Chủ Nhật, Tháng 3 29, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Thực trạng và một số Giải pháp nâng cao năng lực Tư duy phản biện của học viên đào tạo dài hạn tại Học viện Kỹ thuật quân sự hiện nay



ĐNA -

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao được đặt ra như một nhiệm vụ chiến lược. Đối với Học viện Kỹ thuật Quân sự (HVKTQS) – trung tâm đào tạo kỹ sư quân sự hàng đầu của cả nước, việc hình thành và phát triển năng lực tư duy phản biện (TDPB) cho học viên đào tạo dài hạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. TDPB không chỉ là công cụ nhận thức khoa học giúp học viên tiếp cận tri thức, giải quyết vấn đề chuyên môn mà còn là nền tảng hình thành bản lĩnh chính trị, khả năng đấu tranh tư tưởng, thích ứng với môi trường quân sự đa chiều và biến động nhanh. Bài viết tập trung phân tích thực trạng, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực TDPB cho đối tượng học viên này trong giai đoạn hiện nay.

Thực trạng nâng cao năng lực tư duy phản biện của học viên đào tạo dài hạn tại Học viện Kỹ thuật Quân sự

Ưu điểm và nguyên nhân

Kết quả khảo sát xã hội học với 50 cán bộ, giảng viên và 200 học viên (thực hiện tháng 01/2026) cùng phân tích thực tế cho thấy những ưu điểm nổi bật:

Thứ nhất, đa số học viên được trang bị hệ thống tri thức khoa học tương đối vững chắc làm nền tảng cho TDPB. Chương trình đào tạo kỹ sư quân sự tại HVKTQS được xây dựng theo hướng chuẩn hóa, kết hợp chặt chẽ giữa khoa học cơ bản, chuyên ngành kỹ thuật và khoa học xã hội nhân văn. Cấu trúc nội dung đào tạo có tính hệ thống, liên thông giữa các học phần đã tạo điều kiện để học viên hình thành nền tảng tri thức toàn diện. Kết quả khảo sát cho thấy, có 44/50 (88%) cán bộ, giảng viên đánh giá học viên có nền tảng tri thức phản biện tương đối tốt; 172/200 (86%) học viên khẳng định tri thức phản biện là một trong những thành tố quan trọng hàng đầu cấu thành năng lực TDPB.

Thứ hai, kỹ năng TDPB của học viên từng bước được hình thành và phát triển thông qua hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học và thực hành chuyên môn. Việc tổ chức thảo luận nhóm, seminar chuyên đề, giải quyết bài toán kỹ thuật, thực hành phòng thí nghiệm và nghiên cứu đề tài khoa học đã rèn luyện cho học viên kỹ năng lập luận logic, kỹ năng đánh giá đa chiều và kỹ năng phản biện khoa học. 39/50 (78%) cán bộ, giảng viên và 169/200 (84,5%) học viên đánh giá kỹ năng TDPB có vai trò quan trọng và đang được hình thành, phát triển.

Thứ ba, thái độ TDPB của đa số học viên ngày càng được củng cố theo hướng khách quan, cầu thị và có trách nhiệm. Môi trường sư phạm quân sự chính quy góp phần hình thành ở học viên thái độ nghiêm túc trong nhận thức, tôn trọng chân lý khoa học và tinh thần cầu thị trong tiếp thu ý kiến. 36/50 (72%) cán bộ, giảng viên đánh giá cao thái độ phản biện của học viên; 175/200 (87,5%) học viên nhận định thái độ phản biện khoa học của bản thân có vai trò quan trọng.

Thứ tư, phẩm chất cá nhân phục vụ TDPB của đa số học viên từng bước được hình thành và phát triển. Quá trình học tập, rèn luyện trong môi trường quân đội giúp học viên bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, tính độc lập trong suy nghĩ, tinh thần trách nhiệm và ý thức kỷ luật. 40/50 (80%) cán bộ, giảng viên và 179/200 (89,5%) học viên khẳng định phẩm chất cá nhân có vai trò quan trọng trong cấu thành năng lực TDPB.

Nguyên nhân của ưu điểm được xác định từ sự tác động đồng bộ của ba nhân tố cơ bản: (1) chất lượng GD-ĐT, bồi dưỡng và rèn luyện của Học viện ngày càng được nâng cao; (2) môi trường văn hóa sư phạm quân sự chính quy, dân chủ và giàu tính học thuật; (3) nhân tố chủ quan của học viên đào tạo dài hạn được phát huy, với động cơ học tập đúng đắn, ý thức rèn luyện cao và tinh thần nghiên cứu khoa học tích cực.

Ảnh minh hoạ

Hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định, đó là:

Thứ nhất, một số học viên còn hạn chế về hệ thống tri thức làm nền tảng cho TDPB. Biểu hiện ở việc phân tích vấn đề còn thiên về mô tả hiện tượng, chưa đi sâu vào bản chất, nguyên nhân và mối liên hệ; khả năng tổng hợp và khái quát hóa tri thức còn hạn chế; việc liên hệ kiến thức giữa các lĩnh vực chưa linh hoạt. Kết quả khảo sát cho thấy, 6/50 (12%) cán bộ, giảng viên và 28/200 (14%) học viên nhận định tri thức phản biện còn chưa đầy đủ, đặc biệt là tri thức cơ sở ngành và tri thức phương pháp luận.

