Thứ Ba, Tháng 5 5, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Tái cơ cấu các tập đoàn Kinh tế Nhà nước: Kinh nghiệm ở một số nước và bài học đối với Việt Nam



ĐNA -

Tập đoàn kinh tế (TĐKT) là một mô hình tổ chức kinh doanh đã hình thành từ khá lâu cùng với quá trình tích tụ, tập trung tư bản, phát triển và mở rộng doanh nghiệp dưới tác động của các quy luật kinh tế khách quan của kinh tế thị trường. Cùng với sự phát triển của các nền kinh tế, TĐKT đã trở thành hiện tượng kinh tế phổ biến và có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia và thế giới thông qua các hoạt động đầu tư, xuất khẩu tư bản, mở rộng thị trường quốc tế… Có thể nói, sức mạnh của các TĐKT là một trong những tiêu chí quan trọng nói lên sức cạnh tranh quốc gia và sức mạnh kinh tế của quốc gia đó.

Kinh nghiệm tái cơ cấu tập đoàn kinh tế nhà nước ở một số nước trên thế giới

* Kinh nghiệm của Liên bang Nga

Thực hiện chương trình cải cách DNNN trong suốt những năm 90 của thế kỷ XX, đến năm 2000, về cơ bản nước Nga đã tư nhân hóa hơn 70% số DNNN. Sau khi lên nắm quyền, Tổng thống D.Medvedep và Tổng thống V.Putin đã thực hiện chương trình tái quốc hữu hóa doanh nghiệp trong một số lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế nhằm sửa chữa những sai lầm của quá trình tư nhân hóa trước đây. Đặc biệt, trong giai đoạn giá dầu trên thị trường thế giới tăng cao, nguồn thu từ xuất khẩu cao nên Tổng thống V.Putin sử dụng những nguồn lực này để phát triển các tập đoàn nhà nước Nga dựa trên tinh thần “chủ nghĩa bảo hộ hợp lý”, hình thành nên chủ nghĩa tư bản nhà nước hùng mạnh nhằm tạo ra động lực cho phát triển kinh tế của Nga.

Tuy nhiên, sự phát triển của các TĐKTNN với sự can thiệp một cách thái quá của nhà nước vào lĩnh vực hoạt động SXKD đã gây ra những hệ lụy xấu cho nền kinh tế thị trường nước Nga. Các TĐKTNN thường có định hướng hẹp trong việc chọn các đơn vị thực hiện hợp đồng, do đó thường hình thành nên các nhóm lợi ích, tạo điều kiện để nảy sinh tham nhũng. Trước tình hình đó, Chính phủ Nga đã quyết định tái cơ cấu các TĐKTNN nhằm sửa chữa những sai lầm của mô hình kinh tế này, đảm bảo cho kinh tế thị trường nước Nga phát triển lành mạnh. Trong đó tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau:

Một là, tái cơ cấu ngành nghề theo hướng tập đoàn nhà nước phải tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, trọng yếu của nền kinh tế

Tái cơ cấu ngành nghề TĐKTNN ở Nga nằm trong chủ trương định vị lại vai trò của nhà nước trong nền kinh tế theo hai hướng. Thứ nhất, đánh giá lại khu vực nào cần sự điều chỉnh của nhà nước, khu vực nào để thị trường vận hành. Thứ hai, giảm dần các DNNN (trong đó có các TĐKTNN) cũng như cổ phần hóa của nhà nước trong các doanh nghiệp khác. Theo Tổng thống D.Medvedep “nước Nga đã thay đổi”“Nhiệm vụ của nhà nước không phải là tự mình hái táo mà phải mở rộng vườn táo, tạo điều kiện phát triển môi trường kinh tế, phát triển chính nền kinh tế”.

