Khai thác khoáng sản trái phép không chỉ gây thất thoát tài nguyên, tác động tiêu cực đến môi trường mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý nhà nước. Dù chính quyền địa phương giữ vai trò quan trọng trong phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm, thực tế tại một số nơi cho thấy tình trạng khai thác trái phép vẫn kéo dài, đặt ra vấn đề về trách nhiệm quản lý, cơ chế phối hợp, thẩm quyền kiểm tra và trách nhiệm của người đứng đầu. Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024 đã phân định nhiệm vụ của chính quyền địa phương, song việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế quy trách nhiệm là cần thiết để nâng cao hiệu lực quản lý, hạn chế thất thoát tài nguyên và bảo đảm khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, lợi ích công cộng và phát triển bền vững.

Thực trạng thực hiện trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phòng, chống khai thác khoáng sản trái phép
Trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản ngày càng được xác định rõ hơn cùng với quá trình phân cấp theo Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật số 54/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025; Nghị định số 21/2026/NĐ-CP tiếp tục điều chỉnh, phân định thẩm quyền trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản. Thực tiễn giai đoạn 2025–2026 cho thấy nhiều địa phương đã tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm, huy động lực lượng tại cơ sở và triển khai các mô hình giám sát cộng đồng. Tuy nhiên, khai thác trái phép vẫn diễn ra ở nhiều địa bàn, có trường hợp kéo dài nhiều năm, hoạt động tại khu vực giáp ranh hoặc được tổ chức theo phương thức nhằm né tránh sự kiểm tra của cơ quan chức năng. Thực tế này cho thấy việc phân định thẩm quyền chưa đồng nghĩa với hiệu quả quản lý tương xứng, đồng thời đặt ra yêu cầu làm rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan trong phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm.
Thứ nhất, khai thác khoáng sản trái phép vẫn có thể kéo dài, cho thấy hạn chế trong phát hiện sớm và kiểm soát địa bàn. Tại Thanh Hóa, cơ quan điều tra xác định một nhóm đối tượng tổ chức khai thác đất trái phép từ năm 2020 đến tháng 4/2025, với khối lượng 12.115,89 m³, thu lợi bất chính trên 700 triệu đồng trước khi vụ án được khởi tố vào tháng 7/2025. Tại Khánh Hòa, tháng 4/2026, lực lượng chức năng tiếp tục phát hiện các vụ khai thác đất, cát trái phép ở nhiều địa bàn; một số đối tượng lựa chọn khu vực vắng, tổ chức cảnh giới và sử dụng phương tiện liên lạc để né tránh kiểm tra. Những vụ việc này cho thấy hoạt động khai thác trái phép có thể được tổ chức trong thời gian dài, với phương thức ngày càng chủ động đối phó với lực lượng chức năng. Vì vậy, trách nhiệm của chính quyền cơ sở không chỉ dừng ở việc xử lý khi vi phạm đã được phát hiện, mà trước hết phải bảo đảm khả năng nắm chắc địa bàn, theo dõi biến động bất thường về đất đai, khoáng sản và kịp thời can thiệp ngay từ dấu hiệu ban đầu.
Thứ hai, hiệu quả phòng, chống phụ thuộc đáng kể vào mức độ chủ động của chính quyền và lực lượng tại cơ sở, nhưng kết quả giữa các địa phương chưa đồng đều. Tại xã Hòa Minh, tỉnh Vĩnh Long, trong năm 2025 và hai tháng đầu năm 2026, Công an xã đã phát hiện, lập biên bản xử lý 16 vụ tàng trữ, vận chuyển cát sông trái phép. Tháng 2/2026, địa phương thành lập câu lạc bộ phòng, chống vi phạm về khoáng sản gồm 26 thành viên, huy động người dân ven sông tham gia phát hiện, tố giác vi phạm. Tại Tiền Giang, trong đợt cao điểm từ ngày 15/4 đến 12/5/2025, lực lượng chức năng phát hiện 03 vụ khai thác và 04 vụ vận chuyển, mua bán cát trái phép. Ở Ninh Bình, vụ khai thác trái phép 610 m³ cát trên sông Đào bị xử phạt 175 triệu đồng, tịch thu toàn bộ số cát và buộc nộp 4,604 tỷ đồng tương đương giá trị phương tiện được sử dụng để vi phạm.