Thứ hai, kỹ năng TDPB của một số học viên chưa phát triển vững chắc, thiếu tính chủ động và hệ thống. Một bộ phận học viên chưa hình thành đầy đủ các kỹ năng cốt lõi như xác định vấn đề, phân tích dữ liệu, xây dựng lập luận và đánh giá quan điểm. Việc phản biện ý kiến của người khác đôi khi còn mang tính cảm tính, thiếu dẫn chứng. 11/50 (22%) cán bộ, giảng viên và 31/200 (15,5%) học viên tự đánh giá kỹ năng TDPB còn hạn chế.

Thứ ba, thái độ TDPB của một số học viên còn biểu hiện thụ động, thiếu tích cực trong trao đổi học thuật. Một số học viên có tâm lý e ngại khi đưa ra ý kiến khác biệt, chưa mạnh dạn trao đổi với giảng viên hoặc bạn học; có xu hướng tiếp nhận kiến thức thụ động, ít đặt câu hỏi hoặc chưa chủ động kiểm chứng thông tin. 14/50 (28%) cán bộ, giảng viên và 25/200 (12,5%) học viên tự đánh giá thái độ phản biện thiếu tích cực. Đặc biệt, có 41/200 (20,5%) học viên nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò của việc nâng cao năng lực TDPB.

Thứ tư, phẩm chất cá nhân phục vụ TDPB của một số học viên còn hạn chế. Một bộ phận học viên chưa thể hiện rõ tính độc lập trong suy nghĩ, còn phụ thuộc vào ý kiến của giảng viên hoặc tài liệu; bản lĩnh khoa học, sự tự tin khi bảo vệ quan điểm và tinh thần trách nhiệm đối với kết luận khoa học chưa cao. 10/50 (20%) cán bộ, giảng viên và 21/200 (10,5%) học viên tự nhận định phẩm chất cá nhân chưa cần thiết hoặc còn hạn chế.

Nguyên nhân của hạn chế được xác định từ sự tác động chưa đồng bộ của ba nhân tố cơ bản:

Thứ nhất, chất lượng GD-ĐT ở một số nội dung chưa thật sự đồng bộ. Một số học phần còn nặng về truyền thụ kiến thức, chưa chú trọng đầy đủ đến rèn luyện kỹ năng phân tích, đánh giá và lập luận khoa học. Phương pháp giảng dạy của một số giảng viên vẫn thiên về thuyết trình, ít tổ chức thảo luận, tranh luận.

Thứ hai, môi trường văn hóa sư phạm quân sự chưa phát huy đầy đủ tính dân chủ học thuật. Việc tổ chức trao đổi học thuật chưa thật sự thường xuyên, không gian thảo luận còn hạn chế. Tâm lý tôn trọng cấp trên trong môi trường quân sự đôi khi khiến học viên e dè khi bày tỏ ý kiến khác biệt.

Thứ ba, nhân tố chủ quan của một bộ phận học viên chưa được phát huy đầy đủ. Một số học viên còn thiếu động cơ học tập tích cực, thói quen tiếp nhận kiến thức thụ động, khả năng tự học, tự nghiên cứu và tinh thần độc lập trong suy nghĩ chưa cao.

Ảnh minh hoạ

Một số giải pháp nâng cao năng lực tư duy phản biện của học viên đào tạo dài hạn tại Học viện KTQS

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng tiến hành đối với nâng cao năng lực tư duy phản biện của học viên đào tạo dài hạn tại Học viện Kỹ thuật quân sự

Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng tiến hành đối với nâng cao năng lực TDPB của học viên đào tạo dài hạn tại HVKTQS là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, giữ vai trò mở đường, định hướng và chi phối hiệu quả của toàn bộ hệ thống giải pháp nâng cao năng lực TDPB trong giai đoạn hiện nay. Về bản chất, nâng cao năng lực TDPB là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của các chủ thể giáo dục nhằm phát triển đồng bộ tri thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất cá nhân của học viên. Do đó, trình độ nhận thức, mức độ trách nhiệm và quyết tâm của các chủ thể, lực lượng tiến hành có ảnh hưởng trực tiếp đến phương hướng, nội dung và hiệu quả của quá trình này. Thực tiễn cho thấy, nơi nào các chủ thể giáo dục nhận thức đúng vị trí, vai trò của năng lực TDPB và đề cao trách nhiệm tổ chức thực hiện thì việc nâng cao năng lực này được tiến hành đồng bộ, hiệu quả; ngược lại, nếu nhận thức còn phiến diện, trách nhiệm chưa rõ ràng, hoạt động nâng cao năng lực TDPB dễ rơi vào tình trạng hình thức, thiếu chiều sâu và thiếu tính bền vững.