Với chủ trương trên, các TĐKTNN sẽ được tập trung vào những ngành quan trọng có ý nghĩa cả về phương diện kinh tế và chính trị như: điện lực, quốc phòng, khai thác mỏ, dầu khí. Đây là nhóm ngành có nhu cầu rất cao về vốn do tính phức tạp và sự mở rộng của cơ sở hạ tầng đòi hỏi số vốn đầu tư lớn. Cũng chính bởi tầm quan trọng của nhóm ngành này mà các TĐKTNN hoạt động trong lĩnh vực này phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước Nga. Đối với những TĐKTNN còn lại, nhất là những tập đoàn hoạt động yếu kém và ở những ngành nghề kinh doanh không phải trọng yếu sẽ được cổ phần hóa. Theo đó, số lượng các doanh nghiệp chiến lược của nhà nước sẽ giảm xuống năm lần từ mức 208 doanh nghiệp còn 41 doanh nghiệp. Năm 2010, Chính phủ Liên bang Nga tập trung tư nhân hóa 250 DNNN một thành viên, các tập đoàn nhà nước.

Hai là, xây dựng và áp dụng linh hoạt các mô hình quản lý phù hợp với từng loại hình tập đoàn

Ở nước Nga hiện nay, việc quản lý các TĐKTNN thường áp dụng 3 mô hình: mô hình tập trung, mô hình kép và mô hình đa ngành. Tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi tập đoàn sẽ được áp dụng một trong ba mô hình quản lý trên. Mặc dù có sự linh hoạt trong việc áp dụng mô hình quản lý đối với các TĐKTNN có chức năng và nhiệm vụ khác nhau, tuy nhiên, việc quản lý của nhà nước đối với các TĐKTNN ở Nga vẫn còn rất nhiều hạn chế: tình trạng thất thoát, tham nhũng, lãng phí vẫn xảy ra; việc thể hiện chức năng chủ sở hữu và chức năng quản trị doanh nghiệp, dẫn tới nhà nước thường can thiệp quá sâu vào doanh nghiệp, mặt khác dễ dẫn tới độc quyền, lợi ích nhóm, làm méo mó cơ chế thị trường; ngoài ra còn thiếu cơ chế đánh giá HĐQT, minh bạch hóa thông tin, quyền của đại diện chủ sở hữu không rõ ràng.

Ba là, tái cơ cấu quản trị theo hướng tăng tính tự chủ, công khai, minh bạch trong các tập đoàn

Tái cơ cấu quản trị đối với các TĐKTNN ở Nga với nội dung trọng tâm là tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và minh bạch hóa hoạt động của các tập đoàn. Đối với các TĐKTNN mới được thành lập từ năm 2013 đến nay, mỗi tập đoàn được điều chỉnh bởi một đạo luật riêng, do chính phủ sáng lập, không chịu sự kiểm soát của kiểm toán liên bang và không áp dụng luật phá sản cho các tập đoàn này. Thực tiễn hoạt động của các tập đoàn cho thấy về hình thức đều gồm có Đại hội cổ đông trên cơ sở sở hữu hỗn hợp, nhà nước nắm giữ phần quan trọng, có HĐQT, Ban giám đốc, Ủy ban Kiểm tra và kiểm toán nội bộ. Các nguyên tắc hoạt động chủ yếu của các tập đoàn đều phục vụ các lợi ích của nhà nước, công khai minh bạch, tự chủ.

Ảnh minh hoạ

* Kinh nghiệm của Trung Quốc

TĐKTNN ở Trung Quốc đã trở thành một hiện tượng từ những năm 1980. Trong đó các TĐKTNN với các công ty mẹ có 100% vốn nhà nước hoặc có cổ phần lớn nhất thuộc sở hữu nhà nước luôn chiếm tỷ lệ đa số. Nguồn gốc của TĐKTNN ở Trung Quốc được xuất phát từ sự biến đổi mô hình các liên hiệp xí nghiệp theo kiểu liên kết theo chiều ngang vào cuối những năm 1970 dưới tác động của các cải cách theo hướng thị trường.

