Thứ Bảy, Tháng 2 14, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Thành lập quân giải phóng miền Nam Việt Nam – Bước phát triển chiến lược của chiến tranh nhân dân



ĐNA -

Ngày 15/2/1961, tại Chiến khu D, các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam được thống nhất thành Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Quốc phòng và Quân ủy Trung ương do Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo. Sự kiện đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của cách mạng miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, chuyển từ đấu tranh phân tán sang tổ chức quân sự thống nhất, tạo nền tảng cho những thắng lợi sau này. Không chỉ có ý nghĩa quân sự, sự ra đời của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam còn mang giá trị lịch sử, chính trị, ngoại giao sâu sắc và để lại nhiều bài học cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Xe tăng Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập, trưa ngày 30/4/1975.

Góc nhìn lịch sử
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt hai miền. Đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp, dựng chính quyền Ngụy Sài Gòn và mở nhiều chiến dịch đàn áp cách mạng, khiến hàng vạn cán bộ, đảng viên, quần chúng yêu nước bị bắt bớ, tù đày. Trong hoàn cảnh đó, cách mạng miền Nam vừa bảo toàn lực lượng, vừa chuẩn bị cho đấu tranh lâu dài, tạo cơ sở hình thành lực lượng vũ trang thống nhất.

Phong trào Đồng khởi 1959–1960, khởi đầu ở Bến Tre và lan rộng khắp Nam Bộ, đã làm thay đổi cục diện. Hàng trăm xã, ấp nổi dậy phá thế kìm kẹp; sự kết hợp giữa đấu tranh chính trị và vũ trang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một lực lượng quân sự thống nhất để bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng.

Ngày 15/2/1961, tại Chiến khu D, Hội nghị quân sự quyết định thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, gồm lực lượng ở lại, lực lượng tại chỗ và lực lượng tập kết trở lại miền Nam. Đây là bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự kiện đánh dấu bước phát triển tất yếu của cách mạng miền Nam, nâng cao khả năng tổ chức và phối hợp chiến đấu.

Từ mốc này, cách mạng miền Nam bước sang giai đoạn mới với những chiến thắng như Ấp Bắc (1963), Bình Giã (1964–1965), Ba Gia, Đồng Xoài…, khẳng định sự trưởng thành của lực lượng vũ trang và tạo nền tảng cho thắng lợi năm 1975.

Trung úy Bùi Quang Thận (cầm cờ, phía trước) cùng 3 chiến sĩ của Quân đoàn 2 – Binh đoàn Hương Giang tiến vào cắm cờ trên nóc Phủ Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975. Ảnh: Vũ Tạo – TTXVN

Góc nhìn quân sự
Quân giải phóng miền Nam vận dụng sáng tạo nghệ thuật chiến tranh nhân dân, tổ chức ba thứ quân, chủ lực, địa phương và du kích phối hợp linh hoạt trên nhiều địa hình rừng núi, đồng bằng, sông nước. Dù trang bị còn hạn chế, nhờ tinh thần chiến đấu và cách đánh phù hợp, lực lượng cách mạng từng bước thay đổi tương quan trên chiến trường.

Các trận Ấp Bắc (1963), Bình Giã (1964–1965) cho thấy khả năng đánh bại chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận của quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Những thắng lợi này không chỉ có ý nghĩa quân sự mà còn tác động mạnh đến dư luận quốc tế, làm lung lay chiến lược chiến tranh của đối phương.

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Quân giải phóng giữ vai trò nòng cốt, duy trì thế chủ động dù đối mặt hỏa lực lớn. Diễn biến này buộc Mỹ phải xuống thang và chấp nhận đàm phán tại Paris, mở ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến.

Thực tiễn cho thấy sự kết hợp giữa ý chí chiến đấu, nghệ thuật quân sự linh hoạt và sự lãnh đạo thống nhất đã giúp Quân giải phóng miền Nam trở thành lực lượng chủ lực, góp phần quan trọng vào thắng lợi mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.

