Thứ Tư, Tháng 6 3, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Tự chủ Chiến lược – Bước đột phá Tư duy Lý luận đối với khát vọng Vươn mình của Dân tộc

 

NCS Bùi Duy HùngHọc viện Chính trị/Bộ Quốc phòng

Tô Hiến ThàHọc viện Kỹ thuật quân sự



ĐNA -

Bài viết luận giải sâu sắc bước đột phá tư duy lý luận của Đảng từ tự chủ chiến lược đến hệ thống định hướng hành động trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trên cơ sở đó, bài viết làm nổi bật tầm vóc định hướng vĩ mô của tư duy tự chủ chiến lược trên ba trục cốt lõi: tư tưởng, kinh tế và con người mới. Đặc biệt, bài viết đề xuất định hướng một số giải pháp cơ bản nhằm hiện thực hóa thực hiện đồng bộ các giải pháp từ bứt phá kinh tế số, hoàn thiện thể chế kiến tạo, đến phát huy chủ thể nhân dân, góp phần tạo tiền đề lý luận vững chắc đưa quốc gia tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: tự chủ chiến lược; tư duy lý luận; kỷ nguyên mới.

Bước đột phá lý luận về tư duy tự chủ chiến lược là kết quả của sự phản ánh khách quan, khoa học và cách mạng của Đảng ta trước những quy luật vận động tất yếu của thời đại số và yêu cầu phát triển nội sinh của dân tộc…

Đặt vấn đề

Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, sự biến đổi sâu sắc của tồn tại xã hội luôn đặt ra yêu cầu tất yếu khách quan về sự vượt trước mang tính định hướng của ý thức lý luận. Hiện nay, thế giới đang trải qua những biến động địa chính trị phức tạp cùng với sự bùng nổ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là quá trình chuyển đổi số toàn diện và sự hình thành nền kinh tế tri thức. Bối cảnh này tạo ra thời cơ và thách thức to lớn đối với chủ quyền, an ninh và hệ giá trị tư tưởng của mỗi quốc gia, dân tộc. Bước vào kỷ nguyên mới, để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc và hùng cường, Đảng ta đã phát triển tư duy lý luận mới mang tính then chốt khi xác lập “tư duy tự chủ chiến lược”. Đây là một bước đột phá lý luận quan trọng, đóng vai trò vũ khí tư tưởng sắc bén và mũi nhọn định hướng cho mọi hành động đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Nội dung

Tự chủ chiến lược – Bước đột phá tư duy lý luận của Đảng trong kỷ nguyên mới

Tư duy lý luận là trình độ phản ánh hiện thực khách quan ở cấp độ cao nhất, mang tính tự giác, hệ thống và khái quát sâu sắc. Do đó, tư duy lý luận có thể hiểu là hình thức hoạt động trí tuệ đặc trưng của con người, thông qua khái quát hóa, trừu tượng hóa các tri thức kinh nghiệm rời rạc, cảm tính để rút ra những mối liên hệ bản chất, mang tính tất nhiên, phổ biến và quy luật vận động nội tại của hiện thực khách quan, hình thành hệ thống các phạm trù, nguyên lý và học thuyết khoa học.

Theo đó, tư duy lý luận có ba đặc trưng cơ bản như sau: Thứ nhất, tính khái quát hóa và trừu tượng hóa cao độ, cho phép tư duy lý luận không dừng lại ở việc mô tả những biểu hiện bề ngoài, trực quan sinh động của tồn tại xã hội, mà đi sâu bóc tách, lọc bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, cá biệt để tiếp cận và nắm bắt bản chất cốt lõi của thế giới khách quan. Thứ hai, tính hệ thống và logic biện chứng chặt chẽ, biểu hiện ở chỗ các tri thức lý luận luôn liên kết với nhau trong một chỉnh thể thống nhất, có căn cứ khoa học vững chắc và không ngừng được kiểm nghiệm, bổ sung bởi thực tiễn lịch sử. Thứ ba, khả năng định hướng và dự báo vượt trước hiện thực. Nhờ năng lực nhận thức đúng đắn xu hướng vận động khách quan, tư duy lý luận tiên tiến có khả năng vạch ra mục tiêu chiến lược, thiết kế phương pháp luận hành động và chỉ đạo thực tiễn, trở thành động lực tinh thần to lớn để cải biến và thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển. Bởi vậy, tư duy lý luận là vũ khí tư tưởng tối cao, là ngọn đuốc soi đường cho mọi bước chuyển mình lịch sử của xã hội, đặc biệt trong quá trình hoạch định đường lối cách mạng của Đảng. Đại hội XIV của Đảng nhận định: “sự đổi mới và sáng tạo liên tục trong tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở kiên định, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu mới nhất về lý luận của thế giới và không ngừng tổng kết thực tiễn trong suốt 40 năm đổi mới”[1].