Không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của các TĐKTNN đối với sự phát triển thần kỳ của Trung Quốc những thập kỷ qua, song những bất cập về cơ cấu ngành nghề, cơ cấu tổ chức, những hạn chế về quy mô và khả năng cạnh tranh buộc nhà nước Trung Quốc phải tái cơ cấu đối với các tập đoàn này. Quá trình tái cơ cấu TĐKTNN ở Trung Quốc được tiến hành đồng thời và là nội dung quan trọng của tái cơ cấu DNNN. Đặc biệt sau khi gia nhập WTO (2001), quá trình này được tiến hành một cách mạnh mẽ và tăng tốc từ năm 2007 đến nay.

Quá trình tái cơ cấu TĐKTNN ở Trung Quốc được tiến hành một cách khá bài bản từ xác định nguyên tắc, xây dựng quy trình, lựa chọn thí điểm đến xác định nội dung tái cơ cấu:

Một là, xác định rõ các nguyên tắc tái cơ cấu để đảm bảo cho quá trình tái cơ cấu đi đúng hướng

Việc xác định các nguyên tắc chỉ đạo quá trình tái cơ cấu DNNN, trong đó có các TĐKTNN được Trung Quốc rất coi trọng. Trong Quyết định của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về những vấn đề trọng đại đi sâu cải cách toàn diện được thông qua tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII và trong “Ý kiến chỉ đạo về việc thúc đẩy điều chỉnh vốn nhà nước và tái cơ cấu DNNN” (12/2006) của Quốc Vụ viện Trung Quốc đã xác định nhiều nguyên tắc chỉ đạo tái cơ cấu DNNN do Trung ương quản lý. Trong đó nguyên tắc quan trọng nhất là: Kiên trì chế độ kinh tế cơ bản có sở hữu nhà nước là chủ đạo và phát triển đa dạng các hình thức sở hữu khác. Kiên trì củng cố và phát triển kinh tế sở hữu nhà nước, tăng cường năng lực tự khống chế, sức ảnh hưởng và sự dẫn dắt của kinh tế nhà nước, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Kiên trì khuyến khích, hỗ trợ và chỉ đạo đối với sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, khuyến khích và ủng hộ các thành phần kinh tế khác tham gia vào việc điều chỉnh vốn nhà nước và tái cơ cấu DNNN.

Hai là, lựa chọn thí điểm, xây dựng quy trình tái cơ cấu tập đoàn doanh nghiệp

Với tính chất phức tạp cả về phương diện kinh tế, chính trị, xã hội của TĐKTNN, Trung Quốc đã rất thận trọng khi tiến hành tái cơ cấu mô hình kinh tế này bằng việc lựa chọn một số tập đoàn thí điểm, chứ không tiến hành một cách đồng loạt. Ngày 15/7/2014, Ủy ban Giám sát – quản lý tài sản quốc hữu Quốc vụ viện (SASAC) đã công bố một số các tập đoàn được thí điểm lựa chọn với những hướng tái cơ cấu khác nhau. Ví dụ như: Công ty Đầu tư khai thác quốc gia, Tập đoàn Lương thực, dầu ăn, thực phẩm Trung Quốc sẽ triển khai thí điểm cải tổ thành công ty đầu tư vốn nhà nước; TCT Y dược Trung Quốc, Công ty tập đoàn Vật liệu xây dựng Trung Quốc triển khai thí điểm chế độ sở hữu hỗn hợp; TCT Y dược Trung Quốc triển khai thí điểm đổi mới quản trị như mời người quản lý cấp cao điều hành HĐQT, kiểm tra thành tích, quản lý tiền lương, tiền thưởng.

Trên cơ sở các tập đoàn đã được lựa chọn thí điểm, để đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất và đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình tái cơ cấu, SASAC đã xây dựng quy trình tái cơ cấu được thực hiện theo một lộ trình với 5 bước đi cụ thể: Bước 1: Thống nhất lãnh đạo, phân công phụ trách. Bước 2: Tùy từng doanh nghiệp, tiến hành đối chiếu giữa cơ quan lãnh đạo với doanh nghiệp thí điểm, đảm bảo có thể thao tác, thực hiện, đột phá, đưa ra được kinh nghiệm. Bước 3: Tăng cường sự chỉ đạo, mạnh dạn trong thực tiễn. Bước 4: Tổng kết kinh nghiệm, hoàn thiện chính sách. Bước 5: Từng bước triển khai, từng bước nhân rộng.

