Từ năm 1986 đến nay, quá trình phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam phản ánh sự chuyển biến sâu sắc trong tư duy chính sách: từ chấp nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần, sang giải phóng nguồn lực theo cơ chế thị trường, đến xác lập khu vực tư nhân là động lực chiến lược của nền kinh tế. Tham luận khái quát các giai đoạn đổi mới tư duy phát triển doanh nghiệp, đồng thời phân tích nội dung và ý nghĩa của Nghị quyết 68-NQ/TW năm 2025 – văn kiện định hình tương lai kinh tế tư nhân Việt Nam với trọng tâm đổi mới sáng tạo, minh bạch hóa và mô hình “Công tư đồng kiến quốc”.

Kinh tế tư nhân Việt Nam đã trải qua một con đường dài kể từ Đổi mới, phản ánh cuộc đấu tranh về nhận thức và sự thay đổi trong hệ thống tư duy kinh tế – chính trị quốc gia. Trong giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước Đổi mới, doanh nghiệp tư nhân không được chính thức công nhận. Mặc dù vậy, kinh tế tư nhân vẫn tồn tại dưới hình thức các đơn vị sản xuất tiểu thủ công nghiệp và hộ kinh doanh cá thể, lấp đầy những khoảng trống mà khu vực Nhà nước để lại. Năm 1986, các đơn vị sản xuất tiểu thủ công nghiệp khu vực tư nhân sử dụng tới 23,2% tổng lực lượng lao động và sản xuất tới 15,3% tổng sản lượng công nghiệp (Lê Duy Bình, 2018). Sau gần bốn thập kỷ Đổi mới, khu vực này không chỉ được hợp pháp hóa mà còn được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Việc phân tích quá trình tiến hóa tư duy chính sách thông qua các cột mốc pháp lý là cần thiết để đánh giá vai trò chiến lược của Nghị quyết 68-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tư nhân đến năm 2030, tầm nhìn 2045
Quá trình tiến hóa tư duy chính sách có thể được khái quát qua bốn giai đoạn chính, gắn liền với các thay đổi thể chế pháp lý đột phá.
Khởi đầu từ công nhận và xây dựng khung pháp lý
Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự thừa nhận chính thức sự cần thiết của các thành phần kinh tế phi nhà nước, tạo cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự phát triển của kinh tế tư nhân. Năm 1986, chính sách “Đổi mới” đã được ban hành tại Đại hội Đảng lần thứ VI, chính thức “coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006). Sự công nhận này dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của các hộ kinh doanh cá thể, và sau đó, Luật Công ty 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990 ra đời. Đây là những văn bản pháp lý vô cùng cần thiết để tạo nền tảng cho sự thành lập của các doanh nghiệp tư nhân đầu tiên.
Tuy nhiên, Luật Công ty 1990 và Luật Doanh nghiệp Tư nhân 1990 có những hạn chế lớn: các yêu cầu và điều kiện gia nhập thị trường còn hết sức ngặt nghèo khiến việc thành lập doanh nghiệp vẫn phức tạp và tốn kém. Ví dụ, yêu cầu doanh nghiệp phải trải qua ít nhất hai bước cấp phép bởi hai cơ quan nhà nước khác nhau: xin phép thành lập tại Uỷ ban nhân dân và đăng ký kinh doanh tại Trọng tài kinh tế, khi công ty muốn mở rộng hoạt động ra tỉnh thành khác, phải lặp lại gần như toàn bộ quy trình cấp phép tại địa phương mới, hoạt động xuất nhập khẩu phải được Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng cấp phép… (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 1990a, 1990b). Từ những đòi hỏi của thực tiễn, Hội nghị Trung ương 2 (khóa VII) nhấn mạnh: “Bổ sung, sửa đổi thể chế nhằm bảo đảm cho kinh tế tư nhân được phát huy không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm; được tự do lựa chọn hình thức kinh doanh, kể cả liên doanh với nước ngoài theo những điều kiện do luật định” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1993).
