. Cả hai đều ảnh hưởng đến sự công bằng và làm suy giảm động lực của tập thể.

Điều quan trọng không phải là xây dựng hình ảnh một tập thể dường như không bao giờ có sai lầm, mà là xây dựng một tập thể có khả năng nhận diện đúng hạn chế, thẳng thắn nói về hạn chế và có cơ chế sửa chữa. Sai sót nếu được nhìn nhận đúng sẽ trở thành bài học; trách nhiệm nếu được xác định rõ sẽ tạo cơ sở cho khắc phục; còn những kinh nghiệm được rút ra nghiêm túc sẽ giúp tổ chức hoàn thiện hơn trong những công việc tiếp theo.

Một tập thể mạnh không phải là tập thể không có khuyết điểm, mà là tập thể không né tránh khuyết điểm; không che giấu sai sót, không đùn đẩy trách nhiệm và không để những vấn đề đã được nhận diện tiếp tục lặp lại. Khi mục tiêu rõ, công việc rõ, quyền hạn rõ, trách nhiệm rõ và việc đánh giá cũng rõ ràng, mỗi cá nhân sẽ biết mình cần làm gì và chịu trách nhiệm đến đâu. Đó cũng là nền tảng để một tổ chức tạo dựng kỷ cương, củng cố niềm tin và không ngừng nâng cao năng lực hành động.

Rõ ràng, minh bạch trong quản lý

Nếu với mỗi cá nhân, rõ ràng trước hết là yêu cầu của tư duy và hành động thì với người quản lý, đó còn là yêu cầu gắn trực tiếp với quyền hạn và trách nhiệm. Người càng có thẩm quyền quyết định càng phải nhận thức rõ mình được quyết định đến đâu, dựa trên căn cứ nào và chịu trách nhiệm như thế nào đối với quyết định của mình. Quyền hạn không thể tách rời trách nhiệm. Một quyết định thuộc thẩm quyền của ai thì người đó trước hết phải chịu trách nhiệm trong phạm vi được giao. Đây là nguyên tắc cần thiết để tránh tình trạng quyền quyết định có địa chỉ rõ ràng nhưng khi phát sinh vấn đề, trách nhiệm lại trở nên mơ hồ hoặc bị đẩy sang nơi khác.

Sự rõ ràng trong quản lý còn phải được thể hiện ở quy trình, tiêu chí và cách thức tổ chức thực hiện. Một chủ trương hay yêu cầu chung muốn đi vào cuộc sống phải được cụ thể hóa thành nhiệm vụ, xác định rõ người thực hiện, thời hạn, tiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm tra, giám sát. Nếu chỉ xác định mục tiêu mà không làm rõ cách thực hiện, mỗi nơi, mỗi người có thể hiểu và làm theo một cách khác nhau. Nếu giao nhiệm vụ nhưng không có tiêu chí đánh giá, rất khó xác định kết quả đạt đến đâu. Nếu chỉ kiểm tra ở khâu cuối cùng mà thiếu theo dõi trong quá trình thực hiện, những hạn chế, sai sót có thể không được phát hiện kịp thời và đến khi nhận ra thì việc khắc phục đã trở nên khó khăn hơn.

Bởi vậy, rõ ràng trong quản lý không có nghĩa là làm phát sinh thêm thủ tục, càng không phải biến quy trình thành những tầng nấc rườm rà. Điều cần thiết là giảm những khoảng trống trong tổ chức thực hiện: khoảng trống về nhiệm vụ, quyền hạn, phối hợp, kiểm tra và trách nhiệm. Quy trình chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp công việc vận hành thông suốt hơn, người thực hiện biết mình phải làm gì, người quản lý biết cần kiểm tra điều gì và kết quả có thể được đánh giá trên những căn cứ cụ thể.