Cơ sở của giải pháp này xuất phát từ nhân tố cơ bản quy định về chất lượng giáo dục đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện; yêu cầu nâng cao năng lực TDPB gắn với chuẩn đầu ra đào tạo và thực trạng đã chỉ ra rằng việc tổ chức các hoạt động rèn luyện TDPB còn chưa đồng đều, sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục chưa thật sự chặt chẽ, một số chủ thể chưa nhận thức đầy đủ vai trò của TDPB trong đào tạo kỹ sư quân sự. Bên cạnh đó, đặc điểm môi trường đào tạo quân sự đòi hỏi sự lãnh đạo thống nhất, tổ chức chặt chẽ và trách nhiệm cao của các chủ thể trong quá trình giáo dục. Vì vậy, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng tiến hành là điều kiện tiên quyết để khắc phục hạn chế, phát huy ưu điểm, tạo sự chuyển biến đồng bộ trong nâng cao năng lực TDPB của học viên.

Đối với cấp ủy, chỉ huy các cấp của Học viện, cần nâng cao nhận thức về vai trò của năng lực TDPB đối với chất lượng đào tạo kỹ sư quân sự, từ đó tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện đối với hoạt động nâng cao năng lực này. Cấp ủy, chỉ huy cần đưa nội dung nâng cao năng lực TDPB vào nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch GD-ĐT, xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ cụ thể. Đồng thời, cần chỉ đạo xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, khoa giáo viên và đơn vị quản lý học viên trong tổ chức các hoạt động rèn luyện TDPB. Việc tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết hoạt động nâng cao năng lực TDPB cũng là biện pháp quan trọng nhằm kịp thời phát hiện hạn chế, điều chỉnh nội dung và phương pháp tổ chức thực hiện. Thông qua đó, bảo đảm hoạt động nâng cao năng lực TDPB được triển khai thống nhất, đồng bộ và hiệu quả.

Đối với các cơ quan chức năng của Học viện, việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm cần gắn với vai trò tham mưu, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các hoạt động nâng cao năng lực TDPB. Các cơ quan chức năng cần chủ động nghiên cứu, tham mưu xây dựng kế hoạch tổng thể nâng cao năng lực TDPB gắn với chuẩn đầu ra đào tạo. Đồng thời, cần phối hợp với các khoa giáo viên và đơn vị quản lý học viên tổ chức các hoạt động học thuật, nghiên cứu khoa học, hội thảo chuyên đề nhằm tạo điều kiện cho học viên rèn luyện TDPB. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực TDPB, lồng ghép vào đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học viên. Việc làm này giúp tạo động lực cho học viên và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể giáo dục trong tổ chức thực hiện.

Đối với các khoa giáo viên, đặc biệt là đội ngũ giảng viên, nâng cao nhận thức và trách nhiệm có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến chất lượng nâng cao năng lực TDPB của học viên. Giảng viên không chỉ truyền thụ tri thức chuyên môn mà còn giữ vai trò định hướng phương pháp tư duy khoa học cho học viên. Vì vậy, mỗi giảng viên cần nhận thức rõ việc phát triển TDPB là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình giảng dạy, từ đó chủ động đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học viên. Cụ thể, giảng viên cần tăng cường sử dụng phương pháp nêu vấn đề, tổ chức thảo luận, khuyến khích học viên đặt câu hỏi, tranh luận và bảo vệ quan điểm khoa học. Đồng thời, giảng viên cần tích cực hướng dẫn học viên tham gia nghiên cứu khoa học, thực hành chuyên môn, qua đó rèn luyện kỹ năng phân tích và đánh giá vấn đề. Việc nâng cao trách nhiệm của giảng viên còn thể hiện ở việc làm gương về tư duy khoa học, khách quan, qua đó tác động trực tiếp đến quá trình hình thành năng lực TDPB của học viên.

Đối với các đơn vị quản lý học viên, việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm cần được thể hiện trong tổ chức, quản lý và định hướng hoạt động học tập, rèn luyện của học viên. Cán bộ quản lý học viên cần nhận thức rõ vai trò của môi trường học tập, sinh hoạt trong phát triển TDPB, từ đó tạo điều kiện cho học viên tham gia các hoạt động học thuật, nghiên cứu khoa học và trao đổi chuyên môn. Đồng thời, cần khuyến khích học viên đặt câu hỏi, trình bày quan điểm khoa học, tham gia thảo luận tập thể. Việc gắn trách nhiệm của cán bộ quản lý với kết quả phát triển năng lực TDPB của học viên cũng là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục. Bên cạnh đó, cần phối hợp chặt chẽ với giảng viên và các cơ quan chức năng để tổ chức các hoạt động ngoại khóa, diễn đàn học thuật, qua đó tạo môi trường thuận lợi cho học viên rèn luyện TDPB.

Đối với bản thân học viên, nâng cao nhận thức và trách nhiệm về vai trò của TDPB là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình tự rèn luyện. Học viên cần nhận thức rõ rằng TDPB là năng lực cần thiết để đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp của kỹ sư quân sự trong điều kiện phát triển KHCN hiện nay. Trên cơ sở đó, học viên cần chủ động tham gia các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, tích cực trao đổi học thuật, tự học và tự đánh giá kết quả học tập. Việc nâng cao trách nhiệm của học viên góp phần tạo sự thống nhất giữa tác động giáo dục và quá trình tự rèn luyện, qua đó nâng cao hiệu quả phát triển năng lực TDPB.