Ba là, thực hiện tái cơ cấu một cách toàn diện các tập đoàn với những bước đi thích hợp

Nội dung tái cơ cấu TĐKTNN ở Trung Quốc được đánh giá là khá toàn diện, từ xác định lại ngành nghề lĩnh vực kinh doanh mà TĐKTNN cần tập trung; tách chức năng đại diện chủ sở hữu; tái cơ cấu nợ đến xây dựng khung quản trị hiện đại cho các tập đoàn.

Xác định lại ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh mà TĐKTNN cần tập trung

Đối với tái cơ cấu ngành nghề của các TĐKTNN, trong “Ý kiến về việc thúc đẩy việc sáp nhập, tái cơ cấu DNNN” (8/2010) của Quốc Vụ viện Trung Quốc đã xác định rõ: Từng bước thúc đẩy vốn nhà nước tập trung vào các ngành nghề và lĩnh vực then chốt, trọng yếu mang tính huyết mạch của nền kinh tế, từng bước hình thành các doanh nghiệp lớn mạnh có quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu nổi tiếng và năng lực cạnh tranh quốc tế. Theo đó, SASAC đã sớm xác định nguyên tắc vốn nhà nước sẽ tập trung vào những ngành nghề quan trọng và lĩnh vực then chốt có ý nghĩa quan trọng đến sự an toàn quốc gia và nền kinh tế quốc dân. 80-100 DNNN được SASAC có kế hoạch giữ lại sẽ tập trung vào các lĩnh vực tài nguyên, năng lượng, luyện kim, xe ô tô, trang thiết bị lớn, thương mại. Nhà nước Trung Quốc xác định sẽ nắm giữ cổ phần tuyệt đối với 7 ngành nghề bao gồm: công nghiệp quân sự, điện, dầu khí hóa dầu, viễn thông, than, hàng không dân dụng, hàng hải.

Hình thành các công ty kinh doanh vốn nhà nước để tiến hành tái cơ cấu nợ ở các TĐKTNN

Việc sắp xếp, tái cơ cấu tài sản, nợ của các DNNN và TĐKTNN của Trung Quốc do trung ương quản lý khi tái cơ cấu được thực hiện bởi các công ty kinh doanh vốn nhà nước trực thuộc SASAC, cụ thể là: Công ty đầu tư khai thác phát triển quốc gia (SDIC), Công ty cổ phần khống chế Thành Thông Trung Quốc (CCT group), Công ty trách nhiệm hữu hạn cổ phần Quốc Tân (CRHC). Trong đó, CCT, SDIC chuyên xử lý nợ xấu của các DNNN và TĐKTNN, còn Công ty CRHC chuyên về sắp xếp vốn của doanh nghiệp cũng như vốn của các ngành nghề phụ của doanh nghiệp.

SASAC chuyển vốn của các ngành nghề phụ, nợ xấu của doanh nghiệp và những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không tốt cho các công ty kinh doanh tài sản thông qua phương thức ủy thác, chuyển giao miễn phí, mua bán, thay thế tài sản… và các công ty kinh doanh tài sản này sẽ tiến hành xử lý hợp lý các trường hợp này dựa theo nguyên tắc thị trường.

Xây dựng cơ quan ngang bộ quản lý tập trung đối với các TĐKTNN

Trước năm 1998, Trung Quốc thực hiện chế độ bộ chủ quản đối với DNNN và TĐKTNN. Chế độ này đã không còn phù hợp trong điều kiện nền kinh tế thị trường và bộc lộ hạn chế cơ bản cần khắc phục, đó là: Chính phủ đóng vai trò “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, nghĩa là không thực hiện được vai trò đích thực của chính phủ là quản lý nhà nước, cũng không là chủ sở hữu có trách nhiệm, chuyên nghiệp, có hiệu quả. Chính vì vậy, chính phủ cần thay đổi, chuyển từ chức năng chính của mình là lập kế hoạch SXKD, phân bổ các đầu vào, các nguồn quỹ, ban hành các hướng dẫn cho các DNNN sang chức năng quản lý các công việc công cộng, dịch vụ công…