Bước ngoặt “tự do kinh doanh”
Tư duy chính sách thay đổi căn bản, chuyển từ kiểm soát sang giải phóng nguồn lực, tập trung vào việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh. Đột phá thể hiện ở Luật Doanh nghiệp 1999 được Quốc hội khóa X thông qua vào ngày 12 tháng 6 năm 1999. Đây được coi là thành quả ấn tượng vì đã tạo ra bước đột phá về tư duy, chuyển từ tư duy chỉ được kinh doanh trong phạm vi Nhà nước cho phép sang tư duy tự do kinh doanh tất cả những lĩnh vực mà Nhà nước không cấm, thu hẹp phạm vi các lĩnh vực kinh doanh phải xin phép đặc biệt, cải cách mạnh mẽ về thủ tục đăng ký kinh doanh (giải quyết triệt để sự phức tạp của thủ tục hai bước trong Luật Công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân 1990), loại bỏ nhiều rào cản như rút ngắn thời gian đăng ký kinh doanh, mở rộng chủ thể kinh doanh và quyền sử dụng vốn, thúc đẩy sự đổi mới trong tư duy của các cơ quan Nhà nước (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam,1999).
Sự thay đổi triết lý này đã tạo ra bước đột phá mạnh mẽ trong việc giải phóng năng lực sản xuất, dẫn đến sự phát triển bùng nổ của các doanh nghiệp tư nhân trong nước. Trong vòng 9 năm (1991-1999) chỉ có 14.500 doanh nghiệp tư nhân được thành lập; nhưng sau khi Luật DN 1999 có hiệu lực, số lượng đăng ký hàng năm đã tăng lên đáng kể. Đến cuối năm 2017 (cũng khoảng 9 năm kể từ khi áp dụng Luật Doanh nghiệp 1999) đã có hơn 1 triệu doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân được đăng ký (Lê Duy Bình, 2018). Tư duy mang tính bước ngoặt được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp 1999 đã thực sự cởi trói và phát huy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp của người dân Việt Nam.
Thống nhất thể chế và khẳng định vị thế động
Tư duy chính sách tập trung vào việc củng cố môi trường pháp lý bình đẳng, chuẩn bị cho hội nhập và chính thức xác định vai trò của kinh tế tư nhân. Luật Doanh nghiệp 2005 thay thế Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003, thể hiện bước tiến quan trọng trong quá trình thống nhất khung pháp lý cho các loại hình doanh nghiệp. Cách tiếp cận này nhằm áp dụng chung một hệ thống quy định cho mọi nhà đầu tư và doanh nghiệp, bao gồm doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp nhà nước, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), qua đó xóa bỏ sự phân biệt về hình thức sở hữu và thúc đẩy bình đẳng trong kinh doanh Đây là một phần quan trọng trong quá trình chuẩn bị của Việt Nam cho việc gia nhập WTO vào năm 2007 (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2005).
Năm 2017, tư duy chính sách đạt đến mức khẳng định cao nhất về vai trò của kinh tế tư nhân thông qua văn kiện chính thức của Đảng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (NQ 10-NQ/TW) đã được ban hành, khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân: “Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2017).
Hiện đại hóa và nâng cao chất lượng
Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Doanh nghiệp 2020 tiếp tục thúc đẩy cải cách hành chính, chuyển trọng tâm sang chất lượng quản trị và đơn giản hóa thủ tục. Luật Doanh nghiệp 2014 đánh dấu sự thay đổi trong tư duy quản lý hành chính sang một tư duy mới mang tính giải phóng năng lực doanh nghiệp. Bằng chứng cụ thể nhất: con dấu từ công cụ quản lý nhà nước được chuyển thành công cụ xác nhận của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quyền tự quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2014).
Luật Doanh nghiệp 2020 tập trung vào hoàn thiện quản trị và nâng cao chất lượng doanh nghiệp, nổi bật là việc bãi bỏ hoàn toàn thủ tục thông báo mẫu dấu, giảm tỷ lệ sở hữu cần thiết để bảo vệ cổ đông nhỏ, và mở rộng khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước để tăng cường quản lý, đưa khung pháp lý Việt Nam tiến gần hơn đến chuẩn mực quốc tế (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2020).
Mặc dù số lượng doanh nghiệp tăng mạnh, nhưng khu vực kinh tế tư nhân vẫn đối mặt với các vấn đề nội tại như hạn chế về quy mô cũng như động lực gia tăng năng suất. Tư duy chính sách bắt đầu hướng tới giải quyết vấn đề này, nhấn mạnh chất lượng tăng trưởng hơn là chỉ dựa trên số lượng doanh nghiệp được đăng ký. Các doanh nghiệp lớn hơn và được quản trị tốt hơn có xu hướng tăng tích cực về hiệu quả hoạt động và năng suất.