Các kết quả trên cho thấy khi quản lý địa bàn được thực hiện chủ động, thường xuyên và có sự tham gia của nhiều lực lượng, khả năng phát hiện, xử lý vi phạm được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên, sự khác biệt về kết quả giữa các địa bàn cũng đặt ra vấn đề về tính thống nhất trong tổ chức thực hiện trách nhiệm được phân cấp. Điều cần quan tâm không chỉ là địa phương có tổ chức bao nhiêu đợt kiểm tra hay xử phạt bao nhiêu vụ, mà còn là khả năng duy trì cơ chế giám sát thường xuyên, phát hiện vi phạm trước khi hình thành điểm nóng và ngăn chặn tái diễn.
Thứ ba, khai thác trái phép thường gắn với các khâu vận chuyển, tập kết và tiêu thụ, trong khi vi phạm tại khu vực giáp ranh làm phức tạp thêm trách nhiệm quản lý. Tháng 7/2026, tại khu vực tiếp giáp giữa Đồng Nai và Lâm Đồng, lực lượng Cảnh sát đường thủy phát hiện 03 phương tiện sử dụng thiết bị hút cát; cả ba phương tiện không gắn số đăng ký và không xuất trình được giấy tờ liên quan đến hoạt động khai thác. Trên tuyến sông Hồng qua Hà Nội, trong tháng 4/2026, qua nhiều đợt kiểm tra, lực lượng chức năng xử phạt 06 cá nhân với 11 hành vi vi phạm, tổng số tiền phạt gần 180 triệu đồng và tịch thu 987 m³ cát đen không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp.
Những vụ việc này cho thấy kiểm soát riêng tại điểm khai thác chưa đủ để ngăn chặn toàn bộ chuỗi vi phạm. Nếu phương tiện vận chuyển, bến bãi và nguồn gốc khoáng sản không được kiểm soát đồng bộ, khoáng sản khai thác trái phép vẫn có thể được đưa ra khỏi địa bàn và hợp thức hóa ở các khâu tiếp theo. Đặc biệt, tại các dòng sông hoặc khu vực tiếp giáp giữa hai địa phương, ranh giới hành chính có thể trở thành điểm yếu trong quản lý nếu thiếu cơ chế phối hợp thống nhất. Do đó, hiệu quả phòng, chống khai thác trái phép phụ thuộc không chỉ vào trách nhiệm của địa phương nơi xảy ra khai thác mà còn vào khả năng phối hợp giữa các địa phương và lực lượng có liên quan trong toàn bộ quá trình khai thác, vận chuyển, tập kết và tiêu thụ.
Thứ tư, trách nhiệm quản lý, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu, vẫn là khâu cần được làm rõ và gắn chặt hơn với kết quả thực hiện nhiệm vụ. Đây không phải vấn đề mới. Theo tổng kết của cơ quan quản lý nhà nước được công bố trước đây, các địa phương đã phát hiện, xử lý gần 15.000 trường hợp vi phạm trong lĩnh vực khoáng sản, trong đó có 7.302 trường hợp khai thác trái phép và 7.634 trường hợp vi phạm giấy phép; tổng số tiền xử phạt trên 167,7 tỷ đồng, đồng thời 26 vụ được chuyển xử lý hình sự. Cùng thời điểm, cả nước đã ban hành 52 quy chế phối hợp quản lý cát, sỏi tại khu vực giáp ranh và có 652 bến, bãi tập kết vật liệu xây dựng được cấp phép. Tuy nhiên, chính cơ quan quản lý cũng chỉ ra những hạn chế như một số địa phương chưa kiên quyết xử lý trách nhiệm người đứng đầu, phối hợp tại khu vực giáp ranh chưa chặt chẽ và việc ngăn chặn vi phạm có thời điểm chưa kịp thời.