Để giải quyết tình trạng trên, năm 1997 Trung Quốc đã thành lập Ủy ban trung ương các DNNN quy mô lớn. Đây là cơ quan có chức năng trực tiếp giám sát các tập đoàn doanh nghiệp nhằm tách DNNN với các cơ quan hành chính nhà nước. Tuy nhiên, phải đến năm 2003 mới đánh dấu một bước chuyển mạnh mẽ trong tái cơ cấu quản lý nhà nước Trung Quốc với các TĐKTNN bằng quyết định thành lập Ủy ban giám sát và quản lý tài sản nhà nước (SASAC) thuộc Quốc vụ viện (Chính phủ). Việc thành lập SASAC là logic tất yếu của cải cách quản lý DNNN và là giải pháp giải quyết những bế tắc về quản lý, giám sát DNNN và TĐKTNN theo mô hình bộ chủ quản trước đây. Đây là cơ quan đặc thù của chính phủ Trung Quốc quản lý, giám sát tập trung và chuyên trách đối với tất cả các TCT và TĐKTNN ở Trung ương.

Xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại cho các TĐKTNN

Nội dung cơ bản của tái cơ cấu quản trị trong DNNN và TĐKTNN ở Trung Quốc xoay quanh vấn đề xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại. Tư tưởng về chế độ doanh nghiệp hiện đại lần đầu tiên được đề ra tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV Đảng cộng sản Trung Quốc (1993). Tư tưởng này tiếp tục được khẳng định và làm rõ trong một loạt các văn kiện của Đảng cộng sản Trung Quốc sau này. Nội dung về chế độ doanh nghiệp hiện đại có thể khái quát ở mấy điểm sau đây: (1) Thúc đẩy việc xây dựng HĐQT doanh nghiệp theo đúng quy định; (2) tìm tòi xây dựng chế độ giám đốc chuyên nghiệp; (3) thúc đẩy chế độ công khai các thông tin quan trọng của DNNN; (4) xác định hợp lý và quy phạm chặt chẽ mức lương, đãi ngộ chức vụ, chi tiêu chức vụ, chi tiêu nghiệp vụ của cán bộ quản lý trong DNNN.

Bài học rút ra cho Việt Nam từ kinh nghiệm tái cơ cấu tái cơ cấu tập đoàn kinh tế nhà nước ở một số nước trên thế giới

Ảnh minh hoạ

Một là, xác định và giữ vững nguyên tắc cơ bản trong quá trình tái cơ cấu tái cơ cấu tập đoàn kinh tế nhà nước

Xác định và giữ vững nguyên tắc cơ bản trong quá trình tái cơ cấu TĐKTNN là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Những nguyên tắc này sẽ đảm bảo cho quá trình tái cơ cấu không đi chệch hướng mục tiêu ban đầu. Kinh nghiệm của Trung Quốc và Nam Phi chỉ ra rằng, cần và nhất thiết phải xác định những nguyên tắc cơ bản để định hướng quá trình tái cơ cấu. Đặc biệt, nguyên tắc “kiên trì chế độ kinh tế cơ bản” mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xác định cho quá trình tái cơ cấu DNNN có ý nghĩa tham khảo đắt giá cho quá trình tái cơ cấu TĐKTNN ở Việt Nam. Theo Tổng Bí thư Tập Cận Bình, các DNNN không chỉ không thể làm suy yếu mà còn cần tăng cường, đồng thời thực sự đảm nhiệm trách nhiệm xã hội và xây dựng hình tượng tốt. Như vậy, đi sâu cải cách DNNN theo hướng thị trường không phải là làm suy yếu mà làm nó mạnh hơn. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Việt Nam khi mà cuộc đấu tranh lý luận xoay quanh vị trí, vai trò, mục tiêu tái cơ cấu DNNN và các TĐKTNN còn đang diễn ra quyết liệt. Theo chúng tôi, TĐKTNN tồn tại trong nền kinh tế là cần thiết (kinh nghiệm của Liên bang Nga, Trung Quốc, Nam Phi và nhiều nước khác); TĐKTNN có thể hoạt động hiệu quả nếu chúng ta xây dựng được cơ chế ủy quyền, cơ chế hợp đồng trách nhiệm, cơ chế giám sát và chế độ cán bộ hợp lý. Do vậy, tái cơ cấu TĐKTNN ở Việt Nam hiện nay là làm cho nó mạnh lên chứ không phải là xóa bỏ TĐKTNN. Muốn làm được điều đó, vấn đề hiệu quả phải được đặt lên hàng đầu, dù có mang tính XHCN đến đâu mà TĐKTNN không hoạt động hiệu quả thì sứ mạng của nó sẽ bị phủ nhận.