Trong quá trình đó, minh bạch có ý nghĩa đặc biệt. Rõ ràng và minh bạch có quan hệ chặt chẽ nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Rõ ràng giúp xác định công việc được thực hiện theo nguyên tắc, căn cứ và trách nhiệm nào; minh bạch tạo điều kiện để những nội dung cần thiết có thể được nhận biết, kiểm tra và giám sát. Minh bạch cũng không đồng nghĩa với việc công khai tùy tiện mọi thông tin. Những nội dung thuộc phạm vi phải công khai cần được công khai đầy đủ, đúng thẩm quyền và đúng quy định; những vấn đề cần giải trình phải có căn cứ để giải trình; những hoạt động thuộc diện giám sát phải bảo đảm điều kiện để việc giám sát được thực hiện thực chất.

Minh bạch giúp sự rõ ràng không chỉ tồn tại trong suy nghĩ hay cách làm của người ra quyết định, mà trở thành điều những người có liên quan có thể nhận biết, kiểm chứng và đánh giá. Một quyết định sẽ có sức thuyết phục hơn khi người chịu tác động có cơ sở để hiểu vì sao quyết định ấy được đưa ra, dựa trên căn cứ nào, được thực hiện ra sao và kết quả như thế nào. Khi quá trình quản lý có thể được giải thích bằng những căn cứ rõ ràng, niềm tin không chỉ dựa vào lời khẳng định của người có thẩm quyền mà còn được củng cố bằng chính cách thức tổ chức và kết quả thực hiện.

Rõ ràng và minh bạch cũng là điều kiện để hạn chế khoảng trống trách nhiệm trong quản lý. Một công việc thành công thường là kết quả đóng góp của nhiều cá nhân, bộ phận. Nhưng khi xảy ra hạn chế, sai sót, điều cần thiết không phải là vội vàng tìm một người để quy lỗi, cũng không thể hòa trách nhiệm vào tập thể đến mức không còn xác định được ai phải chịu trách nhiệm về việc gì. Cần làm rõ sai sót xảy ra ở đâu, nguyên nhân từ đâu, thuộc khâu nào, trách nhiệm của cá nhân và tập thể đến mức nào, biện pháp khắc phục ra sao và cần thay đổi điều gì để không lặp lại.

Xác định trách nhiệm không nhằm tạo thêm áp lực hay làm người thực hiện e ngại quyết định. Ngược lại, khi quyền hạn và trách nhiệm được phân định rõ, người thực hiện có cơ sở để chủ động trong phạm vi được giao, đồng thời biết giới hạn mà mình phải tuân thủ. Người làm đúng có căn cứ để được bảo vệ; người làm tốt có cơ sở để được ghi nhận; còn khi xảy ra sai sót, việc xem xét cũng có căn cứ để bảo đảm khách quan và công bằng. Trách nhiệm rõ ràng, vì thế, vừa là yêu cầu của kỷ cương, vừa là điều kiện để khuyến khích tinh thần chủ động, dám làm và dám chịu trách nhiệm.

Quản lý càng liên quan đến nhiều người, nhiều nguồn lực và lợi ích chung thì yêu cầu về sự rõ ràng, minh bạch càng cao. Quyền hạn càng lớn càng không thể thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát; trách nhiệm càng lớn càng phải được xác định cụ thể. Khi quyền hạn, quy trình và trách nhiệm đều có địa chỉ, còn những vấn đề cần công khai, giải trình và giám sát được thực hiện minh bạch, quản lý không chỉ hiệu quả hơn mà còn tạo dựng được kỷ cương, sự công bằng và niềm tin.

Chủ trương, chính sách phải xuất phát từ thực tiễn và lắng nghe người dân.
Ở cấp độ chủ trương, chính sách, yêu cầu về sự rõ ràng và phù hợp với thực tiễn càng trở nên quan trọng, bởi mỗi quyết định có thể tác động trực tiếp đến cuộc sống, quyền lợi và hoạt động của rất nhiều người. Một chính sách muốn giải quyết đúng vấn đề trước hết phải nhận diện đúng vấn đề: thực tiễn đang đặt ra yêu cầu gì, nguyên nhân nằm ở đâu, những ai chịu tác động và tác động ấy diễn ra như thế nào. Nếu đánh giá chưa đầy đủ thực tế, xác định sai nguyên nhân hoặc không tính hết điều kiện thực hiện, một chủ trương dù xuất phát từ mục tiêu tốt vẫn có thể gặp vướng mắc, thậm chí tạo thêm khó khăn khi đi vào cuộc sống.