Khi thẩm quyền quản lý ngày càng được phân cấp cho địa phương, yêu cầu đặt ra không chỉ là “giao đúng thẩm quyền” mà còn phải “quy đúng trách nhiệm”. Một địa bàn để hoạt động khai thác trái phép kéo dài, tái diễn hoặc hình thành điểm nóng cần được xem xét trên cả hai phương diện: nguyên nhân khách quan, như địa hình, phương thức vi phạm, tính chất liên địa bàn; và nguyên nhân chủ quan, như việc không nắm được địa bàn, kiểm tra không thường xuyên, phối hợp thiếu hiệu quả hoặc xử lý không kịp thời. Chỉ khi xác định được nguyên nhân và chủ thể chịu trách nhiệm tương ứng, việc phân cấp mới thực sự gắn với cơ chế chịu trách nhiệm.
Nhìn tổng thể, thực tiễn giai đoạn 2025–2026 cho thấy hai xu hướng diễn ra đồng thời: năng lực phát hiện, xử lý tại cơ sở từng bước được tăng cường, nhiều mô hình phối hợp đã phát huy hiệu quả; nhưng khai thác khoáng sản trái phép vẫn có khả năng kéo dài, chuyển địa bàn, lợi dụng khu vực giáp ranh và vận hành theo cả một chuỗi từ khai thác đến tiêu thụ. Vì vậy, thước đo hiệu quả quản lý không nên chỉ dừng ở số cuộc kiểm tra, số vụ xử phạt hay số tiền thu được, mà cần tập trung vào khả năng phát hiện sớm, kiểm soát liên tục, phối hợp thông suốt giữa các địa bàn và xác định rõ trách nhiệm khi vi phạm phát sinh hoặc kéo dài. Đây là những vấn đề thực tiễn quan trọng cần được tiếp tục xem xét khi đánh giá các quy định của pháp luật về trách nhiệm của chính quyền địa phương và cơ chế xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu.
Một số bất cập của pháp luật về trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phòng, chống khai thác khoáng sản trái phép
Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024 cùng các văn bản hướng dẫn đã đẩy mạnh phân cấp, đồng thời xác định rõ hơn vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 cũng đặt yêu cầu cao hơn về trách nhiệm giải trình, tính tự chủ và trách nhiệm của Chủ tịch UBND. Tuy nhiên, thực tiễn các vụ khai thác trái phép kéo dài, tái diễn hoặc xảy ra trên địa bàn giáp ranh cho thấy việc phân định thẩm quyền mới là điều kiện cần; để trách nhiệm có thể được kiểm soát và quy kết trên thực tế, pháp luật vẫn cần cụ thể hóa thêm tiêu chí, quy trình và cơ chế phối hợp.
Thứ nhất, đã xác định chủ thể quản lý nhưng chưa có tiêu chí đủ cụ thể để xác định trách nhiệm khi khai thác trái phép xảy ra hoặc kéo dài. Pháp luật giao chính quyền địa phương trách nhiệm quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; Nghị định số 21/2026/NĐ-CP tiếp tục quy định UBND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm phân công, chỉ đạo cấp xã và cơ quan chuyên môn thực hiện nhiệm vụ quản lý trên địa bàn. Tuy nhiên, các quy định này chưa cho thấy rõ căn cứ để xác định một địa phương hoặc người đứng đầu không hoàn thành nhiệm vụ quản lý trong những tình huống cụ thể, chẳng hạn vi phạm diễn ra trong thời gian dài, tái diễn nhiều lần, hình thành điểm nóng, đã được phản ánh nhưng không được kiểm tra kịp thời hoặc đã phát hiện nhưng chậm áp dụng biện pháp ngăn chặn.
Khoảng trống này khiến việc xem xét trách nhiệm trong từng vụ việc dễ chuyển thành đánh giá sau khi hậu quả đã xảy ra, thay vì dựa trên những tiêu chí được xác lập từ trước. Nói cách khác, trách nhiệm đã được quy định về mặt chủ thể nhưng chưa được lượng hóa đầy đủ về điều kiện phát sinh và mức độ vi phạm nghĩa vụ quản lý. Đây là vấn đề đặc biệt đáng lưu ý trong bối cảnh hoạt động khai thác trái phép thường diễn ra âm thầm, kéo dài và có thể chỉ được phát hiện sau khi tài nguyên đã bị thất thoát hoặc môi trường đã bị tác động.