Minh bạch hóa và bứt tốc
Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025 và Nghị quyết 68-NQ/TW thể hiện sự dịch chuyển tư duy sang hội nhập sâu và quản trị tiên tiến. Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025 (Luật số 76/2025/QH15) lần đầu tiên yêu cầu về việc kê khai thông tin về Chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp (Beneficial Owner – BO). Quy định này siết chặt minh bạch hóa cấu trúc sở hữu doanh nghiệp, loại bỏ hành vi che giấu danh tính người có quyền lực thực tế, thúc đẩy phòng, chống rửa tiền, tham nhũng và trốn thuế. Tính minh bạch còn được khẳng định thông qua những quy định về trách nhiệm cá nhân của người đại diện pháp luật, xử lý hành vi kê khai giả mạo, không trung thực, không chính xác, siết chặt quản lý vốn điều lệ… (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2025)
Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025 cũng cho thấy tư duy mới về thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong khu vực tư nhân qua sự nới lỏng cơ chế quản lý đối với cán bộ, công chức, viên chức. Cụ thể, Luật đã mở ra ngoại lệ quan trọng, cho phép những đối tượng này được thành lập, quản lý và góp vốn vào doanh nghiệp nếu hoạt động đó gắn với các quy định về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Động thái này là một bước ngoặt, nhằm mục đích thương mại hóa tri thức và khai thác nguồn nhân lực chất lượng cao từ khu vực công, khuyến khích các nhà khoa học, chuyên gia công nghệ trực tiếp biến kết quả nghiên cứu thành sản phẩm/dịch vụ trên thị trường, từ đó kích hoạt sự ra đời của các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và tạo ra động lực tăng trưởng mới cho kinh tế tư nhân (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2025).
Nội dung và ý nghĩa chiến lược của Nghị quyết 68-NQ/TW
Nghị quyết 68-NQ/TW là văn kiện chính sách tiếp nối NQ 10-NQ/TW, cụ thể hóa khát vọng phát triển kinh tế tư nhân thành lực lượng nòng cốt, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang tập trung vào chuyển đổi số và nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng. Nghị quyết 68-NQ/TW xác định phát triển kinh tế tư nhân là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, và mang tính chiến lược lâu dài với hệ thống quan điểm chỉ đạo, mục tiêu cụ thể và các nhóm giải pháp đồng bộ.
Quan điểm chỉ đạo chiến lược gồm: (i) đảm bảo quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh được bảo đảm đầy đủ theo Hiến pháp và pháp luật; (ii) xóa bỏ triệt để các rào cản nhận thức, tâm lý, và định kiến về vai trò của kinh tế tư nhân đối với phát triển đất nước; và (iii) xây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, bình đẳng, an toàn (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2025).
Mục tiêu cụ thể hóa theo lộ trình. Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt ra những mục tiêu đầy kỳ vọng cho khu vực kinh tế tư nhân. Cụ thể, đến năm 2030, kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế, phát triển dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Các chỉ tiêu cụ thể bao gồm: phấn đấu có khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, trong đó ít nhất 20 doanh nghiệp lớn đủ năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; đóng góp khoảng 55–58% GDP và 35–40% tổng thu ngân sách nhà nước; năng suất lao động tăng bình quân 8,5–9,5% mỗi năm, tốc độ tăng trưởng bình quân 10-12%/năm, vào nhóm 3 nước đứng đầu ASEAN về năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế tư nhân Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, tham gia sâu vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, với mục tiêu đạt ít nhất 3 triệu doanh nghiệp hoạt động và đóng góp khoảng 60% GDP (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2025).
Giải pháp trọng tâm. Nghị quyết 68-NQ/TW tập trung vào các nhóm giải pháp lớn nhằm tháo gỡ điểm nghẽn hiện tại của kinh tế tư nhân:
Về cải cách thể chế và bảo vệ quyền lợi: Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo cơ chế thị trường, giảm thiểu và xóa bỏ các rào cản hành chính; Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động cấp tín dụng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tài sản; Hoàn thiện cơ chế xử lý các vụ việc về dân sự, kinh tế, hành chính trước, để doanh nghiệp yên tâm hoạt động.
