Hơn tám thập kỷ sau khi Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 ra đời, quan điểm coi văn hóa là nền tảng cho sự tồn vong và phát triển của dân tộc vẫn được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, bổ sung và phát triển qua từng thời kỳ. Đại hội XIV tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết của sự phát triển. Trong bối cảnh thời gian qua xuất hiện nhiều vi phạm trong lĩnh vực xuất bản, việc chấn chỉnh các hoạt động văn hóa, truyền thông và xuất bản không chỉ nhằm khắc phục những bất cập trước mắt mà còn là yêu cầu tất yếu để hoàn thiện tư duy lý luận, xây dựng nền văn hóa thực sự trở thành sức mạnh dẫn dắt sự phát triển bền vững của quốc gia.

Hành trình phát triển tư duy lý luận của Đảng về văn hóa
Ngày 28/2/1943, Đề cương văn hóa Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh khởi thảo ra đời trong bối cảnh đất nước còn dưới ách thống trị của thực dân, phát xít. Lần đầu tiên, Đảng Cộng sản Đông Dương xác lập một cương lĩnh về văn hóa, khẳng định văn hóa là một mặt trận, người làm văn hóa là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Ba nguyên tắc dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa trở thành nền tảng xây dựng nền văn hóa cách mạng Việt Nam, đồng thời đặt nền móng cho tư duy coi văn hóa là sức mạnh phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước.
Từ nền tảng đó, tư duy lý luận của Đảng về văn hóa không ngừng được bổ sung và phát triển qua từng giai đoạn lịch sử. Trong các cuộc kháng chiến và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, văn hóa trở thành nguồn sức mạnh tinh thần, góp phần hun đúc lòng yêu nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bồi đắp những giá trị cốt lõi như độc lập, tự chủ, nhân ái, nghĩa tình. Văn hóa không chỉ đồng hành mà còn tạo động lực cho sự nghiệp cách mạng.
Bước vào thời kỳ đổi mới, trước yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, tư duy lý luận về văn hóa tiếp tục được nâng lên một tầm cao mới. Qua các kỳ Đại hội của Đảng, đặc biệt từ Đại hội VI đến Đại hội XIII, văn hóa từng bước được xác định vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển; con người được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển, còn xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trở thành điều kiện bảo đảm cho phát triển nhanh và bền vững.
Đại hội XIV tiếp tục phát triển tư duy đó khi nhấn mạnh văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết của sự phát triển. Đây là bước phát triển mang tính kế thừa từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943, phản ánh yêu cầu đặt văn hóa ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển quốc gia thời kỳ mới. Nếu trước đây văn hóa chủ yếu được nhìn nhận như sức mạnh phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc thì nay văn hóa còn được xác định là yếu tố điều tiết, định hướng và bảo đảm cho sự phát triển bền vững.
Xuyên suốt quá trình đó, cùng với việc hoàn thiện tư duy lý luận, Đảng luôn chú trọng định hướng và chấn chỉnh những biểu hiện lệch chuẩn trong đời sống văn hóa nhằm bảo đảm sự phát triển đúng định hướng. Việc xử lý vụ Nhân văn – Giai phẩm những năm 1950 diễn ra trong bối cảnh lịch sử và điều kiện quản lý văn hóa đặc thù của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Dù mỗi giai đoạn có bối cảnh và phương thức quản lý khác nhau, điểm nhất quán là Đảng luôn coi văn hóa là lĩnh vực đặc biệt quan trọng, gắn chặt với lợi ích quốc gia, dân tộc.
Từ mạch phát triển liên tục của tư duy lý luận đó, có thể thấy chủ trương chấn chỉnh lĩnh vực văn hóa, truyền thông và xuất bản trong giai đoạn hiện nay không đơn thuần xuất phát từ việc xử lý các vụ việc cụ thể, mà là sự tiếp nối nhất quán của quá trình lãnh đạo, định hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Mục tiêu xuyên suốt là đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước hôm nay và mai sau.
Chấn chỉnh để văn hóa phát huy vai trò dẫn dắt phát triển
Chấn chỉnh lĩnh vực văn hóa, truyền thông và xuất bản không phải là thu hẹp không gian sáng tạo hay hạn chế tự do học thuật, mà nhằm xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh, nơi hoạt động sáng tạo được phát triển trên nền tảng tôn trọng sự thật lịch sử, các giá trị chân – thiện – mỹ, lợi ích quốc gia – dân tộc và pháp luật. Chỉ trong một môi trường được định hướng đúng đắn, tự do sáng tạo mới có thể phát huy giá trị, góp phần bồi đắp bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, trước hết cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với các lĩnh vực văn hóa, truyền thông và xuất bản. Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với sự phát triển của công nghệ và môi trường truyền thông số, cần đổi mới quy trình biên tập, thẩm định, xuất bản theo hướng khoa học, minh bạch và chuyên nghiệp, đồng thời tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý, nhà xuất bản, cơ quan báo chí, đơn vị truyền thông và các chủ thể tham gia sáng tạo.
Tuy nhiên, yếu tố quyết định vẫn là con người. Một nền văn hóa mạnh chỉ có thể được xây dựng trên nền tảng đội ngũ cán bộ quản lý, nhà báo, biên tập viên, văn nghệ sĩ, nhà nghiên cứu và người làm công tác xuất bản có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng và trình độ chuyên môn cao. Trong kỷ nguyên số, khi mỗi sản phẩm truyền thông, mỗi cuốn sách hay mỗi quyết định biên tập đều có khả năng tác động nhanh chóng đến nhận thức xã hội, trách nhiệm nghề nghiệp phải luôn song hành với năng lực chuyên môn.