Thứ hai, phân cấp thêm nhiệm vụ cho cấp xã chưa đi kèm một quy trình thống nhất để xử lý từ khi phát hiện dấu hiệu vi phạm đến khi vụ việc được giải quyết dứt điểm. Theo hướng dẫn thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã được giao thêm 04 nhiệm vụ, thẩm quyền trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản, gồm 02 nhiệm vụ của UBND và 02 nhiệm vụ của Chủ tịch UBND cấp xã. Trong khi đó, Nghị định số 21/2026/NĐ-CP giao cấp tỉnh tiếp tục phân công, chỉ đạo cấp xã thực hiện nhiệm vụ quản lý.
Cách thiết kế này tạo dư địa để địa phương chủ động tổ chức thực hiện, nhưng đồng thời có thể dẫn đến cách thức xử lý khác nhau nếu thiếu một quy trình chung về tiếp nhận thông tin, xác minh, kiểm tra hiện trường, áp dụng biện pháp ngăn chặn, lập hồ sơ, chuyển vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền và theo dõi kết quả xử lý. Đặc biệt, cần phân định rõ trường hợp cấp xã phải tự xử lý, trường hợp phải báo cáo hoặc chuyển cấp trên và trách nhiệm của từng cấp trong thời gian chờ giải quyết. Nếu chỉ phân định “ai có thẩm quyền” mà chưa quy định đầy đủ “ai phải làm gì, trong thời hạn nào và phải chuyển giao trách nhiệm ra sao”, phân cấp có nguy cơ trở thành phân tán trách nhiệm, nhất là đối với những vụ việc phức tạp hoặc vượt quá năng lực xử lý của cấp cơ sở.
Thứ ba, cơ chế phối hợp đối với vi phạm liên địa bàn và toàn bộ chuỗi khai thác – vận chuyển – tập kết – tiêu thụ chưa được thiết kế đủ chặt chẽ. Đặc thù của khai thác khoáng sản trái phép là hành vi vi phạm có thể bắt đầu tại một địa phương nhưng phương tiện vận chuyển, bến bãi hoặc nơi tiêu thụ lại nằm trên địa bàn khác. Vì vậy, nếu mỗi địa phương chỉ kiểm soát phần địa bàn thuộc phạm vi quản lý của mình, việc ngăn chặn toàn bộ chuỗi vi phạm sẽ gặp khó khăn.
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp yêu cầu phân định rõ thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã, đồng thời bảo đảm nền hành chính thống nhất, thông suốt. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực khoáng sản, cần cụ thể hơn cơ chế xử lý những vụ việc có liên quan từ hai địa phương trở lên: cơ quan nào chủ trì; địa phương nào có trách nhiệm cung cấp thông tin; thời hạn trao đổi, xác minh là bao lâu; ai quyết định tổ chức kiểm tra phối hợp; và trách nhiệm thuộc về đâu nếu một bên chậm hoặc không thực hiện phần việc của mình. Nếu các nội dung này chủ yếu được xử lý thông qua quy chế phối hợp riêng của từng địa phương, hiệu quả kiểm soát sẽ phụ thuộc đáng kể vào mức độ chủ động của các bên, trong khi tính thống nhất và khả năng quy trách nhiệm khi phối hợp không hiệu quả chưa được bảo đảm đầy đủ.
Thứ tư, cơ chế giám sát việc thực hiện nhiệm vụ vẫn thiên về xử lý vi phạm đã xảy ra, chưa hình thành đầy đủ hệ thống đánh giá năng lực phòng ngừa và cảnh báo sớm. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 yêu cầu chính quyền hoạt động công khai, minh bạch, chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân và gắn trách nhiệm giải trình với kiểm soát quyền lực. Tuy nhiên, pháp luật về khoáng sản chưa thiết lập đầy đủ các tiêu chí có thể đo lường để đánh giá chất lượng quản lý địa bàn, như số vụ hoặc điểm khai thác trái phép được phát hiện sớm; thời gian từ khi tiếp nhận phản ánh đến khi kiểm tra, xử lý; tỷ lệ tái phạm; kết quả xử lý, phục hồi khu vực bị khai thác; hay mức độ công khai kết quả kiểm tra và xử lý.
