Thanh tra Chính phủ đã chuyển hồ sơ các vi phạm trong phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ của ba công ty thuộc hệ sinh thái Hưng Thịnh sang Bộ Công an để xem xét, xử lý theo thẩm quyền. Đây là nội dung đáng chú ý trong thông báo kết luận thanh tra do Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Dương Quốc Huy ký ban hành, liên quan đến việc chấp hành quy định pháp luật về phát hành và sử dụng nguồn tiền từ trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ.

Thông tin về những vi phạm, khuyết điểm trong hoạt động phát hành và sử dụng tiền thu từ trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ của 3 công ty gồm Công ty CP Hưng Thịnh Land, Công ty CP Hưng Thịnh Investment và Công ty CP Dịch vụ Giải trí Hưng Thịnh Quy Nhơn đã được Thanh tra Chính phủ chuyển tới Bộ Công an để xem xét, xử lý theo thẩm quyền. Động thái này cho thấy tính chất, mức độ của các sai phạm không chỉ dừng ở xử lý hành chính mà có dấu hiệu cần làm rõ trách nhiệm theo quy định pháp luật hình sự.
Không chỉ nhóm doanh nghiệp Hưng Thịnh, kết luận thanh tra còn mở rộng sang nhiều tổ chức phát hành khác. Việc sử dụng tiền thu từ trái phiếu không đúng kế hoạch đã công bố với nhà đầu tư được ghi nhận tại Công ty CP Đầu tư Thành Thành Công, Công ty CP Thành Thành Công Biên Hòa, Công ty CP Đầu tư Nam Long, Công ty CP Tập đoàn Gelex, Công ty CP Hưng Thịnh Investment… Đây là hành vi vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin và cam kết với nhà đầu tư, yếu tố cốt lõi bảo đảm niềm tin trên thị trường vốn.
Đặc biệt, tại Công ty CP Tập đoàn Gelex, doanh nghiệp đã sử dụng tiền thu được từ đợt phát hành trái phiếu cho mục đích khác trước khi Hội nghị người sở hữu trái phiếu thông qua nghị quyết thay đổi mục đích sử dụng vốn. Điều này cho thấy quy trình lấy ý kiến trái chủ – vốn là cơ chế bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư – đã không được tuân thủ đúng trình tự.
Một số doanh nghiệp khác cũng bị chỉ ra các vi phạm như không thực hiện đúng cam kết với nhà đầu tư trong hợp đồng đặt mua trái phiếu (Công ty CP Cơ điện lạnh); cho vay, gửi ngân hàng trước khi sử dụng vốn theo phương án phát hành (Công ty CP Cơ điện lạnh, Công ty CP Tập đoàn R&H, Công ty CP Đầu tư và Quản lý khách sạn TNH…). Việc “xoay vòng” dòng tiền trái phiếu theo cách này tiềm ẩn rủi ro mất cân đối thanh khoản và làm sai lệch mục đích huy động vốn ban đầu.
Thanh tra Chính phủ cũng phát hiện tình trạng sử dụng tiền trái phiếu để đặt cọc hợp tác kinh doanh tại các dự án chưa đủ điều kiện huy động vốn, xảy ra tại Công ty CP Hội An Invest. Trong khi đó, Công ty CP Chứng khoán Rồng Việt bị chỉ ra thực hiện phương thức phát hành trái phiếu chưa phù hợp, đồng thời thông tin công bố trên chuyên trang về trái phiếu doanh nghiệp chưa đầy đủ nội dung theo quy định.
Theo số liệu được dẫn trong kết luận thanh tra, trong giai đoạn từ năm 2019 đến ngày 30/11/2024, 26 tổ chức phát hành thuộc diện thanh tra đã phát hành tổng cộng 271 mã trái phiếu, với tổng giá trị lên tới 119.778 tỷ đồng. Con số này cho thấy quy mô rất lớn của dòng vốn trái phiếu riêng lẻ trong những năm qua và cũng lý giải vì sao việc siết chặt kỷ cương, xử lý nghiêm các vi phạm được xem là yêu cầu cấp thiết nhằm củng cố tính minh bạch, an toàn của thị trường trái phiếu doanh nghiệp.

Việc chuyển hồ sơ sang Bộ Công an đối với một số trường hợp cụ thể được nhìn nhận là bước đi mạnh tay trong bối cảnh thị trường vốn đang trong quá trình tái cấu trúc, nhằm lập lại trật tự và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở xử lý sai phạm của doanh nghiệp mà không nhìn thẳng vào những bất cập trong cơ chế quản lý thì sẽ khó ngăn chặn nguy cơ tái diễn.
Thực tế cho thấy, trong một thời gian dài, nhiều đợt phát hành trái phiếu riêng lẻ được chấp thuận khi tài sản bảo đảm là dự án chưa hoàn tất pháp lý, quyền tài sản phát sinh trong tương lai hoặc cổ phần tại các công ty chưa niêm yết, khó định giá và thanh khoản thấp. Những tài sản này, trên danh nghĩa có thể đáp ứng điều kiện phát hành, nhưng khi rủi ro xảy ra lại rất khó xử lý, thậm chí không đủ giá trị thực tế để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cho trái chủ. Điều đó cho thấy khâu thẩm định, giám sát tài sản bảo đảm còn nặng về hình thức, thiếu cơ chế đánh giá tính khả thi và khả năng thu hồi vốn trong kịch bản xấu.
Bên cạnh đó, cơ chế hậu kiểm và giám sát dòng tiền sau phát hành chưa thực sự hiệu quả. Việc doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, thay đổi phương án sử dụng vốn khi chưa được trái chủ thông qua, hay đem tiền trái phiếu đi đặt cọc, cho vay, gửi ngân hàng… diễn ra trong thời gian dài mới được phát hiện, phản ánh sự thiếu xuyên suốt trong theo dõi và cảnh báo sớm rủi ro. Khi thị trường thuận lợi, các lỗ hổng này bị che lấp bởi dòng tiền mới; nhưng khi thanh khoản suy giảm, hệ quả lập tức bộc lộ, và người chịu thiệt trực tiếp là nhà đầu tư – đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân.
Vì vậy, bên cạnh việc xử lý nghiêm trách nhiệm của các tổ chức phát hành, cần làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc thẩm định điều kiện phát hành và giám sát tài sản bảo đảm. Việc nâng chuẩn tài sản bảo đảm theo hướng ưu tiên tài sản có tính pháp lý đầy đủ, giá trị thực và khả năng thanh khoản cao; siết chặt kiểm soát mục đích sử dụng vốn; tăng cường công khai, minh bạch thông tin và cơ chế giám sát độc lập sau phát hành là yêu cầu cấp thiết.
Chỉ khi lấp đầy những “khoảng trống” quản lý này, thị trường trái phiếu doanh nghiệp mới có thể vận hành minh bạch, bền vững và thực sự trở thành kênh huy động vốn an toàn cho nền kinh tế, thay vì là nơi rủi ro bị chuyển giao phần lớn sang phía nhà đầu tư.
H. Hoa