Vì vậy, khi thực tiễn thời đại và tồn tại xã hội dịch chuyển sang một hình thái mới, tư duy lý luận của Đảng tất yếu phải thực hiện một bước nhảy vọt biện chứng để không rơi vào sự lạc hậu, trì trệ. Chính từ bản chất định hướng hành động và quy luật vượt trước khoa học đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đúc kết, xác lập phạm trù “tự chủ chiến lược” trong kỷ nguyên mới, một phạm trù lý luận không chỉ đáp ứng đòi hỏi cấp bách của thực tiễn mà còn chứa đựng đầy đủ bản chất khoa học và cách mạng sâu sắc.

Tự chủ chiến lược được hiểu là năng lực, vị thế và quyền quyết định hoàn toàn độc lập, tự tin, tự lực, tự cường của một quốc gia – dân tộc trong việc lựa chọn đường lối phát triển, quy hoạch tương lai, hoạch định chính sách đối nội, đối ngoại và chủ động ứng phó với các biến động địa chính trị, địa kinh tế toàn cầu mà không bị chi phối, can thiệp, lệ thuộc hay áp đặt bởi bất kỳ thế lực bên ngoài nào. Khi năng lực vật chất và vị thế khách quan đó được phản ánh vào đời sống tinh thần của Đảng, thông qua năng lực tư duy tự chủ chiến lược, nó đã được nâng tầm và cấu thành hệ thống luận điểm khoa học ở cấp độ ý thức lý luận mới. Theo đó, tư duy tự chủ chiến lược là quá trình nhận thức hiện thực khách quan mang tính đại cục, bản lĩnh và hệ thống, lấy lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc làm định bàn, chủ động kiến tạo các định hướng phát triển nội sinh và thiết lập cơ chế phòng vệ chủ động nhằm hóa giải các nguy cơ, thách thức của thời đại. Điều này thể hiện rõ tính khoa học và cách mạng của tư duy tự chủ chiến lược trong bối cảnh thực tiễn hiện nay.

Về tính khoa học, tư duy tự chủ chiến lược trước hết được khẳng định thông qua thuộc tính khách quan nghiêm ngặt. Tư duy này hoàn toàn không phải là kết quả của ý chí chủ quan duy ý chí, sự ngộ nhận về sức mạnh hay xu hướng tự cô lập mang tính biệt lập. Ngược lại, nó bắt nguồn từ việc phân tích sâu sắc, thấu triệt các quy luật khách quan của thời đại, bao gồm xu thế toàn cầu hóa, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thực thể chính trị, nhất là quy luật vận động của lực lượng sản xuất mới gắn liền với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức và chuyển đổi số. Đảng ta nhận thức rõ rằng trong thế giới đương đại, tự chủ không có nghĩa là đóng cửa, cự tuyệt hội nhập, mà là xác lập một nội lực đủ mạnh để tự quyết và giữ vững định hướng phát triển trong một tư thế mở cửa, biến các dòng áp lực bên ngoài thành xung lực phát triển bên trong.