Việc thiếu các tiêu chí đầu ra khiến đánh giá trách nhiệm dễ dựa nhiều vào số liệu về hoạt động hành chính, như số cuộc kiểm tra, số vụ xử lý hoặc số tiền xử phạt, trong khi những chỉ số này chưa phản ánh đầy đủ khả năng phòng ngừa, kiểm soát địa bàn và ngăn chặn tái diễn. Một địa phương có nhiều vụ xử lý chưa chắc đã quản lý hiệu quả nếu vi phạm liên tục phát sinh; ngược lại, địa phương có cơ chế giám sát tốt, phát hiện và ngăn chặn ngay từ đầu có thể có số vụ xử lý thấp nhưng hiệu quả phòng ngừa cao. Vì vậy, cơ chế đánh giá cần chuyển trọng tâm từ “đã xử lý bao nhiêu vụ” sang cả “đã ngăn chặn và kiểm soát vi phạm như thế nào”.
Từ các bất cập trên có thể thấy, khoảng trống chủ yếu của pháp luật không nằm ở việc chưa giao nhiệm vụ cho chính quyền địa phương, mà ở chỗ chưa xây dựng đầy đủ cơ chế biến nhiệm vụ thành trách nhiệm có thể kiểm chứng và quy kết. Muốn nâng cao hiệu quả phòng, chống khai thác khoáng sản trái phép, cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng xác định rõ bốn yếu tố: chủ thể chịu trách nhiệm, hành động phải thực hiện, thời hạn phải hoàn thành và kết quả phải đạt được. Đồng thời, cần có cơ chế xử lý tương ứng khi nhiệm vụ không được thực hiện, thực hiện chậm hoặc thực hiện không đầy đủ.
Theo hướng này, phân cấp mới thực sự đi cùng với trách nhiệm giải trình; phối hợp liên địa bàn không chỉ dừng ở yêu cầu chung mà trở thành nghĩa vụ có thể kiểm tra; còn trách nhiệm của người đứng đầu được xác định trên cơ sở những tiêu chí khách quan thay vì chủ yếu được xem xét sau khi vi phạm đã trở thành điểm nóng. Đây cũng là cơ sở để chuyển cơ chế quản lý từ phản ứng sau vi phạm sang chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và kiểm soát liên tục đối với hoạt động khai thác khoáng sản.
Kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phòng, chống khai thác khoáng sản trái phép.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của chính quyền địa phương cần chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu là phân định thẩm quyền sang xác lập đầy đủ cơ chế thực hiện, kiểm soát và chịu trách nhiệm. Phân cấp chỉ phát huy hiệu quả khi quyền hạn của UBND các cấp đi kèm nghĩa vụ kiểm soát địa bàn, quy trình xử lý thống nhất, cơ chế phối hợp bắt buộc và căn cứ xác định trách nhiệm khi để vi phạm kéo dài. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không phải chỉ giao thêm nhiệm vụ, mà phải bảo đảm ở mỗi khâu đều xác định được ai chịu trách nhiệm, phải thực hiện việc gì, trong thời hạn nào và chịu hậu quả gì nếu không hoàn thành.
Thứ nhất, cụ thể hóa căn cứ xác định trách nhiệm của UBND các cấp và người đứng đầu khi để xảy ra khai thác khoáng sản trái phép. Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá trách nhiệm phù hợp với đặc thù quản lý khoáng sản, trong đó có thể xem xét thời gian vi phạm tồn tại, quy mô khai thác, số lần tái diễn, mức độ thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường, số lượng phản ánh của người dân cũng như thời gian từ khi tiếp nhận thông tin đến khi cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý.