Hai là, lựa chọn tập đoàn thí điểm và xây dựng lộ trình tái cơ cấu một cách khoa học

TĐKTNN có vị trí quan trọng cả về kinh tế, chính trị, xã hội đối với một đất nước. Chính vì vậy, tái cơ cấu TĐKTNN cần được xem xét một cách thận trọng bằng cách tiến hành làm thí điểm, dựa trên việc xác lập quy trình tái cơ cấu một cách khoa học và hợp lý. Trên cơ sở xem xét một cách tổng thể chương trình tái cơ cấu DNNN, Chính phủ Nam Phi đã quyết định lựa chọn 4 trong số hơn 20 TĐKTNN làm trọng tâm của quá trình tái cơ cấu. Trung Quốc cũng rất thận trọng trong tiến hành tái cơ cấu các TĐKTNN. Với phương châm “dò đá qua sông”, SASAC đã lựa chọn một số TĐKT thí điểm tái cơ cấu theo những hướng khác nhau thay vì tiến hành đồng loạt. Sau khi tiến hành tổng kết đánh giá những thành công và thất bại, những mô hình tái cơ cấu thành công sẽ được nhân rộng để triển khai rộng khắp. Đây là cách làm hay, tránh được sự phiêu lưu, mạo hiểm dẫn đến sự sụp đổ trên toàn hệ thống.

Kinh nghiệm tái cơ cấu TĐKTNN ở Trung Quốc cũng chỉ ra rằng, để tái cơ cấu thành công, cần thiết phải xây dựng một quy trình tái cơ cấu một cách khoa học. Trung Quốc đã xây dựng qui trình tái cơ cấu DNNN và các TĐKTNN với 5 bước đi cụ thể. Quy trình này sẽ đảm bảo được tính liên hoàn của các công đoạn tái cơ cấu từ khâu lựa chọn thí điểm, thành lập tổ công tác, đánh giá kết quả đến nhân rộng điển hình. Đồng thời, xây dựng quy trình sẽ đảm bảo cho các thành phần, các bộ phận có tính liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình tái cơ cấu. Điều này sẽ tránh được sự phân tán chỉ đạo, chồng chéo công việc hay đùn đẩy trách nhiệm.

Ba là, cần phải xác định rõ những ngành, lĩnh vực SXKD cần có sự hiện diện của TĐKTNN