Tư duy tự chủ chiến lược còn nằm ở tính kế thừa biện chứng và sâu sắc các giá trị tinh hoa của lịch sử. Tư duy này kế thừa và làm mới sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, đó là quan điểm “dân là gốc”, tinh thần độc lập, tự cường, tư tưởng “tự lực cánh sinh”, dựa vào sức mình là chính và nghệ thuật ngoại giao mềm dẻo về sách lược nhưng kiên định về nguyên tắc chiến lược.

Tư duy tự chủ chiến lược là sự vận dụng và phát triển sáng tạo thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin. V.I.Lênin đã chỉ rõ về quyền dân tộc tự quyết: “Các dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ”[2]. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo về mục tiêu của dân tộc, đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, về chân lý “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”[3]. Tinh thần ấy đã được Người tiếp tục khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[4]. Ngoài ra, tư duy này chủ động tiếp thu có chọn lọc các học thuyết tiến bộ về quan hệ quốc tế, các mô hình quản trị quốc gia hiện đại, tư duy quản lý không gian mạng toàn cầu và xu thế phát triển bền vững của văn minh nhân loại.

Điều này đã được thực tiễn cách mạng chỉ rõ một cách hùng hồn thông qua những thành tựu vĩ đại của công cuộc Đổi mới hơn bốn mươi năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lịch sử chứng minh rằng mỗi khi chúng ta giữ vững được sự độc lập, tự chủ về đường lối chính trị, kinh tế và đối ngoại, quốc gia đều hóa giải thành công các cuộc khủng hoảng kinh tế, đại dịch và xung đột địa chính trị toàn cầu, bảo vệ vững chắc chủ quyền và nâng cao tiềm lực đất nước. Những thành tựu đó chính là tiêu chuẩn khách quan tối cao khẳng định giá trị chân lý và tính khoa học của tư duy này.

Về tính cách mạng, tư duy tự chủ chiến lược trong thời đại mới được biểu hiện ở tinh thần kiên quyết đoạn tuyệt với lối mòn tư duy cũ mang tính thụ động, lệ thuộc hay chỉ ứng phó sự vụ trước các biến động. Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện và bùng nổ không gian mạng, tính cách mạng của tư duy này chính là sự chủ động, kiến tạo luật chơi, xác lập một cách mạnh mẽ chủ quyền số quốc gia và an ninh tư tưởng trên môi trường số. Tư duy tự chủ chiến lược mang tính cách mạng vì nó hướng thẳng vào việc giải phóng mọi nguồn lực nội sinh, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, kiên quyết đấu tranh khắc phục các biểu hiện lệch chuẩn, tâm lý tiểu nông, bảo thủ, trì trệ hay bệnh sùng bái ngoại lai. Nó là vũ khí tư tưởng tối cao để Đảng và nhân dân ta chủ động định hình vị thế quốc gia, hội nhập sâu rộng nhưng không hòa tan, bảo vệ tuyệt đối nền tảng tư tưởng và định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đại hội XIV của Đảng xác định: “Tăng cường nguồn lực và các thể chế đầu tư đặc thù cho quốc phòng, an ninh, đối ngoại để nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của đất nước trên nguyên tắc bảo đảm và ưu tiên cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc”[5].

Trên cơ sở xác lập bản chất khoa học và cách mạng, vai trò định hướng của tư duy tự chủ chiến lược trong kỷ nguyên mới được biểu hiện sinh động với tư cách là nhân tố quy định đường lối, dẫn dắt hành động và kiến tạo tương lai phát triển của toàn thể quốc gia – dân tộc. Tầm vóc định hướng mang tính bước ngoặt này được triển khai toàn diện và sâu sắc thông qua ba nội dung cơ bản, cấu thành một chỉnh thể lý luận thống nhất, cụ thể:

Một là, vai trò định hướng chính trị – tư tưởng, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của toàn Đảng, toàn dân trước các tác động phức tạp của thời đại mới. Đại hội XIV của Đảng xác định: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới”[6]. Trong bối cảnh sự bùng nổ của không gian mạng và các phương tiện truyền thông số đang làm lu mờ các ranh giới địa lý truyền thống, tạo điều kiện cho sự xâm nhập, thẩm thấu của các trào lưu tư tưởng ngoại lai, tư duy tự chủ chiến lược được xem như một cơ chế phòng vệ tự giác, “màng lọc tinh thần” tối ưu của ý thức xã hội. Nó định hướng cho các chủ thể nhận thức rõ ranh giới giữa hội nhập văn minh và đồng hóa tư tưởng, nâng cao “sức đề kháng chính trị” và năng lực tự bảo vệ của cán bộ, đảng viên cùng quần chúng nhân dân trước chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Không dừng lại ở việc phòng vệ thụ động, đột phá tư duy này định hướng việc chủ động xác lập trận địa tư tưởng vững chắc trên không gian mạng, biến các công cụ kỹ thuật số thành phương tiện truyền bá nền tảng tư tưởng của Đảng, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo, tuyệt đối trong đời sống tinh thần xã hội, từ đó củng cố niềm tin khoa học vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.

Thứ hai, vai trò định hướng toàn diện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội theo hướng tự tin, tự lực, tự cường, bền vững, đẩy mạnh giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất mới. Theo đó, độc lập về chính trị không thể tách rời và không thể vững chắc nếu thiếu đi bệ đỡ của một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Đột phá tư duy này chỉ ra rằng, trong kỷ nguyên số và kinh tế tri thức, sự tự chủ không còn đo đếm thuần túy bằng quy mô tài nguyên hay lao động giá rẻ, mà được quyết định bằng năng lực làm chủ công nghệ lõi, dữ liệu số và đổi mới sáng tạo. Do đó, tư duy tự chủ chiến lược định hướng việc tái cấu trúc nền kinh tế quốc gia, dịch chuyển vị thế của Việt Nam từ một mắt xích gia công thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu trở thành một quốc gia tự chủ về công nghệ và nội sinh về năng lực phát triển. Nó đòi hỏi phải gắn kết chặt chẽ tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với việc xây dựng hạ tầng số quốc gia, phát triển mạnh mẽ kinh tế số, xã hội số nhằm tạo ra năng suất lao động vượt trội, đồng thời định hướng việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mang tính kiến tạo, giải phóng mọi nguồn lực xã hội để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Thứ ba, vai trò định hướng quá trình kiến tạo con người mới Việt Nam hiện đại. Đây là chủ thể mang tư duy độc lập, bản lĩnh tự tin và năng lực sáng tạo vượt trội trong kỷ nguyên mới. Sức mạnh của ý thức lý luận chỉ thực sự được giải phóng khi nó thâm nhập và chuyển hóa thành ý thức tự giác của quần chúng nhân dân. Đột phá tư duy của Đảng về tự chủ chiến lược định hướng việc hình thành mẫu hình con người Việt Nam thời đại mới, vừa bám rễ sâu vào cội nguồn văn hóa, lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, vừa sở hữu năng lực tư duy toàn cầu, tác phong công nghiệp tiên tiến và tư duy số nhạy bén. Tư duy này định hướng công tác giáo dục, đào tạo và phát triển con người phải tập trung khơi dậy khát vọng cống hiến, ý chí tự lực, tự cường, xóa bỏ tâm lý tự ti, ỷ lại hay sùng bái “ngoại lai” vô điều kiện. Khi mỗi cá nhân trong xã hội được vũ trang bằng ý thức tự chủ chiến lược, họ sẽ trở thành những chủ thể sáng tạo độc lập, chủ động chiếm lĩnh tri thức khoa học công nghệ, tự tin giao lưu, hợp tác quốc tế, trực tiếp chuyển hóa xung lực tư tưởng của Đảng thành những hành động thực tiễn sinh động, đưa đất nước vững vàng bứt phá trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Như vậy, sự đột phá tư duy tự chủ chiến lược của Đảng là sự phản ánh khách quan, sự kế thừa sâu sắc các giá trị tinh hoa nhân loại và được kiểm nghiệm bởi thực tiễn lịch sử nhằm đáp ứng các quy luật vận động tất yếu của thời đại số. Với tư cách là vũ khí tư tưởng tiên tiến sở hữu tính năng dự báo và vượt trước hiện thực, tư duy tự chủ chiến lược đóng vai trò là mũi nhọn định hướng toàn diện trên cả ba trục cốt lõi: giữ vững trận địa chính trị – tư tưởng, kiến tạo hạ tầng kinh tế tự cường và bồi đắp chủ thể con người mới. Đây chính là bệ phóng lý luận chín muồi, tạo tiền đề tư tưởng quyết định để chuyển hóa thành hệ thống các phương hướng hành động thực tiễn trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Một số định hướng giải pháp cơ bản nhằm hiện thực hóa và quán triệt tư duy tự chủ chiến lược trong thực tiễn hiện nay