Như vậy, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng tiến hành là giải pháp mang tính nền tảng, có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao năng lực TDPB của học viên đào tạo dài hạn. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động giữa các chủ thể giáo dục, góp phần khắc phục những hạn chế, phát huy ưu điểm và triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao năng lực TDPB, đáp ứng yêu cầu đào tạo kỹ sư quân sự trong giai đoạn hiện nay.

Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp nâng cao năng lực tư duy phản biện của học viên đào tạo dài hạn gắn liền với chuẩn đầu ra chương trình đào tạo của Học viện

Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp nâng cao năng lực TDPB của học viên đào tạo dài hạn gắn liền với chuẩn đầu ra chương trình đào tạo là giải pháp có ý nghĩa trực tiếp, giữ vai trò trung tâm trong việc nâng cao chất lượng phát triển năng lực TDPB tại HVKTQS. Nếu nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể tạo tiền đề về tư tưởng và tổ chức thì đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp chính là khâu tác động trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển năng lực TDPB của học viên. Việc đổi mới này giúp khắc phục những hạn chế về nội dung rèn luyện chưa thật sự gắn với thực tiễn chuyên ngành, hình thức tổ chức còn đơn điệu, phương pháp giảng dạy chưa phát huy tối đa tính chủ động của học viên; đồng thời phát huy ưu điểm của chương trình đào tạo kỹ thuật quân sự theo định hướng phát triển năng lực, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra toàn diện.

Cơ sở của giải pháp xuất phát từ nhân tố cơ bản quy định về chất lượng GD-ĐT, bồi dưỡng và rèn luyện của Học viện; yêu cầu đào tạo kỹ sư quân sự hiện đại, trong đó năng lực TDPB phải gắn với năm nhóm chuẩn đầu ra gồm chuẩn chính trị – quân sự, chuẩn chuyên môn, chuẩn công nghệ thông tin, chuẩn thể lực và chuẩn ngoại ngữ. Thực trạng cho thấy, việc rèn luyện TDPB của học viên tuy đã được quan tâm nhưng nội dung chưa thật sự tích hợp với chuẩn đầu ra; hình thức tổ chức còn thiên về truyền thụ kiến thức; phương pháp giảng dạy chưa chú trọng nhiều đến hoạt động tranh luận, phân tích và giải quyết vấn đề. Do đó, đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp nâng cao năng lực TDPB theo hướng gắn chặt với chuẩn đầu ra là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả và khả thi trong quá trình đào tạo.

Thứ nhất, đổi mới nội dung nâng cao năng lực TDPB theo hướng bám sát chuẩn đầu ra chương trình đào tạo và đặc điểm chuyên ngành kỹ thuật quân sự. Nội dung nâng cao cần được xây dựng trên cơ sở tích hợp các thành tố của năng lực TDPB với yêu cầu cụ thể của từng chuẩn đầu ra. Đối với chuẩn chính trị – quân sự, nội dung cần chú trọng rèn luyện khả năng phân tích, đánh giá các vấn đề chính trị – xã hội, nâng cao bản lĩnh nhận thức và khả năng lập luận khoa học. Đối với chuẩn chuyên môn, cần tập trung vào các nội dung phân tích phương án kỹ thuật, đánh giá giải pháp công nghệ, xử lý tình huống kỹ thuật phức tạp. Đối với chuẩn công nghệ thông tin và ngoại ngữ, nội dung cần hướng tới rèn luyện kỹ năng khai thác, xử lý và đánh giá thông tin đa nguồn. Việc đổi mới nội dung theo hướng này giúp học viên phát triển TDPB gắn trực tiếp với nhiệm vụ học tập và nghề nghiệp, tránh tình trạng rèn luyện mang tính chung chung, tách rời thực tiễn đào tạo.

Để thực hiện hiệu quả việc đổi mới nội dung, cần triển khai một số biện pháp cụ thể. Trước hết, rà soát chương trình đào tạo, xác định các học phần có khả năng tích hợp nội dung rèn luyện TDPB, đặc biệt là các môn chuyên ngành và các học phần nghiên cứu khoa học. Tiếp đó, xây dựng hệ thống tình huống kỹ thuật, bài tập mở và chủ đề thảo luận nhằm tạo điều kiện cho học viên phân tích, đánh giá và bảo vệ quan điểm. Đồng thời, cần bổ sung nội dung rèn luyện TDPB vào hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên, thực hành phòng thí nghiệm và đồ án tốt nghiệp. Những biện pháp này giúp nội dung nâng cao năng lực TDPB được triển khai đồng bộ, gắn với chuẩn đầu ra và nhiệm vụ đào tạo.

Thứ hai, đổi mới hình thức tổ chức nâng cao năng lực TDPB theo hướng đa dạng, linh hoạt và gắn với hoạt động học tập, rèn luyện của học viên. Việc đổi mới hình thức nhằm tạo môi trường học thuật thuận lợi, khuyến khích học viên tham gia tích cực vào quá trình phân tích và tranh luận. Các hình thức cần được triển khai bao gồm thảo luận nhóm, seminar chuyên đề, hội thảo khoa học sinh viên, diễn đàn học thuật kỹ thuật, hoạt động nghiên cứu khoa học, thực hành giải quyết tình huống. Những hình thức này giúp học viên được trải nghiệm quá trình lập luận, phản biện và đánh giá vấn đề trong nhiều bối cảnh khác nhau.