Đại tướng Lê Đức Anh (hàng đầu bên phải) với các lãnh đạo Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Góc nhìn chính trị – ngoại giao
Sự ra đời của Quân giải phóng miền Nam củng cố tính chính danh của phong trào cách mạng miền Nam, không chỉ với tư cách một lực lượng quân sự mà còn là biểu tượng cho ý chí độc lập, tự do của nhân dân. Đây cũng là cơ sở quan trọng dẫn tới sự thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam năm 1969.

Trên trường quốc tế, phong trào cách mạng miền Nam nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các nước xã hội chủ nghĩa và lực lượng tiến bộ. Liên Xô, Trung Quốc, Cuba, Lào cùng nhiều quốc gia khác đã hỗ trợ về vật chất và ngoại giao, tạo hậu thuẫn quốc tế quan trọng cho cách mạng Việt Nam.

Chiến trường và bàn đàm phán luôn gắn bó chặt chẽ. Những thắng lợi quân sự của Quân giải phóng tạo thế mạnh cho tiến trình đàm phán tại Hội nghị Paris (1968–1973), thể hiện sự kết hợp hiệu quả giữa quân sự, chính trị và ngoại giao.

Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 buộc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, đánh dấu thắng lợi lớn về ngoại giao và tạo điều kiện thuận lợi để cách mạng miền Nam tiến tới Tổng tiến công năm 1975. Trong tiến trình đó, Quân giải phóng miền Nam giữ vai trò chiến lược quan trọng.

Góc nhìn thời sự
Ngày nay, truyền thống của Quân giải phóng miền Nam được kế thừa trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Bài học xây dựng lực lượng từ nhân dân, vì nhân dân vẫn giữ nguyên giá trị trong bối cảnh mới.

Chiến tranh nhân dân không chỉ là kinh nghiệm lịch sử mà còn là nền tảng tư duy quốc phòng hiện đại. Trong điều kiện hội nhập sâu rộng, sức mạnh tổng hợp của quốc gia, kết hợp kinh tế, quốc phòng và ngoại giao, tiếp tục giữ vai trò then chốt trong bảo vệ Tổ quốc.

Tinh thần đoàn kết dân tộc, gắn kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại từng làm nên thắng lợi trước đây, nay tiếp tục được phát huy trong bảo vệ chủ quyền và phát triển đất nước.

Quân đội Việt Nam hiện đại không chỉ kế thừa truyền thống chiến đấu mà còn tích cực tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và mở rộng hợp tác quốc phòng quốc tế, thể hiện sự tiếp nối sinh động truyền thống Quân giải phóng miền Nam trong thời kỳ mới.

Khối si quan đại diện 5 cánh quân.

Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại
Sự kiện 15/2/1961 khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Từ những đơn vị ban đầu, Quân giải phóng miền Nam đã trưởng thành thành lực lượng chủ lực, góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Bài học lớn rút ra là vai trò lãnh đạo thống nhất của Đảng và mối quan hệ gắn bó giữa quân đội với nhân dân, nguyên tắc nền tảng trong xây dựng quốc phòng toàn dân và quân đội hiện đại ngày nay.

Thực tiễn cũng cho thấy giá trị của đoàn kết quốc tế. Sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và lực lượng tiến bộ là nguồn động lực quan trọng cho thắng lợi của Việt Nam, đồng thời đặt nền tảng cho chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác hiện nay.

Trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, nhiệm vụ xây dựng quân đội hiện đại, giữ vững độc lập tự chủ và tăng cường hợp tác quốc tế tiếp tục mang ý nghĩa chiến lược lâu dài, vận dụng sáng tạo bài học lịch sử vào thực tiễn mới.

Từ Quân giải phóng miền Nam đến Quân đội nhân dân Việt Nam hôm nay, có thể khẳng định: khi sức mạnh dân tộc được tổ chức, lãnh đạo đúng đắn và kết hợp hài hòa với sức mạnh thời đại, đất nước sẽ vững vàng bảo vệ độc lập, chủ quyền và phát triển bền vững.

Thế Nguyễn – Minh Văn