Việc xác lập hệ thống các định hướng giải pháp cơ bản nhằm hiện thực hóa và quán triệt tư duy tự chủ chiến lược là cầu nối tất yếu để chuyển hóa sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất cải biến tồn tại xã hội. Bởi vì, tư duy lý luận tiên tiến không thể tự thân biến đổi thành hiện thực nếu không được vật chất hóa thông qua hoạt động thực tiễn tự giác của con người. Do đó, việc định hình và thực hiện nghiêm túc các định hướng giải pháp cơ bản là đòn bẩy giải phóng nguồn lực, yêu cầu mang tính cấp thiết để bảo vệ độc lập tư tưởng, củng cố hạ tầng kinh tế tự chủ, kiến tạo đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Một là, gắn kết chặt chẽ đột phá tư duy lý luận với việc phát triển kinh tế số, hoàn thiện thể chế và nâng cao đời sống vật chất của nhân dân.

Định hướng giải pháp này là nền tảng, điều kiện tiên quyết và thước đo thực tiễn cao nhất trong hệ thống các giải pháp nhằm hiện thực hóa tư duy tự chủ chiến lược. Lý luận dù tiên tiến đến đâu cũng không thể phát huy hiệu lực nếu thiếu đi bệ đỡ vững chắc từ một hạ tầng kinh tế – vật chất tương xứng. Do đó, định hướng giải pháp này là sự vật chất hóa tư duy lý luận, chuyển hóa nguồn lực tinh thần mang tính đột phá của Đảng thành năng lực kinh tế tự cường, thể chế quản trị hiện đại và sự phồn vinh thực tế của xã hội. Kinh tế số đóng vai trò là động lực vật chất mới, thể chế là đòn bẩy giải phóng nguồn lực, và đời sống nhân dân chính là mục tiêu tối cao, tạo nên một chỉnh thể biện chứng thống nhất, bảo đảm cho tư duy tự chủ chiến lược không rơi vào trạng thái trừu tượng mà bám rễ sâu chắc trong lòng thực tiễn.

Về nội dung, biện pháp cụ thể, tiến trình này cần được triển khai đồng bộ qua ba trọng tâm cơ bản. Thứ nhất, về mặt phát triển kinh tế số, nội dung cốt lõi là giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất mới dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đảng ta xác định: “Thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất mới, trọng tâm là phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, xây dựng xã hội số, thân thiện với môi trường”[7]. Do đó, cần tập trung đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng số quốc gia, đẩy mạnh việc nghiên cứu, chuyển giao và làm chủ các công nghệ lõi, nền tảng số và dữ liệu số; kiên quyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ mô hình gia công, phụ thuộc bên ngoài sang mô hình nội sinh, tự chủ, đưa Việt Nam trở thành một mắt xích có vị thế độc lập trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ hai, về mặt hoàn thiện thể chế, nội dung trọng tâm là kiến tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thông thoáng nhằm giải phóng toàn diện mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế. Đảng ta xác định: “Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực”[8]. Do đó, phải đổi mới mạnh mẽ tư duy lập pháp, xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình kinh tế mới, đẩy mạnh cải cách hành chính, xóa bỏ triệt để tình trạng cát cứ, rào cản pháp lý nhằm tạo môi trường tối ưu cho đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp số nội địa phát triển.