Để nâng cao hiệu quả, cần tổ chức các câu lạc bộ học thuật theo chuyên ngành, nơi học viên có thể trao đổi và tranh luận các vấn đề kỹ thuật. Đồng thời, tăng cường tổ chức các cuộc thi học thuật, hội thi sáng tạo kỹ thuật nhằm khuyến khích học viên vận dụng TDPB trong giải quyết vấn đề thực tiễn. Việc kết hợp giữa hình thức chính khóa và ngoại khóa, giữa hoạt động tập thể và cá nhân sẽ tạo điều kiện để quá trình rèn luyện TDPB diễn ra thường xuyên và liên tục. Ý nghĩa của việc đổi mới hình thức không chỉ ở việc đa dạng hóa hoạt động mà còn góp phần hình thành môi trường học thuật tích cực, thúc đẩy học viên chủ động tham gia và phát triển năng lực.

Thứ ba, đổi mới phương pháp nâng cao năng lực TDPB theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học viên. Phương pháp giảng dạy giữ vai trò quyết định trong việc hình thành kỹ năng phân tích và lập luận khoa học. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ phương pháp truyền thụ một chiều sang các phương pháp dạy học tích cực như nêu vấn đề, nghiên cứu tình huống, học tập dự án, tranh luận khoa học và thảo luận nhóm. Các phương pháp này tạo điều kiện để học viên tham gia trực tiếp vào quá trình nhận thức, qua đó rèn luyện khả năng phân tích và đánh giá vấn đề.

Việc triển khai phương pháp mới cần gắn với bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giảng viên, giúp giảng viên biết cách tổ chức hoạt động học tập theo hướng phát triển TDPB. Đồng thời, cần kết hợp linh hoạt giữa phương pháp truyền thống và hiện đại, tránh thay đổi đột ngột gây khó khăn cho quá trình tổ chức dạy học. Ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp không chỉ nâng cao hiệu quả giảng dạy mà còn tạo điều kiện để học viên hình thành thói quen tư duy độc lập, khách quan và khoa học.

Như vậy, đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp nâng cao năng lực TDPB gắn liền với chuẩn đầu ra chương trình đào tạo là giải pháp có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển năng lực này. Việc thực hiện đồng bộ các biện pháp đổi mới sẽ góp phần khắc phục những hạn chế của phương pháp giáo dục truyền thống, phát huy tính tích cực của học viên, tạo sự chuyển biến thực chất trong nâng cao năng lực TDPB, đáp ứng yêu cầu đào tạo kỹ sư quân sự trong giai đoạn hiện nay.

Xây dựng môi trường văn hóa sư phạm quân sự tạo điều kiện thuận lợi cho nâng cao năng lực tư duy phản biện của học viên đào tạo dài hạn

Xây dựng môi trường văn hóa sư phạm quân sự là giải pháp có ý nghĩa chiến lược, giữ vai trò định hướng và tạo nền tảng vật chất – tinh thần bền vững cho việc nâng cao năng lực TDPB của học viên đào tạo dài hạn tại HVKTQS. Nếu các giải pháp về nhận thức, nội dung, hình thức và phương pháp tạo điều kiện trực tiếp hình thành năng lực, thì môi trường văn hóa sư phạm quân sự chính là không gian tác động tổng thể, duy trì và củng cố quá trình phát triển năng lực này, đồng thời khắc phục các hạn chế về hình thức, dàn trải, thiếu chiều sâu hay hạn chế tính chủ động của học viên. Một môi trường sư phạm tích cực, khoa học, quân sự hóa và nhân văn là điều kiện tất yếu để TDPB được hình thành, phát triển bền vững, đồng bộ với các chuẩn đầu ra đào tạo.

Cơ sở của giải pháp xuất phát từ nhân tố cơ bản quy định về môi trường văn hóa sư phạm quân sự; đặc thù đào tạo kỹ sư quân sự: học viên vừa phải rèn luyện kỹ năng chuyên môn, vừa phải hình thành phẩm chất chính trị – quân sự, vừa phải phát triển năng lực TDPB để giải quyết các tình huống kỹ thuật, tổ chức và chiến thuật trong thực tiễn quân sự. Thực tiễn khảo sát cho thấy, mặc dù các hoạt động học tập, rèn luyện tại Học viện đã tạo ra môi trường tương đối nghiêm túc, nhưng chưa đầy đủ các yếu tố thúc đẩy sự chủ động tranh luận, phản biện, chia sẻ ý kiến và học hỏi lẫn nhau; một số hoạt động còn mang tính hình thức, thiếu tính hấp dẫn, hạn chế khả năng phát triển TDPB của học viên. Do đó, việc xây dựng một môi trường văn hóa sư phạm quân sự toàn diện, khoa học và quân sự hóa là yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng lực TDPB một cách thực chất và bền vững.