Muốn hiểu đúng thực tiễn, không thể chỉ nhìn vấn đề từ góc độ của cơ quan xây dựng và ban hành chính sách. Những người trực tiếp chịu tác động của chính sách chính là một nguồn thông tin quan trọng để nhận diện vấn đề và đánh giá tính khả thi của giải pháp. Vì vậy, trước những chủ trương, quyết định có ảnh hưởng rộng đến đời sống xã hội, việc khảo sát thực tế, tham vấn chuyên gia và đặc biệt là lắng nghe, lấy ý kiến người dân, các nhóm đối tượng chịu tác động cần được coi là một khâu thực chất trong quá trình xây dựng chính sách.

Lấy ý kiến không nên chỉ là một thủ tục để hoàn thiện quy trình. Điều quan trọng là phải tạo điều kiện để người dân hiểu vấn đề đang được đặt ra, biết phương án nào đang được xem xét và có cơ hội phản ánh những khó khăn, nhu cầu cũng như hệ quả có thể phát sinh từ thực tế cuộc sống. Những ý kiến xác đáng cần được tiếp thu; những vấn đề còn khác nhau cần được giải thích, đối thoại và làm rõ. Chính quá trình ấy giúp cơ quan có thẩm quyền có thêm thông tin để cân nhắc lợi ích, chi phí và tác động trước khi đưa ra quyết định.

Điều cần hạn chế là cách làm chính sách theo hướng đơn phương: cơ quan quản lý tự xác định vấn đề, tự lựa chọn giải pháp rồi ban hành, trong khi những người trực tiếp chịu tác động chỉ được biết khi quyết định đã được đưa ra. Một quyết định có thể đúng về mục tiêu nhưng nếu thiếu khảo sát, thiếu tham vấn hoặc không tính đầy đủ điều kiện thực tế thì khi triển khai vẫn có thể phát sinh bất cập. Khi đó, chi phí của một quyết định chưa sát thực tiễn không chỉ nằm ở việc phải sửa đổi chính sách, mà còn có thể là những xáo trộn và khó khăn mà người dân, doanh nghiệp và xã hội phải gánh chịu.

Tham vấn người dân không có nghĩa là mọi quyết định đều phải lựa chọn theo ý kiến số đông, cũng không làm giảm vai trò và trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền. Quyền quyết định vẫn phải thuộc về chủ thể được pháp luật giao thẩm quyền và đi cùng trách nhiệm đối với quyết định đó. Nhưng một quyết định có trách nhiệm phải được hình thành trên cơ sở thông tin đầy đủ, đánh giá nhiều chiều và cân nhắc nghiêm túc ý kiến của những người chịu tác động. Càng là vấn đề liên quan rộng đến đời sống, sinh kế và quyền lợi của người dân, quá trình chuẩn bị và tham vấn càng cần thận trọng, công khai và thực chất.

Trên cơ sở đó, một chính sách cần xác định rõ mục tiêu, đối tượng, phạm vi, nguồn lực, lộ trình và phương thức thực hiện. Người tổ chức thực hiện phải biết cần đạt kết quả gì; người chịu tác động phải hiểu chính sách nhằm giải quyết vấn đề nào, quyền lợi và nghĩa vụ của mình thay đổi ra sao; cơ quan kiểm tra, giám sát phải có tiêu chí để đánh giá. Khi những yếu tố ấy được xác định rõ và được xây dựng trên cơ sở hiểu đúng thực tiễn, khoảng cách giữa chủ trương với cuộc sống sẽ được thu hẹp.