Kinh nghiệm tái cơ cấu TĐKTNN ở các nước chỉ ra rằng, TĐKTNN chỉ nên tập trung vào những ngành nghề kinh doanh chính, những ngành nghề có thế mạnh, những ngành nghề trọng yếu của nền kinh tế. Cần thận trọng với kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực vì đó không phải là bản chất của tập đoàn mà chỉ là phương thức kinh doanh của các tập đoàn gắn với các điều kiện nhất định. Trong đó những tập đoàn có đủ nguồn lực và có năng lực quản lý thì thành công; những tập đoàn chỉ có mong muốn nhưng duy ý chí về đa ngành và đa lĩnh vực thì gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí thất bại, phải thoái vốn nhưng rất khó rút vốn. Đây là điều có thể rút ra từ khuynh hướng quá nhấn mạnh việc kinh doanh đa dạng, đa ngành nghề, không chú ý hợp tác phân công chuyên nghiệp hóa trong kinh nghiệm của Trung Quốc. Do đó, Quốc Vụ viện Trung Quốc đã xác định rõ: Từng bước thúc đẩy vốn nhà nước tập trung vào các ngành nghề và lĩnh vực then chốt, trọng yếu mang tính huyết mạch của nền kinh tế, từng bước hình thành các doanh nghiệp lớn mạnh có quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu nổi tiếng và năng lực cạnh tranh quốc tế. Ở Liên bang Nga, các TĐKTNN được định hướng tập trung vào những ngành quan trọng có ý nghĩa cả về phương diện kinh tế và chính trị như: điện lực, quốc phòng, khai thác mỏ, dầu khí. Đối với những TĐKTNN còn lại, nhất là những tập đoàn hoạt động yếu kém và ở những ngành nghề kinh doanh không phải trọng yếu sẽ được cổ phần hóa.

Bốn là, xây dựng và ứng dụng khung quản trị hiện đại cho các TĐKTNN

Quản trị luôn là khâu yếu nhất của các DNNN, trong đó có các TĐKTNN ở Việt Nam hiện nay. Để nâng cao hiệu quả và năng suất lao động cũng như năng lực cạnh tranh của các TĐKTNN, Chính phủ nên tập trung cải cách các thể chế chính sách hỗ trợ áp dụng đầy đủ khuôn khổ quản trị doanh nghiệp hiện đại theo chuẩn mực quốc tế. Kinh nghiệm một số nước cho thấy, tái cơ cấu quản trị cần tập trung vào vấn đề thực hiện vai trò chủ sở hữu của Nhà nước; trách nhiệm và nghĩa vụ của HĐQT; công bố và minh bạch hóa thông tin.

Đối với thực hiện vai trò chủ sở hữu của Nhà nước: Nhà nước cần đóng vai trò như một thực thể sở hữu. Muốn vậy, Nhà nước cần thiết lập một cơ chế sở hữu rõ ràng và nhất quán, bảo đảm cho công tác quản trị của TĐKTNN được thực hiện một cách minh bạch và trách nhiệm. Kinh nghiệm của Liên bang Nga, Trung Quốc, đều cho thấy, Chính phủ không nên tham gia vào quản lý trực tiếp TĐKTNN, mà nên tôn trọng quyền độc lập của HĐQT.

Đối với HĐQT: Cần phải tách bạch giữa HĐQT và Ban giám đốc điều hành. Kinh nghiệm trong xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại của Trung Quốc cho thấy, cần phát huy tính độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của HĐQT, trên cơ sở các quy định của pháp luật. Đối với Việt Nam, Chính phủ phải quy định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của các HĐQT của TĐKTNN. Hội đồng cần có được thẩm quyền và sự độc lập cần thiết để thực hiện chức năng định hướng và giám sát trong hoạt động quản trị chiến lược. Khi đó HĐQT sẽ phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ hành động của họ.

Vấn đề công khai, minh bạch thông tin: Kinh nghiệm của Liên bang Nga cho thấy, các nguyên tắc hoạt động chủ yếu của các tập đoàn đều phục vụ các lợi ích của nhà nước, công khai, minh bạch, tự chủ. Do vậy, Chính phủ Việt Nam cần đẩy mạnh việc minh bạch hóa thông tin hoạt động của TĐKTNN để tránh hiện tượng tham nhũng và củng cố niềm tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước đối với quá trình tái cơ cấu TĐKTNN.