Trên cơ sở đó, cần phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp. UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức quản lý trên phạm vi địa bàn, chỉ đạo cơ quan chuyên môn, kiểm tra và xử lý những khu vực, vụ việc phức tạp hoặc có nguy cơ trở thành điểm nóng. UBND cấp xã chịu trách nhiệm trực tiếp nắm địa bàn, phát hiện dấu hiệu vi phạm, áp dụng biện pháp ngăn chặn ban đầu trong phạm vi thẩm quyền và báo cáo, chuyển vụ việc kịp thời khi vượt quá thẩm quyền. Đối với trường hợp vi phạm kéo dài, tái diễn hoặc hình thành hoạt động có tổ chức mà không được phát hiện, ngăn chặn dù đã có điều kiện để thực hiện nhiệm vụ, cần có cơ chế xem xét trách nhiệm của người đứng đầu và cá nhân được giao trực tiếp phụ trách. Việc xử lý người vi phạm phải đi cùng việc xem xét trách nhiệm quản lý khi có căn cứ cho thấy nhiệm vụ đã bị buông lỏng hoặc thực hiện không đầy đủ.
Thứ hai, chuẩn hóa quy trình xử lý vi phạm ngay từ cấp cơ sở, bảo đảm không để khoảng trống giữa các khâu quản lý. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần phối hợp với Bộ Công an nghiên cứu xây dựng quy trình liên ngành thống nhất, từ tiếp nhận thông tin, xác minh, kiểm tra hiện trường, áp dụng biện pháp ngăn chặn, xác định loại và khối lượng khoáng sản, lập hồ sơ, chuyển cơ quan có thẩm quyền đến theo dõi kết quả xử lý. Mỗi công đoạn cần xác định rõ đầu mối thực hiện, thời hạn hoàn thành và trách nhiệm chuyển giao khi vụ việc vượt thẩm quyền.
Đối với hành vi đang diễn ra, quy trình cần có cơ chế xử lý khẩn cấp, cho phép chính quyền cấp xã và lực lượng Công an tại địa bàn chủ động triển khai các biện pháp cần thiết trong phạm vi thẩm quyền, đồng thời báo cáo hoặc phối hợp với cấp có thẩm quyền. Mục tiêu là rút ngắn thời gian từ khi phát hiện đến khi kiểm tra, ngăn chặn, hạn chế tình trạng chờ ý kiến qua nhiều cấp khiến phương tiện, tang vật hoặc đối tượng rời khỏi hiện trường, làm giảm hiệu quả xử lý.
Thứ ba, thiết lập cơ chế phối hợp bắt buộc đối với khu vực giáp ranh và toàn bộ chuỗi khai thác – vận chuyển – tập kết – tiêu thụ. Đối với những khu vực có nguy cơ cao, UBND cấp tỉnh cần chủ động xây dựng, ký kết và công khai quy chế phối hợp với các địa phương liền kề, trong đó xác định rõ cơ quan chủ trì, phương thức trao đổi thông tin, thời hạn phản hồi, trách nhiệm tổ chức kiểm tra chung và cơ chế xử lý khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện chậm phần việc được giao.
Cơ chế phối hợp cũng cần được mở rộng theo chuỗi thay vì chỉ tập trung tại điểm khai thác. Cơ quan quản lý khoáng sản, Công an, cơ quan thuế, chính quyền cơ sở và lực lượng quản lý giao thông đường thủy cần có cơ chế trao đổi thông tin về giấy phép, phương tiện, khối lượng khai thác, bến bãi và nguồn gốc khoáng sản. Việc liên thông thông tin sẽ giúp kiểm soát cả quá trình từ khai thác đến lưu thông và tiêu thụ, hạn chế tình trạng khai thác tại một địa bàn, vận chuyển sang địa bàn khác rồi tìm cách hợp thức hóa nguồn gốc.
Thứ tư, chuyển từ đánh giá trách nhiệm dựa chủ yếu vào hoạt động hành chính sang đánh giá bằng kết quả quản lý thực tế. UBND cấp tỉnh cần nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hằng năm đối với từng địa bàn có hoạt động khoáng sản, tập trung vào những yếu tố phản ánh trực tiếp khả năng phòng ngừa và kiểm soát vi phạm, như số điểm khai thác trái phép phát sinh; thời gian xử lý phản ánh của người dân; tỷ lệ tái phạm; khối lượng khoáng sản bị phát hiện, thu giữ; số vụ chuyển xử lý hình sự; kết quả khắc phục, phục hồi khu vực bị tác động.