Tuy nhiên, thực tiễn luôn vận động và không phải mọi tác động của một chính sách đều có thể dự liệu đầy đủ ngay từ đầu. Vì vậy, sau khi ban hành, chính sách vẫn cần được theo dõi, kiểm nghiệm bằng kết quả thực tế và phản hồi của người dân. Nếu quá trình thực hiện cho thấy những quy định không còn phù hợp, phát sinh khó khăn hoặc tạo ra những hệ quả ngoài dự kiến thì cần kịp thời xem xét, bổ sung, điều chỉnh. Điều chỉnh chính sách không phải là biểu hiện của thiếu nhất quán nếu sự điều chỉnh xuất phát từ thực tiễn, có căn cứ và được giải thích rõ ràng. Điều cần tránh là quyết định thiếu căn cứ rồi thay đổi cũng thiếu căn cứ, khiến người dân và người thực hiện khó thích ứng.

Thực tiễn mới là nơi kiểm chứng đầy đủ nhất tính đúng đắn và hiệu quả của một chủ trương, chính sách. Thước đo không chỉ nằm ở mục tiêu được nêu trong văn bản, mà quan trọng hơn là chính sách có giải quyết được vấn đề thực tế hay không, đem lại lợi ích gì, tác động thế nào đến đời sống và được người dân đón nhận ra sao. Một chính sách tốt phải bắt đầu từ thực tiễn, được xây dựng trên cơ sở khảo sát, lắng nghe và đối thoại, đồng thời phải thường xuyên được kiểm nghiệm, bổ sung và điều chỉnh từ chính những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống.

Một chủ trương, chính sách muốn đi vào cuộc sống không thể được xây dựng và thực thi theo cách quyết định một chiều, xa rời thực tiễn và những đối tượng trực tiếp chịu tác động. Lắng nghe người dân trước khi quyết định không chỉ giúp nhận diện đầy đủ hơn những vấn đề từ thực tế, nâng cao tính khả thi của chính sách, mà còn thể hiện trách nhiệm của cơ quan quản lý đối với những tác động từ quyết định của mình. Thực tiễn phải là điểm xuất phát, ý kiến của người dân phải được lắng nghe, cân nhắc và hiệu quả trong cuộc sống phải là thước đo của mỗi chủ trương, chính sách.

Rõ ràng để xây dựng một xã hội có trách nhiệm.
Nhìn từ mỗi cá nhân đến tập thể, từ hoạt động quản lý đến xây dựng và thực thi chính sách, có thể thấy rõ ràng không phải là một yêu cầu riêng lẻ mà là nguyên tắc cần có trong mọi mặt của đời sống xã hội. Cá nhân cần rõ ràng trong nhận thức và hành động; tập thể cần rõ mục tiêu, nhiệm vụ và trách nhiệm; người quản lý cần rõ thẩm quyền, căn cứ của mỗi quyết định và minh bạch trong thực thi; chủ trương, chính sách phải xuất phát từ thực tiễn, lắng nghe người dân và xác định rõ mục tiêu, đối tượng, cách thức thực hiện. Những yêu cầu ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và cuối cùng đều hướng đến một điều: trách nhiệm phải được xác định và thực hiện một cách thực chất.

Một xã hội có trách nhiệm trước hết cần những con người có trách nhiệm. Trách nhiệm không nhất thiết bắt đầu từ những điều lớn lao, mà từ cách mỗi người ứng xử với những việc hằng ngày: nói điều mình biết trên cơ sở có căn cứ, không tùy tiện lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng, tôn trọng sự thật và pháp luật, làm đúng phần việc của mình, giữ lời nói đi đôi với hành động và sẵn sàng nhận trách nhiệm khi có sai sót. Những điều tưởng như nhỏ ấy chính là nền tảng hình thành nên những tập thể có kỷ luật, những tổ chức có nguyên tắc và một môi trường xã hội trong đó con người có thể tin cậy lẫn nhau. Không thể đòi hỏi sự minh bạch từ xã hội nếu mỗi người còn tùy tiện với sự thật; cũng khó yêu cầu người khác chịu trách nhiệm nếu chính mình luôn tìm cách né tránh trách nhiệm.