Thứ ba, về mặt nâng cao đời sống vật chất của nhân dân, đây là mục tiêu tối hậu khẳng định bản chất ưu việt của chế độ và tính đúng đắn của tư duy lý luận. Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: “cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc”[9]. Muốn vậy, cần phải gắn kết thành quả của kinh tế số với việc hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, thực hiện phân phối công bằng, tập trung thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, khoảng cách số giữa các vùng miền, bảo đảm cho mọi tầng lớp nhân dân đều được thụ hưởng trực tiếp và bình đẳng những giá trị vật chất, tinh thần do công cuộc Đổi mới mang lại, từ đó củng cố niềm tin khoa học và tạo sự đồng thuận xã hội tuyệt đối.

Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trên lình vực tư tưởng – lý luận.

Định hướng giải pháp này có vai trò là nguyên tắc phương pháp luận cốt lõi, quy luật vận động nội tại bảo đảm tính bền vững và thắng lợi của tiến trình hiện thực hóa tư duy tự chủ chiến lược trên mặt trận tư tưởng. Sự phát triển luôn là quá trình đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập; trong đó, cái mới tiến bộ muốn hình thành và giữ vững vị thế chủ đạo thì tất yếu phải vừa tự bồi đắp, định hình bản thân, vừa kiên quyết loại bỏ cái cũ, cái tiêu cực cản trở. Nếu chỉ “xây” mà không “chống”, lý luận sẽ rơi vào trạng thái chủ quan, mất cảnh giác, tạo lỗ hổng cho các thế lực thù địch xâm nhập; ngược lại, nếu chỉ “chống” mà không “xây”, chúng ta sẽ sa vào tư duy thụ động, thiếu đi nguồn lực nội sinh để tự cường và phát triển vững chắc. Điều này đòi hỏi nội dung, biện pháp của giải pháp phải được triển khai đồng bộ thông qua hai chiều tác động hữu cơ với nhau.

Thứ nhất, đối với nội dung “xây”, đây là nhiệm vụ căn cơ, chiến lược và lâu dài nhằm khơi dậy và bồi đắp nguồn sức mạnh nội sinh tinh thần của quốc gia. Nội dung, biện pháp thực hiện bao gồm việc đẩy mạnh giáo dục lý tưởng cách mạng, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng hiện đại, khoa học, bám sát thực tiễn thời đại số; khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn mình mạnh mẽ của toàn thể nhân dân. Đồng thời, cần tập trung xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới mang tư duy số, tác phong công nghiệp tiên tiến, có năng lực đổi mới sáng tạo và ý thức tự chủ độc lập trong môi trường hội nhập toàn cầu, biến các giá trị văn hóa tinh thần bền vững thành nguồn lực nội sinh trực tiếp thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước.

Thứ hai, đối với nội dung “chống”, đây là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách nhằm loại bỏ các lực cản tư tưởng và bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Biện pháp thực hiện cụ thể là kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chủ động phê phán, khắc phục triệt để chủ nghĩa cá nhân thực dụng, bệnh lười học lý luận, thói quen tùy tiện kiểu sản xuất nhỏ, tư tưởng bảo thủ, trì trệ hoặc tâm lý sùng bái “ngoại lai” vô điều kiện. Đặc biệt, trên không gian mạng và môi trường truyền thông số, phải triển khai các biện pháp kỹ thuật và lý luận sắc bén nhằm chủ động đấu tranh, phản bác kịp thời các luận điệu xuyên tạc, thù địch, bảo vệ tuyệt đối nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ vững chủ quyền an ninh tư tưởng của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Ba là, kiên định các giá trị truyền thống bền vững của dân tộc kết hợp chủ động, tự tin tiếp thu tinh hoa văn minh nhân loại.