Các chỉ tiêu này có thể trở thành căn cứ để HĐND, cơ quan thanh tra và cơ quan quản lý chuyên ngành giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của UBND và người đứng đầu. Cách đánh giá này giúp khắc phục tình trạng chỉ căn cứ vào số cuộc kiểm tra hoặc số vụ xử phạt mà chưa phản ánh đầy đủ năng lực phòng ngừa. Một địa bàn có nhiều vụ xử lý chưa nhất thiết đồng nghĩa với quản lý hiệu quả nếu vi phạm liên tục tái diễn; ngược lại, khả năng phát hiện sớm và ngăn chặn ngay từ đầu cần được coi là một chỉ dấu quan trọng của chất lượng quản lý.
Bên cạnh đó, cần tăng cường ứng dụng công nghệ trong giám sát địa bàn. Bản đồ số, dữ liệu viễn thám, thiết bị định vị và hệ thống tiếp nhận phản ánh trực tuyến có thể được tích hợp để theo dõi biến động bất thường, khoanh vùng khu vực có nguy cơ cao và rút ngắn thời gian tiếp nhận, xác minh thông tin. Đây là giải pháp đặc biệt cần thiết đối với những khu vực rộng, xa khu dân cư hoặc khó tổ chức kiểm tra thường xuyên.
Tóm lại, hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phòng, chống khai thác khoáng sản trái phép cần bảo đảm bốn yêu cầu: rõ chủ thể, rõ nhiệm vụ, rõ thời hạn và rõ trách nhiệm khi không hoàn thành. Trong đó, phân cấp phải đi cùng cơ chế kiểm tra, giám sát và quy trách nhiệm; quy trình xử lý phải hạn chế khoảng trống giữa các cấp; phối hợp liên địa bàn phải được thiết kế thành nghĩa vụ có thời hạn; còn hiệu quả quản lý phải được đánh giá bằng kết quả phòng ngừa và kiểm soát thực tế. Chỉ khi những yêu cầu này được thể chế hóa đồng bộ, cơ chế quản lý mới có thể chuyển từ xử lý sau khi vi phạm xảy ra sang chủ động phát hiện, ngăn chặn và kiểm soát từ sớm, qua đó nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và bảo vệ hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản.
Phòng, chống khai thác khoáng sản trái phép là một trong những phép thử trực tiếp đối với hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền địa phương. Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024 cùng các quy định liên quan đã đẩy mạnh phân cấp, xác định rõ hơn nhiệm vụ của UBND các cấp; tuy nhiên, thực tiễn vẫn cho thấy vi phạm có thể kéo dài, tái diễn và phát sinh tại những địa bàn phức tạp, nhất là khu vực giáp ranh. Điều đó cho thấy việc xác lập thẩm quyền chưa đủ để bảo đảm hiệu quả quản lý nếu thiếu cơ chế kiểm soát và quy trách nhiệm tương ứng.
Vấn đề cốt lõi cần tiếp tục hoàn thiện là cụ thể hóa trách nhiệm của từng cấp, từng chủ thể; thiết lập quy trình xử lý thống nhất với thời hạn và đầu mối rõ ràng; tăng cường cơ chế phối hợp đối với các vụ việc liên địa bàn và toàn bộ chuỗi khai thác, vận chuyển, tập kết, tiêu thụ; đồng thời xây dựng phương thức đánh giá dựa trên kết quả quản lý thực tế thay vì chủ yếu dựa vào hoạt động hành chính. Đặc biệt, trách nhiệm của người đứng đầu cần được đặt trong mối liên hệ với khả năng nắm địa bàn, phát hiện sớm, ngăn chặn và xử lý kịp thời vi phạm.
Phân cấp chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng trách nhiệm giải trình, cơ chế giám sát và những tiêu chí đủ rõ để xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Khi mỗi khâu quản lý đều có chủ thể chịu trách nhiệm, thời hạn phải thực hiện và cơ chế xử lý khi không hoàn thành, chính quyền địa phương sẽ có điều kiện phát huy đầy đủ vai trò trong phòng ngừa, ngăn chặn khai thác khoáng sản trái phép, hạn chế thất thoát tài nguyên và bảo đảm hoạt động quản lý khoáng sản minh bạch, hiệu quả, gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Anh Tuấn
Danh mục tài liệu tham khảo
1.Báo Điện tử Chính phủ (2025), Hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ, thẩm quyền mới của UBND, Chủ tịch UBND cấp xã trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản, đăng ngày 31/7/2025, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/huong-dan-thuc-hien-cac-nhiem-vu-tham-quyen-moi-cua-ubnd-chu-tich-ubnd-cap-xa-trong-linh-vuc-dia-chat-va-khoang-san-119250731102856835.htm, truy cập ngày 11/8/2026. Tài liệu cho biết cấp xã được giao 04 nhiệm vụ, thẩm quyền mới trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản.
