Thứ Sáu, Tháng 8 14, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Sáng kiến ​​Phát triển Toàn cầu (GDI) của Trung Quốc có thể hỗ trợ giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của ASEAN như thế nào



ĐNA -

Đông Nam Á đang bước vào giai đoạn phát triển phức tạp hơn, không chỉ hướng tới tăng trưởng và hạ tầng mà còn chú trọng củng cố thể chế, thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao khả năng chống chịu và bảo đảm lợi ích hội nhập được chia sẻ công bằng. Trong bối cảnh đó, Sáng kiến Phát triển Toàn cầu (GDI) của Trung Quốc được xem là phù hợp với nhiều nhu cầu của khu vực, từ giảm nghèo, an ninh lương thực đến chuyển đổi số và phát triển bền vững.

Khảo sát “Tình hình Đông Nam Á năm 2026” cho thấy Trung Quốc vẫn là đối tác có ảnh hưởng lớn nhất đối với Đông Nam Á về các mặt kinh tế, chính trị và chiến lược. ẢNH MINH HỌA: CHINA DAILY

Theo ANN ngày 13/8, giá trị thực sự của Sáng kiến Phát triển Toàn cầu (GDI) tại Đông Nam Á không chỉ nằm ở khả năng tài trợ hay xây dựng của Trung Quốc, mà còn ở mức độ phù hợp giữa năng lực của nước này với các ưu tiên phát triển của ASEAN. Đóng góp quan trọng của GDI có thể là hỗ trợ ASEAN triển khai hiệu quả hơn các cam kết và kế hoạch hội nhập hiện có, thay vì tạo ra một lộ trình phát triển riêng biệt.

ASEAN hiện đối mặt với nhiều thách thức đan xen, từ biến đổi khí hậu, gián đoạn công nghệ và những lỗ hổng trong chuỗi cung ứng đến chênh lệch phát triển và năng lực thực thi không đồng đều. Những vấn đề này đòi hỏi các hệ thống khu vực vững mạnh hơn, kết nối xuyên biên giới hiệu quả hơn và các thể chế đủ năng lực chuyển hóa cam kết thành hành động.

Khảo sát về Tình hình Đông Nam Á năm 2026 cho thấy Trung Quốc vẫn là một trong những đối tác có ảnh hưởng lớn nhất về kinh tế, chính trị và chiến lược đối với khu vực, với nguồn lực và năng lực triển khai các dự án cụ thể. Vì vậy, các nước Đông Nam Á có thể sẽ đánh giá GDI dựa trên khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển thực tế, mang lại lợi ích hữu hình và bổ trợ cho các khuôn khổ hợp tác hiện có của ASEAN.

Cuộc khảo sát cũng chỉ ra những hạn chế nội tại của ASEAN, đặc biệt là năng lực thực thi và khoảng cách phát triển giữa các quốc gia thành viên. Đây là những trở ngại lớn đối với mục tiêu thúc đẩy thương mại, đầu tư nội khối, xây dựng chuỗi cung ứng có khả năng chống chịu và đẩy nhanh hội nhập khu vực. Trong bối cảnh đó, GDI có thể đóng góp thiết thực bằng cách thu hẹp khoảng cách giữa tham vọng chung của ASEAN và khả năng triển khai tại từng quốc gia.

Các nghiên cứu gần đây của Viện ISEAS-Yusof Ishak về những dự án giao thông do Trung Quốc xây dựng tại Campuchia, Indonesia, Lào và Việt Nam cũng cho thấy lợi ích trực tiếp mà người dân có thể nhận được, như rút ngắn thời gian di chuyển, tăng sự thuận tiện và mở rộng cơ hội việc làm, kinh doanh. Hợp tác phát triển chỉ thực sự xây dựng được lòng tin khi người dân trực tiếp thụ hưởng những lợi ích đó.

Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng đơn thuần là chưa đủ. Hiệu quả của các dự án có thể bị hạn chế nếu kết nối khu vực còn yếu, thủ tục hải quan thiếu hiệu quả hoặc doanh nghiệp địa phương không tận dụng được các cơ hội mới. Do đó, quản lý tài chính lành mạnh, tiêu chuẩn môi trường cao, chi phí hợp lý và các cơ chế bảo vệ xã hội vững chắc sẽ là những điều kiện quan trọng để bảo đảm hiệu quả và tính bền vững lâu dài.

Do đó, ưu tiên hàng đầu là bảo đảm Sáng kiến Phát triển Toàn cầu (GDI) hỗ trợ các hệ thống nền tảng cho tiến trình hội nhập ASEAN, đặc biệt là nâng cao năng lực thực thi để các cơ quan, tổ chức và quan chức có thể chuyển hóa các thỏa thuận khu vực thành hành động cụ thể. Trung Quốc có thể thúc đẩy hợp tác kỹ thuật dài hạn trong các lĩnh vực như hiện đại hóa hải quan, thương mại số, tiêu chuẩn hóa, quy định môi trường và quản trị dữ liệu xuyên biên giới, đồng thời tăng cường các quan hệ đối tác thể chế và sáng kiến cùng giải quyết vấn đề.

Hợp tác phát triển cũng cần gắn kết giữa cơ sở hạ tầng cứng và cơ sở hạ tầng mềm. Các tuyến đường, đường sắt và cảng biển chỉ phát huy hiệu quả khi đi kèm hệ thống hải quan, logistics, chứng từ số, tiêu chuẩn tương thích và mạng lưới kết nối địa phương. Theo đó, GDI có thể tạo thêm giá trị bằng cách kết hợp đầu tư hạ tầng vật lý với các hệ thống quy định, kỹ thuật số và thể chế cần thiết để hình thành các hành lang kinh tế tích hợp.

Bên cạnh đó, nâng cao khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, gắn với chuyển đổi số và kinh tế xanh, cũng là một ưu tiên quan trọng. Hợp tác Trung Quốc – ASEAN có thể hỗ trợ các ngành công nghiệp địa phương nâng cao năng lực, phát triển kỹ năng và mở rộng cơ hội tham gia của doanh nghiệp nhỏ vào mạng lưới sản xuất khu vực. Việc phát triển hạ tầng số, năng lượng sạch, giao thông điện và các mô hình sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ là những yếu tố thiết yếu đối với chuỗi cung ứng trong tương lai. Thế mạnh của Trung Quốc trong trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo, công nghệ pin và sản xuất xanh cũng mở ra nhiều dư địa hợp tác.

Hoạt động hợp tác cũng cần hướng tới người dân và cộng đồng. Bên cạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng và thúc đẩy thương mại, hợp tác phát triển cần chú trọng giáo dục kỹ thuật, đào tạo nghề và kỹ năng số; tăng cường hợp tác nghiên cứu, giao lưu thanh niên, tạo việc làm tại địa phương, chuyển giao tri thức và tham vấn cộng đồng.

Những nỗ lực này sẽ giúp GDI vượt ra ngoài khuôn khổ các dự án riêng lẻ, trở thành động lực hỗ trợ hội nhập khu vực sâu rộng và bền vững hơn. Bằng cách phối hợp chặt chẽ với các sáng kiến do ASEAN dẫn dắt, GDI có thể góp phần xây dựng một Đông Nam Á có khả năng chống chịu và tính bao trùm cao hơn, đồng thời nâng cao tính thiết thực, độ tin cậy và ý nghĩa của hợp tác phát triển giữa Trung Quốc và khu vực.

Hiểu Nguyễn