Định hướng giải pháp này có vai trò quyết định bản sắc dân tộc và khả năng hội nhập quốc tế trong tiến trình thực hiện tư duy tự chủ chiến lược. Sự phát triển của xã hội bao giờ cũng là sự phủ định biện chứng, nghĩa là giữ lại và nâng tầm những nhân tố tiến bộ của lịch sử, đồng thời mở rộng không gian tương tác để tiếp biến những giá trị tiến tiến của thời đại. Do đó, đây là giải pháp giúp xác lập một bộ lọc văn hóa và lý luận tự cường cho quốc gia, bảo đảm cho dân tộc ta vừa giữ vững được gốc rễ, cốt cách, chủ quyền tinh thần độc lập, vừa không rơi vào trạng thái biệt lập, bảo thủ trước dòng chảy của văn minh thế giới; là nguyên tắc quan trọng để thực hiện phương châm hội nhập nhưng không hòa tan, biến các giá trị văn hóa thành nguồn lực nội sinh và động lực tinh thần cho khát vọng vươn mình của dân tộc. Do đó, tiến trình này đòi hỏi phải xử lý hài hòa mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại thông qua hai phương diện tác động hữu cơ như sau:

Thứ nhất, đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, trọng tâm là phải làm sống động các nguồn lực tinh thần lịch sử trong lòng xã hội hiện đại. Nội dung, biện pháp thực hiện cụ thể bao gồm việc đẩy mạnh công tác giáo dục, khơi dậy và bồi đắp sâu sắc lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung và nghệ thuật ứng xử hòa hiếu được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước. Cần phải số hóa, hiện đại hóa phương thức truyền tải các giá trị văn hóa truyền thống trên các nền tảng truyền thông mới, biến di sản tinh thần của cha ông thành dòng chủ lưu định hình bản sắc, lối sống và đạo đức của con người Việt Nam thời đại mới, tạo sức đề kháng tự nhiên trước thách thức xâm lăng văn hóa.

Thứ hai, đối với việc chủ động, tự tin tiếp thu tinh hoa văn minh nhân loại, trọng tâm là mở rộng tầm nhìn lý luận để làm giàu cho nội lực quốc gia. Biện pháp thực hiện đòi hỏi chúng ta phải chủ động, đón đầu và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu tiên tiến nhất của nhân loại về khoa học công nghệ, tư duy quản trị quốc gia hiện đại, kinh nghiệm phát triển kinh tế số, xã hội số và các giá trị pháp quyền tiến bộ. Quá trình tiếp thu này phải được thực hiện trên thế đứng của một quốc gia tự chủ, nghĩa là không sao chép máy móc, giáo điều mà phải có sự phê phán, chuyển hóa và vận dụng sáng tạo sao cho phù hợp với đặc điểm thực tiễn, thể chế chính trị và văn hóa của Việt Nam. Sự kết hợp nhuần nhuyễn này sẽ biến những tri thức của nhân loại thành khả năng phát triển của dân tộc, tạo ra một lực lượng sản xuất mới mạnh mẽ để đất nước bứt phá trong kỷ nguyên mới.

Bốn là, phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo, định hướng và dẫn dắt của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giải pháp này là động lực quan trọng, nhân tố bảo đảm tính thành bại và quy định bản chất nhân văn sâu sắc của tiến trình hiện thực hóa tư duy tự chủ chiến lược. Bởi vì, quần chúng nhân dân là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử, là chủ thể của mọi dòng vận động cách mạng; một hệ tư tưởng hay tư duy lý luận tiên tiến chỉ thực sự giải phóng được sức mạnh vật chất vĩ đại khi nó thâm nhập, chuyển hóa thành ý thức tự giác và hành động thực tiễn của hàng triệu con người. C. Mác đã khẳng định: “Lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng có thể trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng”[10]. Vai trò cốt lõi của giải pháp này là định vị lại mối quan hệ biện chứng giữa Đảng với tư cách là hạt nhân lãnh đạo, định hướng tư tưởng và Nhân dân với tư cách là chủ thể thực hiện, thụ hưởng thành quả của sự phát triển. Đổi mới phương thức công tác tư tưởng của Đảng chính là điều kiện cần để khai mở, kích hoạt năng lực đổi mới, sáng tạo nội sinh của nhân dân, biến tư duy tự chủ chiến lược từ ý chí của Đảng thành bản lĩnh tự tin, tự lực, tự cường của toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Trước hết, đối với việc phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, trọng tâm là phải đặt người dân vào vị trí trung tâm của mọi chiến lược phát triển. Muốn vậy, phải thực hiện nghiêm túc cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Cần phải khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, khát vọng cống hiến, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và ý chí tự lực, tự cường của nhân dân; tạo mọi điều kiện thuận lợi và hành lang pháp lý để nhân dân chủ động tham gia vào tiến trình chuyển đổi số, phát triển kinh tế và quản trị xã hội. Khi quyền làm chủ và lợi ích chính đáng của người dân được bảo đảm, động lực sáng tạo của quần chúng sẽ được giải phóng toàn diện, thúc đẩy đất nước phát triển mạnh mẽ.