2.Báo Điện tử Chính phủ (2026), Phát hiện, xử lý nhiều vụ khai thác, vận chuyển cát không rõ nguồn gốc trên sông Hồng, đăng ngày 25/4/2026, https://baochinhphu.vn/phat-hien-xu-ly-nhieu-vu-khai-thac-van-chuyen-cat-khong-ro-nguon-goc-tren-song-hong-102260425202425749.htm, truy cập ngày 11/8/2026. Nguồn này phản ánh thực tiễn phối hợp giữa lực lượng Công an và chính quyền cơ sở trong kiểm tra, xử lý vi phạm; 06 cá nhân bị xử phạt đối với 11 hành vi, gần 180 triệu đồng và 987 m³ cát bị tịch thu.
3.Bộ Công an (2025), Thanh Hóa: Khởi tố, bắt tạm giam 2 đối tượng khai thác khoáng sản trái phép, đăng ngày 29/7/2025, https://bocongan.gov.vn/bai-viet/thanh-hoa-khoi-to-bat-tam-giam-2-doi-tuong-khai-thac-khoang-san-trai-phep-1753869204, truy cập ngày 11/8/2026. Vụ việc liên quan hoạt động khai thác trái phép kéo dài từ năm 2020 đến tháng 4/2025, với 12.115,89 m³ đất và số tiền thu lợi bất chính trên 700 triệu đồng.
4.Bộ Công an (2026), Khánh Hòa: Tăng cường đấu tranh, xử lý hành vi khai thác khoáng sản trái phép, đăng ngày 13/4/2026, https://bocongan.gov.vn/bai-viet/khanh-hoa-tang-cuong-dau-tranh-xu-ly-hanh-vi-khai-thac-khoang-san-trai-phep-1776075369, truy cập ngày 11/8/2026. Tài liệu phản ánh tình trạng khai thác đất, đá, cát, sỏi trái phép và hoạt động phối hợp giữa Công an tỉnh với chính quyền địa phương để phát hiện, kiểm tra, xử lý.
5.Chính phủ (2025), Nghị định số 131/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=213934&pageid=27160&typegroupid=4, truy cập ngày 11/8/2026. Đây là văn bản quan trọng khi phân tích thẩm quyền của cấp tỉnh và cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
6.Chính phủ (2025), Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 02/7/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản, có hiệu lực từ ngày 02/7/2025, https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=214459&orggroupid=2&pageid=27160, truy cập ngày 11/8/2026.
7.Chính phủ (2026), Nghị định số 21/2026/NĐ-CP ngày 16/01/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP và quy định chi tiết Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản, có hiệu lực từ ngày 16/01/2026, https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=216682&pageid=27160, truy cập ngày 11/8/2026.
8.Quốc hội (2024), Luật Địa chất và khoáng sản, Luật số 54/2024/QH15 ngày 29/11/2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=212482&orggroupid=1&pageid=27160, truy cập ngày 11/8/2026. Đây là nguồn pháp lý trung tâm của đề tài về quản lý nhà nước, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác và trách nhiệm của chính quyền địa phương.
9.Quốc hội (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025, có hiệu lực từ ngày 16/6/2025, https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=214553&pageid=27160&typegroupid=3, truy cập ngày 11/8/2026. Văn bản là căn cứ quan trọng để phân tích phân cấp, thẩm quyền, trách nhiệm của UBND và Chủ tịch UBND các cấp.
10.Quốc hội (2025), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản, Luật số 147/2025/QH15 ngày 11/12/2025, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, https://vanban.chinhphu.vn/?docid=216553&pageid=27160&typegroupid=3, truy cập ngày 11/8/2026.