Thứ nhất, cần hình thành môi trường học tập – rèn luyện mang tính quân sự hóa, nhưng vẫn khuyến khích tính chủ động và sáng tạo của học viên. Môi trường này bao gồm các yếu tố kỷ luật, nề nếp, tinh thần trách nhiệm và ý thức tự giác cao, kết hợp với cơ chế trao đổi, phản biện, thảo luận mở. Việc tổ chức các buổi thảo luận chuyên đề, hội thảo khoa học, diễn đàn học thuật kỹ thuật – quân sự trong khuôn khổ học tập chính khóa và ngoại khóa tạo cơ hội để học viên trải nghiệm quá trình TDPB, đồng thời phát triển khả năng tự lập luận, phân tích, so sánh và đánh giá các phương án kỹ thuật, chiến thuật hay quản lý kỹ thuật. Những hoạt động này không chỉ rèn luyện năng lực chuyên môn mà còn giúp học viên hình thành thói quen tư duy độc lập, khách quan, khoa học.

Thứ hai, xây dựng môi trường văn hóa sư phạm quân sự cần kết hợp chặt chẽ các yếu tố đạo đức, chính trị và văn hóa học thuật. Môi trường này phải tạo động lực cho học viên hình thành phẩm chất cá nhân như ý thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác, tính kỷ luật, lòng trung thực và khả năng chịu áp lực trong quá trình học tập và rèn luyện. Các giảng viên và cán bộ quản lý học viên đóng vai trò trung tâm trong việc hình thành môi trường văn hóa này: vừa là tấm gương về TDPB, phẩm chất chính trị và đạo đức, vừa là người định hướng, giám sát và khuyến khích học viên tham gia các hoạt động học thuật, nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề thực tiễn. Việc xây dựng môi trường văn hóa học thuật quân sự đồng bộ với môi trường rèn luyện kỷ luật và sinh hoạt quân sự giúp học viên nhận thức rõ mối liên hệ giữa tri thức, TDPB và hành động thực tiễn, từ đó phát triển năng lực một cách toàn diện và bền vững.

Thứ ba, cần tạo lập các cơ chế hỗ trợ và khuyến khích học viên tham gia chủ động vào quá trình rèn luyện TDPB. Điều này bao gồm việc áp dụng cơ chế khen thưởng, ghi nhận thành tích trong nghiên cứu khoa học, thảo luận, hội thi sáng tạo kỹ thuật – quân sự, cũng như tạo các diễn đàn phản hồi, trao đổi giữa giảng viên và học viên. Các cơ chế này giúp học viên nhận thấy rõ giá trị của việc phát triển TDPB đối với thành tích học tập, rèn luyện và công tác chuyên môn tương lai, từ đó thúc đẩy tinh thần tự giác và chủ động trong học tập. Đồng thời, việc xây dựng hệ thống phản hồi, đánh giá minh bạch, khách quan, dựa trên các tiêu chí rõ ràng cũng góp phần củng cố tính khoa học và hiệu quả của môi trường sư phạm quân sự.

Ngoài ra, môi trường văn hóa sư phạm quân sự cần được duy trì và phát triển đồng bộ với các hoạt động ngoại khóa, huấn luyện thể lực, rèn luyện kỹ năng công nghệ thông tin và ngoại ngữ, để học viên trải nghiệm thực tế, đối chiếu và vận dụng TDPB trong nhiều bối cảnh khác nhau. Sự kết hợp này giúp hình thành năng lực TDPB toàn diện, gắn với từng chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, tạo ra sự thống nhất giữa tri thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất cá nhân.

Như vậy, xây dựng môi trường văn hóa sư phạm quân sự là giải pháp then chốt, mang tính chiến lược, có tác động tổng hợp, vừa khắc phục những hạn chế về hình thức, thiếu tính chủ động của học viên, vừa phát huy những ưu điểm về nền tảng tri thức, kỹ năng và phẩm chất cá nhân đã được rèn luyện. Việc thực hiện đồng bộ các biện pháp xây dựng môi trường không chỉ nâng cao năng lực TDPB một cách toàn diện mà còn tạo ra nền tảng bền vững cho quá trình tự nâng cao, rèn luyện lâu dài, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra đào tạo kỹ sư quân sự trong giai đoạn hiện nay.

Phát huy vai trò tích cực, tự giác của học viên trong tự nâng cao năng lực tư duy phản biện

Phát huy vai trò tích cực, tự giác của học viên là giải pháp mang tính chiến lược, giữ vị trí trung tâm trong hệ thống các giải pháp nâng cao năng lực TDPB của học viên đào tạo dài hạn tại HVKTQS. Nếu các giải pháp về nhận thức của chủ thể, đổi mới nội dung – phương pháp hay xây dựng môi trường sư phạm tạo điều kiện thuận lợi, tập trung vào yếu tố bên ngoài và tổ chức, thì giải pháp này trực tiếp khai thác yếu tố chủ quan, nội lực học viên, giúp chuyển hóa những điều kiện khách quan thành kết quả thực chất, bền vững. Bởi bản chất TDPB là năng lực tự giác, độc lập trong nhận thức, phân tích và đánh giá vấn đề; do đó, tính chủ động và trách nhiệm cá nhân của học viên giữ vai trò quyết định trong quá trình tự nâng cao năng lực.