Năm là, huy động các nguồn lực đẩy mạnh tái cơ cấu tài chính TĐKTNN

Tái cơ cấu tài chính là vấn đề tương đối khó khăn bởi quy mô và tính phức tạp của cơ cấu tài chính hiện thời trong các tập đoàn. Thêm vào đó, trong các Đề án tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là các TĐKT, TCT nhà nước và các Đề án tái cơ cấu của từng TĐKTNN cũng chưa xác định được nguồn kinh phí cho quá trình tái cơ cấu. Chính vì vậy, phải huy động các nguồn lực cả trong và ngoài nước để tái cơ cấu vốn đầu tư, tái cơ cấu nợ đối với các TĐKTNN hiện nay. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, việc xử lý nợ và tái cơ cấu tài sản các TKTNN được tiến hành bằng cách thành lập các công ty kinh doanh vốn nhà nước trực thuộc SASAC. SASAC sẽ chuyển vốn của các ngành nghề phụ, nợ xấu của doanh nghiệp và những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không tốt cho các công ty kinh doanh tài sản thông qua phương thức ủy thác, chuyển giao miễn phí, mua bán, thay thế tài sản… Cùng với việc tận dụng tối đa nguồn lực trong nước để thực hiện tái cơ cấu TĐKTNN, cả Trung Quốc và Nam Phi đều rất chú trọng tận dụng và khai thác nguồn lực từ bên ngoài, nhất là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để giải quyết những vấn đề khó khăn về khan hiếm nguồn lực.

Kết luận

Tái cơ cấu TĐKTNN là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta và là một đòi hỏi khách quan xuất phát từ yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế; từ những bất hợp lý trong cơ cấu hiện tại của các tập đoàn và từ sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp nước ngoài, nhất là các TĐKT lớn trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tái cơ cấu TĐKTNN không chỉ đơn thuần là vấn đề mang tính kinh tế, mà còn có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, chính trị, tâm lý xã hội. Trên thế giới, DNNN trong đó có các TĐKTNN tồn tại ở những mức độ khác nhau và có vị trí, vai trò không giống nhau ở mỗi quốc gia. Trong quá trình phát triển, cùng với những thay đổi trong nội bộ tập đoàn và môi trường kinh doanh, TĐKTNN ở các quốc gia cũng được tái cơ cấu một cách thường xuyên. Quá trình tái cơ cấu TĐKTNN không đồng nhất giữa các quốc gia và phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa của các quốc gia cụ thể. Do đó, kết quả tái cơ cấu TĐKTNN đạt được cũng rất khác nhau, chứa đựng cả những bài học thành công và thất bại. Việc nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia về tái cơ cấu TĐKTNN cho phép chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, có ý nghĩa hết sức thiết thực đối với quá trình tái cơ cấu TĐKTNN ở Việt Nam.

TS. Nguyễn Đức Long – Học viện Chính trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Tô Thị Ánh Dương (2015), Tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và tái cơ cấu ngân hàng thương mại, Nxb KHXH, Hà Nội.
  2. Nguyễn Hữu Đạt, Ngô Tuấn Nghĩa (2013), Tập đoàn kinh tế trong việc thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế, Nxb Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
  3. Michael Hammer, James Champy, Vũ Tiến Phúc (dịch) (2004), Tái lập công ty, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh.
  4. Trần Kim Hào, Bùi Văn Dũng (2014), Hình thành, phát triển và quản lý tập đoàn kinh tế: lý luận, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
  5. Trần Kim Hào, Bùi Văn Dũng (2015), Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
  6. Bùi Văn Huyền (2008), Xây dựng và phát triển Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội.
  7. D J Fourie (2012), The Restructuring of State-Owned Enterprises: South African Initiatives, Professor in the School of Public Management and Administration, University of Pretoria, South Africa.
  8. Graham, Edward M.(2003). Reforming Korea’s Industrial Conglomerates, Institute for International Economics.
  9. Kang, J.-K., Lee, I. & Na, H.S. (2010), “Economic shock, owner-manager incentives, and corporate restructuring: Evidence from the financial crisis in Korea”, Business finance magazine, 16 (3), 333-351.
  10. Sushil Khanna (2012), “State-Owned Enterprises in India: Restructuring and Growth”, Asian Studies Journal, ISSN (print): 1395-4199, ISSN (online): 2246-2163.