Thứ hai, đổi mới phương thức công tác tư tưởng của Đảng, trọng tâm là phải hiện đại hóa toàn diện công tác lý luận để đi trước dẫn đường và thẩm thấu sâu sắc vào đời sống quần chúng. Do đó, Đảng ta phải quyết liệt đoạn tuyệt với lối truyền bá lý luận một chiều, khô cứng, áp đặt, chuyển mạnh sang phương thức đối thoại, thuyết phục, lấy thực tiễn sinh động để chứng minh cho chân lý lý luận. Đặc biệt, trong bối cảnh bùng nổ không gian mạng, công tác tư tưởng phải chủ động chiếm lĩnh và ứng dụng các nền tảng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, truyền thông đa phương tiện để lan tỏa nền tảng tư tưởng của Đảng và các thông điệp chiến lược của quốc gia một cách nhanh chóng, hấp dẫn, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Qua đó, định hướng dư luận xã hội lành mạnh, kịp thời bẻ gãy các luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch, củng cố vững chắc niềm tin khoa học của nhân dân vào đường lối phát triển độc lập, tự chủ của dân tộc.

Kết luận

Bước đột phá lý luận về tư duy tự chủ chiến lược là kết quả của sự phản ánh khách quan, khoa học và cách mạng của Đảng ta trước những quy luật vận động tất yếu của thời đại số và yêu cầu phát triển nội sinh của dân tộc. Không dừng lại ở một phạm trù lý luận trừu tượng, tư duy tự chủ chiến lược đóng vai trò là kim chỉ nam định hướng toàn diện tiến trình phát triển kinh tế số, hoàn thiện thể chế kiến tạo, kết hợp chặt chẽ biện chứng giữa “xây” và “chống”, đồng thời giải phóng mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân. Việc quán triệt sâu sắc hệ thống các định hướng giải pháp cơ bản này là yêu cầu cấp thiết, tạo tiền đề kiến tạo chuyển hóa sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất tổng hợp của toàn dân tộc, góp phần bảo đảm cho quốc gia kiên định truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc và chủ động, tự tin phát triển trong kỷ nguyên mới.

Tô Hiến Thà – Học viện Kỹ thuật quân sự

NCS Bùi Duy Hùng – Học viện Chính trị/Bộ Quốc phòng

Chú thích tài liệu trích dẫn

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.50.

[2] V.I. Lê-nin (1914), “Về quyền dân tộc tự quyết”, Toàn tập, tập 27, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 327.

[3] Hồ Chí Minh (1945), “Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa”, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.596.

[4] Hồ Chí Minh (1945), “Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.3.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.233.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.259.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.386.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.387.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.397.

[10] C.Mác – Ph.Ăngghen (1844), “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen – Lời nói đầu”, Tuyển tập, Nxb. Sự Thật, H,1980, tr.25.

Tài liệu tham khảo

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.50.
  2. I. Lênin (1914), “Về quyền dân tộc tự quyết”, Toàn tập,tập 27, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 327.
  3. Mác – Ph.Ăngghen (1844), “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen – Lời nói đầu”, Tuyển tập, Nxb. Sự Thật, H,1980, tr.25.
  4. Hồ Chí Minh (1945), “Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa”, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.596.
  5. Hồ Chí Minh (1945), “Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.3.