Cơ sở của giải pháp xuất phát từ nhân tố cơ bản quy định về nhân tố chủ quan của học viên đào tạo dài hạn và thực tiễn khảo sát đã chỉ ra: mặc dù đa số học viên đã được trang bị nền tảng tri thức, kỹ năng và được rèn luyện trong môi trường sư phạm quân sự khoa học, song một số học viên vẫn còn thụ động trong quá trình học tập, hạn chế khả năng tự phân tích, lập luận và phản biện. Tình trạng này dẫn đến hiệu quả phát triển TDPB chưa đồng đều, chưa thực sự bền vững. Vì vậy, việc phát huy tinh thần tích cực, tự giác của học viên là cần thiết, vừa là giải pháp khắc phục hạn chế, vừa là biện pháp tăng cường ưu điểm về năng lực chủ động, khả năng học tập và rèn luyện độc lập.

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của TDPB trong học tập, rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Học viên cần được định hướng rằng TDPB là một hình thức tư duy, công cụ tư duy cơ bản để giải quyết các tình huống kỹ thuật, quản lý và chiến thuật trong môi trường quân sự hiện đại. Các hoạt động này có thể được triển khai thông qua các buổi tập huấn, tọa đàm, seminar chuyên đề và hướng dẫn cụ thể từ giảng viên về cách vận dụng TDPB trong phân tích vấn đề, so sánh giải pháp và đánh giá kết quả thực tiễn. Nhờ đó, học viên nhận thức rõ trách nhiệm cá nhân trong quá trình tự học, tự rèn luyện và hình thành thói quen TDPB chủ động.

Thứ hai, xây dựng kế hoạch tự nâng cao năng lực TDPB theo định hướng khoa học và gắn liền với chuẩn đầu ra chương trình đào tạo. Học viên cần chủ động lập kế hoạch học tập, nghiên cứu đề tài khoa học, thực hiện bài tập tình huống, nghiên cứu các phương án kỹ thuật và đánh giá các giải pháp thực tiễn. Kế hoạch này phải bao gồm các mục tiêu cụ thể về tri thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất cá nhân, đồng thời gắn kết với các chuẩn đầu ra về chính trị – quân sự, chuẩn chuyên môn, chuẩn công nghệ thông tin, chuẩn thể lực và chuẩn ngoại ngữ. Việc lập kế hoạch có hệ thống giúp học viên từng bước tự đánh giá năng lực của bản thân, phát hiện điểm mạnh – điểm yếu và chủ động điều chỉnh phương thức học tập, rèn luyện.

Thứ ba, tăng cường trải nghiệm thực tiễn và tham gia vào các hoạt động học thuật, nghiên cứu khoa học và huấn luyện thực hành. Học viên cần chủ động tham gia các buổi thảo luận học thuật, hội thi nghiên cứu khoa học, giải quyết tình huống kỹ thuật – quân sự, thực hành phòng thí nghiệm, huấn luyện kỹ năng công nghệ thông tin và ngoại ngữ. Các hoạt động này giúp học viên phát triển kỹ năng phân tích, so sánh, lập luận và phản biện trên cơ sở dữ liệu, tình huống thực tiễn, đồng thời hình thành thái độ học tập cầu thị, sẵn sàng tiếp nhận ý kiến phản biện, ý thức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cao. Việc trải nghiệm thực tiễn liên tục cũng tạo điều kiện cho học viên rèn luyện tính linh hoạt, thích ứng và năng lực tự giải quyết vấn đề.

Thứ tư, xây dựng cơ chế tự đánh giá, phản hồi và cải tiến liên tục. Học viên cần được hướng dẫn thực hiện tự đánh giá quá trình học tập và rèn luyện, nhận xét kết quả học tập của bản thân, ghi nhận những thành công và khắc phục những hạn chế. Cơ chế này có thể bao gồm nhật ký học tập, báo cáo tiến độ nghiên cứu, đánh giá peer-to-peer và phản hồi từ giảng viên hướng dẫn. Hệ thống đánh giá minh bạch, khoa học giúp học viên nhận thấy giá trị của việc tự nâng cao năng lực, đồng thời thúc đẩy sự chủ động và tự giác trong việc hoàn thiện TDPB.

Thứ năm, khuyến khích văn hóa trao đổi, tranh luận và học hỏi lẫn nhau. Việc tạo ra các diễn đàn học thuật, câu lạc bộ nghiên cứu, nhóm học tập chuyên đề và các buổi thảo luận tự do giúp học viên được rèn luyện khả năng trình bày quan điểm, bảo vệ ý kiến, tiếp nhận phản biện và cải thiện lập luận của mình. Văn hóa học tập này thúc đẩy học viên hình thành thái độ phản biện tích cực, tự tin và linh hoạt trong phân tích, đánh giá vấn đề.

Phát huy vai trò tích cực, tự giác của học viên là giải pháp khắc phục những hạn chế về thụ động trong học tập nhằm củng cố những ưu điểm về tri thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất cá nhân đã được hình thành. Thực hiện đồng bộ các biện pháp cụ thể trên sẽ tạo điều kiện để năng lực TDPB được phát triển toàn diện, bền vững, gắn kết chặt chẽ với các chuẩn đầu ra chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu trở thành kỹ sư quân sự có năng lực tư duy độc lập, phản biện và giải quyết vấn đề trong môi trường quân sự hiện đại.