Ở cấp độ quản lý, sự rõ ràng và minh bạch càng có ý nghĩa đối với việc xây dựng niềm tin. Người dân không chỉ cần biết một quyết định đã được ban hành, mà cần có cơ sở để hiểu quyết định ấy nhằm giải quyết vấn đề gì, dựa trên căn cứ nào, tác động đến ai và được tổ chức thực hiện ra sao trong phạm vi thông tin cần được công khai theo quy định. Đặc biệt, với những chủ trương, chính sách tác động trực tiếp và rộng rãi đến đời sống, sự rõ ràng cần bắt đầu từ quá trình khảo sát thực tiễn, lắng nghe, tham vấn người dân và những đối tượng chịu tác động trước khi quyết định. Một chính sách chỉ thực sự có sức sống khi không được hình thành từ cách nhìn đơn phương, mà có khả năng phản ánh đúng vấn đề của thực tiễn và đáp ứng những yêu cầu chính đáng từ cuộc sống.

Niềm tin xã hội vì thế không thể chỉ được tạo dựng bằng lời nói hay những lời kêu gọi. Niềm tin được tích lũy qua từng quyết định có căn cứ, từng quy trình minh bạch, từng ý kiến được lắng nghe, từng vấn đề được giải trình và từng trách nhiệm được xác định rõ ràng. Khi người dân có thể nhìn thấy mối liên hệ giữa điều được nói với điều được làm, giữa mục tiêu của chính sách với kết quả trong thực tế, niềm tin sẽ có cơ sở để được củng cố. Ngược lại, sự nhập nhằng về căn cứ, thẩm quyền hay trách nhiệm không chỉ làm giảm hiệu quả quản lý mà còn tạo ra khoảng cách giữa chính sách với cuộc sống và giữa người quản lý với người dân.

Rõ ràng, minh bạch và trách nhiệm chỉ thực sự có ý nghĩa khi góp phần làm cho xã hội vận hành tốt hơn, chứ không phải tạo thêm những tầng nấc quản lý, thủ tục và kiểm soát. Điều quan trọng là xây dựng một môi trường trong đó người làm đúng được bảo vệ và khuyến khích, người có trách nhiệm có điều kiện chủ động hành động, tổ chức vận hành hiệu quả, chính sách sát với thực tiễn và các nguồn lực xã hội được sử dụng đúng mục đích. Khi quyền hạn đi cùng trách nhiệm, minh bạch đi cùng giải trình, quyết định đi cùng lắng nghe, kỷ cương không trở thành lực cản mà trở thành nền tảng cho sự chủ động, sáng tạo và phát triển.

Giá trị của rõ ràng, minh bạch và trách nhiệm phải được thể hiện bằng hiệu quả trong thực tế: rõ ràng giúp con người nhận thức đúng và hành động nhất quán; minh bạch tạo cơ sở cho kiểm chứng và củng cố niềm tin; trách nhiệm bảo đảm mỗi quyết định, mỗi hành động đều gắn với chủ thể và kết quả cụ thể. Ba yếu tố ấy phải gắn kết và bổ sung cho nhau để tạo nên một xã hội vận hành có nguyên tắc nhưng không cứng nhắc, có kỷ cương nhưng vẫn khuyến khích sự chủ động, có khác biệt nhưng biết đối thoại, đặc biệt là những quyết định phải xuất phát từ thực tiễn, lắng nghe người dân và hướng đến lợi ích thiết thực của cuộc sống.

Một xã hội có trách nhiệm không bắt đầu từ những điều xa xôi. Nó bắt đầu từ mỗi người biết rõ mình nói gì, làm gì và chịu trách nhiệm về điều gì; từ mỗi tổ chức biết rõ mục tiêu, quyền hạn và bổn phận của mình; từ người quản lý biết lắng nghe, giải trình và chịu trách nhiệm về quyết định; từ những chủ trương, chính sách biết tìm câu trả lời trong thực tiễn và trong tiếng nói của người dân. Khi sự rõ ràng trở thành cách tư duy, minh bạch trở thành nguyên tắc hành động và trách nhiệm trở thành thước đo, niềm tin sẽ được củng cố và phát triển sẽ có một nền tảng bền vững hơn.

Thế Nguyễn – Minh Văn