Quan trọng hơn, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan quản lý hay ngành văn hóa mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Khi đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, báo chí, xuất bản cùng mỗi tổ chức, cá nhân chung tay gìn giữ và lan tỏa các giá trị tốt đẹp, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, văn hóa sẽ thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực dẫn dắt sự phát triển đất nước.
Đó cũng chính là tinh thần xuyên suốt từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 đến Đại hội XIV của Đảng: phát triển văn hóa luôn gắn với xây dựng con người, củng cố sức mạnh quốc gia và tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới. Vì vậy, chấn chỉnh văn hóa, truyền thông và xuất bản cần được nhìn nhận không chỉ là yêu cầu quản lý trước mắt mà còn là bước đi chiến lược nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Văn hóa phải trở thành sức mạnh nội sinh của phát triển
Nếu trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, văn hóa là sức mạnh tinh thần khơi dậy lòng yêu nước và ý chí cách mạng, thì trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay, văn hóa phải trở thành nguồn lực nội sinh, động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bồi đắp khát vọng phát triển. Đại hội XIV đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng khi xác định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết của sự phát triển. Điều đó khẳng định phát triển đất nước không chỉ dựa vào nguồn lực vật chất mà còn phải được dẫn dắt bởi sức mạnh văn hóa.
Cốt lõi của sức mạnh nội sinh là con người. Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhờ vốn, công nghệ hay tài nguyên, nhưng chỉ có thể phát triển bền vững khi được nâng đỡ bởi những giá trị văn hóa, ý thức thượng tôn pháp luật, tinh thần trách nhiệm, đạo đức xã hội và khát vọng cống hiến. Vì vậy, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện vừa là mục tiêu, vừa là động lực của chiến lược phát triển văn hóa; mỗi công dân không chỉ là chủ thể sáng tạo mà còn là người gìn giữ, lan tỏa và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, văn hóa hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc gia. Từ quản trị nhà nước, giáo dục, khoa học, kinh tế đến báo chí, xuất bản và không gian mạng, sự phát triển chỉ bền vững khi được dẫn dắt bởi các chuẩn mực văn hóa và đạo đức xã hội. Văn hóa kinh doanh, văn hóa công vụ, văn hóa ứng xử trên môi trường số hay văn hóa nghề nghiệp trong báo chí, xuất bản không chỉ là những yêu cầu về ứng xử mà còn là những yếu tố tạo dựng niềm tin xã hội, nâng cao hiệu quả quản trị và củng cố sức mạnh mềm quốc gia.
Bởi vậy, phát triển văn hóa không thể chỉ dừng ở việc bảo tồn di sản hay đầu tư cho hoạt động văn học, nghệ thuật, mà phải hướng tới xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Đây cũng là ý nghĩa chiến lược của chủ trương chấn chỉnh lĩnh vực văn hóa, truyền thông và xuất bản. Chấn chỉnh không chỉ để khắc phục những hạn chế trước mắt, mà nhằm củng cố nền tảng tinh thần của xã hội, phát huy sức mạnh nội sinh của văn hóa, qua đó tạo động lực và định hướng cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Đưa văn hóa trở về đúng sứ mệnh: Soi đường cho quốc dân đi
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi.” Hơn tám thập kỷ sau khi Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 ra đời, tư tưởng ấy vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình phát triển lý luận của Đảng về văn hóa. Từ quan điểm coi văn hóa là một mặt trận trong sự nghiệp cách mạng đến nhận thức mới của Đại hội XIV về văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết của sự phát triển, tất cả đều hướng tới mục tiêu xây dựng con người Việt Nam, củng cố sức mạnh quốc gia và phát triển đất nước bền vững.
Trong bối cảnh bùng nổ thông tin và xuất bản số, bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động xuất bản cũng bộc lộ không ít bất cập trong công tác quản lý, thẩm định và kiểm soát chất lượng nội dung. Việc xuất hiện những ấn phẩm có nội dung sai lệch, xuyên tạc lịch sử, bóp méo hình ảnh các nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hoặc truyền tải thông tin thiếu kiểm chứng không chỉ vi phạm pháp luật mà còn có nguy cơ tác động tiêu cực đến nhận thức xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Những khoảng trống trong quản lý nếu không được kịp thời khắc phục có thể bị các tổ chức, cá nhân lợi dụng để phát tán các quan điểm sai trái, làm xói mòn niềm tin và ảnh hưởng đến nền tảng giá trị văn hóa của dân tộc.
Việc cơ quan chức năng khởi tố vụ án xảy ra tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn là bước đầu thể hiện quyết tâm chấn chỉnh hoạt động xuất bản theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để chủ trương chấn hưng văn hóa đi vào thực chất, cần tiếp tục rà soát, thanh tra, kiểm tra toàn diện hoạt động của các nhà xuất bản, nâng cao trách nhiệm của các khâu biên tập, thẩm định và phát hành; đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, thu hồi những xuất bản phẩm trái pháp luật và không để những nội dung độc hại tiếp tục lưu hành. Đây không chỉ là yêu cầu nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước mà còn là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ sự thật lịch sử, gìn giữ các giá trị văn hóa dân tộc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển đất nước.
Đưa văn hóa trở về đúng sứ mệnh “soi đường cho quốc dân đi” không chỉ là tiếp nối tinh thần của Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 mà còn là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn phát triển mới. Khi văn hóa được đặt đúng vị trí, hoạt động sáng tạo được định hướng bởi các giá trị chân – thiện – mỹ, pháp luật được thực thi nghiêm minh và môi trường xuất bản được lành mạnh hóa, khi đó văn hóa mới thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, nguồn lực quan trọng và động lực bền vững cho sự phát triển của đất nước.
Thế Nguyễn – Minh Văn