Kết luận

Như vậy, các giải pháp cơ bản nâng cao năng lực TDPB của học viên đào tạo dài hạn tại HVKTQS hiện nay hình thành một hệ thống đồng bộ, biện chứng, trong đó mỗi giải pháp giữ vị trí và vai trò riêng nhưng tương hỗ, bổ sung cho nhau. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể là nền tảng định hướng, bảo đảm mọi hoạt động được tổ chức nghiêm túc và hiệu quả. Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng tạo điều kiện phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ phản biện gắn với chuẩn đầu ra. Xây dựng môi trường văn hóa sư phạm quân sự thuận lợi cung cấp không gian rèn luyện, thúc đẩy học viên vận dụng và thử thách khả năng tư duy. Phát huy vai trò tự giác của học viên quyết định chiều sâu, bền vững của năng lực TDPB. Sự phối hợp đồng bộ giữa các giải pháp này vừa khắc phục hạn chế, vừa phát huy ưu điểm hiện có, góp phần hình thành năng lực TDPB toàn diện, liên tục và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đào tạo kỹ sư quân sự, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong kỷ nguyên mới.

Từ những phân tích lý luận, thực trạng và các giải pháp cụ thể, có thể khẳng định rằng việc nâng cao năng lực TDPB vừa là yêu cầu cấp thiết, tất yếu khách quan, vừa là nhiệm vụ chiến lược nhằm hình thành đội ngũ sĩ quan tốt – kỹ sư giỏi – đảng viên mẫu mực với sự sắc bén về tư duy, có khả năng phản biện, giải quyết vấn đề sáng tạo và đáp ứng hiệu quả các nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới. Quá trình thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ là cơ sở để Học viện duy trì chất lượng đào tạo, nâng cao năng lực nhận thức, khả năng giải quyết vấn đề và phẩm chất toàn diện của học viên, đảm bảo chuẩn đầu ra được thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả và bền vững.

Phạm Thị Thùy, Nguyễn Thanh Thiệt, Nguyễn Trọng Bảo, Đinh Thị Yến – Tiểu đoàn 1, Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn.

Tài liệu tham khảo:

  1. Bùi Lan Hương (2023), “Phát triển năng lực tư duy phản biện cho học sinh trung học phổ thông trong quá trình thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018”, Tạp chí Giáo dục, 23(4), tr.29-34.
  2. Đào Thị Hữu, Bùi Thị Hồng Thúy (2021), “Nâng cao năng lực tư duy phản biện cho học sinh, sinh viên”, Tạp chí Tuyên giáo điện tử, ngày 26/11/2021.
  3. Phan Văn Kiền (2015), Phản biện xã hội của báo chí Việt Nam qua một số sự kiện nổi bật , Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.
  4. Nguyễn Thị Kiều (2020), “Phát triển năng lực tư duy phản biện cho học sinh tiểu học trong dạy học môn toán”, Tạp chí Giáo dục, (477), tr. 32 – 36.
  5. Bùi Ngọc Quân (2017), “Một số vấn đề về phát triển năng lực tư duy phản biện của sinh viên đại học hiện nay”, Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm Hà Nội, (Số 62), tr. 165 -173.
  6. Bùi Ngọc Quân (2021), “Vai trò của tư duy phản biện đối với giảng viên lý luận chính trị”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, (5), tr.65-71.
  7. Quân ủy Trung ương (2022), Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới, ngày 20/12/2022, Hà Nội.
  8. Rô-den-tan (1986), Từ điển Triết học, Nxb Mátxcơva, Mátxcơva.
  9. Trương Đức Sáng (2023), “Phát huy vai trò của sĩ quan trẻ ở các học viện, trường sĩ quan quân đội trong đấu tranh phòng chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng”, Tạp chí Quân chủng Phòng không – Không quân điện tử, ngày 03/6/2023.
  10. Đinh Văn Sáng (2025), “Nâng cao năng lực tư duy phản biện cho sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng trong bối cảnh hiện nay”, Tạp chí Tâm lý – Giáo dục, 31(4), tr.145-147.
  11. Lê Thanh Sơn, Đoàn Đức Lương (2020), Kỹ năng lập luận và tranh luận, Nxb Đại học Huế, Huế.
  12. Trần Hữu Thanh (2020), Đổi mới phương pháp dạy học ở các trường sĩ quan quân đội theo hướng phát triển năng lực người học, Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Học viện Chính trị, Hà Nội.
  13. Trà Thị Thoa, Trần Lê Thúy Hằng (2023), “Áp dụng hiệu quả tư duy phản biện trong dạy kỹ năng nói tiếng Anh cho học viên sau đại học tại Học viện Lục quân”, Tạp chí Thiết bị giáo dục, 2(299), tr.42-44.
  14. Nguyễn Văn Thủy (2018), Năng lực phản biện khoa học của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở Học viện Chính trị hiện nay, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Chính trị, Hà Nội.
  15. Ngô Mỹ Trân, Võ Thị Huỳnh Anh (2022), “Ảnh hưởng của tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề đến kết quả học tập của sinh viên khoa kinh tế – Trường Đại học Cần Thơ”, Tạp chí khoa học, Trường Đại học mở Thành phố Hồ Chí Minh, 17(2), tr. 50-64.
  16. Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự (2004), Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.