Về tiếp cận nguồn lực: Đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện cơ chế kiểm soát, đánh giá, và công khai minh bạch thông tin về đất đai; Phát triển thị trường vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn. Thiết lập Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, cung cấp các khoản vay ưu đãi, đồng thời kiểm soát rủi ro hệ thống ngân hàng.
Về khoa học Công nghệ và Đổi mới sáng tạo: Khuyến khích đầu tư cho nghiên cứu, phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, và chuyển đổi số: Cho phép doanh nghiệp được trích quỹ nghiên cứu và phát triển lên tới 20% thu nhập tính thuế; Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Về phát triển nguồn nhân lực và văn hóa kinh doanh: Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hóa kinh doanh, và tinh thần thượng tôn pháp luật.
Về hỗ trợ và liên kết: Xây dựng đội ngũ doanh nhân đạt chuẩn mực, đồng thời thúc đẩy liên kết giữa kinh tế tư nhân trong nước với doanh nghiệp FDI trong chuỗi cung ứng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2025).
Ở góc độ môi trường thể chế. Nghị quyết 68-NQ/TW là bước tiến vượt bậc trong việc hoàn thiện nền tảng thể chế và củng cố niềm tin pháp quyền đối với khu vực kinh tế tư nhân. Trước hết, đây là cam kết chính trị mạnh mẽ nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc bảo vệ quyền tự do kinh doanh và quyền sở hữu tài sản, những điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp an tâm đầu tư dài hạn. Điều này trực tiếp khắc phục tình trạng thiếu ổn định và minh bạch của khung pháp lý vốn tồn tại nhiều thập niên, qua đó khơi dậy niềm tin và khát vọng phát triển của cộng đồng doanh nghiệp tư nhân.
Đặc biệt, Nghị quyết 68-NQ/TW nhận diện một cách rõ ràng những “điểm nghẽn” bắt nguồn từ tư duy tiểu nông như quy mô nhỏ lẻ, tầm nhìn hạn hẹp, năng lực cạnh tranh hạn chế, thiếu tính liên kết… Bằng cách đưa ra các giải pháp mang tính cấu trúc (cải cách đất đai, vốn, công nghệ), Nghị quyết tạo tiền đề cho sự chuyển dịch của kinh tế tư nhân từ trạng thái nhỏ lẻ sang quy mô lớn, hiện đại, có sức cạnh tranh cao.
Ở góc độ phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế. Nghị quyết 68-NQ/TW có vai trò định hướng chiến lược trong quá trình tái cơ cấu mô hình tăng trưởng của Việt Nam. Thay vì phụ thuộc vào lợi thế truyền thống như lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên, Nghị quyết nhấn mạnh khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như động lực trung tâm. Mục tiêu nâng năng suất lao động lên mức 8,5/năm theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng thể hiện quyết tâm vượt qua nguy cơ tụt hậu và hướng tới phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, Nghị quyết còn khẳng định kinh tế tư nhân là lực lượng chủ lực trong nâng cao sức cạnh tranh quốc gia. Việc hình thành ít nhất 20 doanh nghiệp lớn đủ khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu vào năm 2030, kết hợp với chiến lược liên kết chặt chẽ cùng khối FDI, sẽ giúp kinh tế tư nhân cải thiện năng lực quản trị, tiếp cận công nghệ hiện đại, và mở rộng thị trường quốc tế.
kinh tế tư nhân được kỳ vọng tiếp tục đảm nhận 84–85% tổng số lao động, góp phần giải quyết việc làm, giảm nghèo, ổn định xã hội và thúc đẩy trách nhiệm cộng đồng. Như vậy, Nghị quyết 68 không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn góp phần duy trì sự phát triển bao trùm và bền vững.
Quá trình thay đổi tư duy chính sách về kinh tế tư nhân ở Việt Nam từ 1986 đến nay cho thấy một hành trình chuyển đổi sâu sắc: từ sự công nhận ban đầu, đến đột phá về quyền tự do kinh doanh (Luật Doanh nghiệp 1999), khẳng định vai trò động lực (Nghị quyết 10-NQ/TW năm 2017), và nay là tái định vị chiến lược với Nghị quyết 68-NQ/TW (2025).
Nghị quyết 68-NQ/TW không chỉ là một văn bản chính sách, mà còn là bản tuyên ngôn về vai trò động lực của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết vừa cụ thể hóa bằng mục tiêu định lượng, vừa đề cao chất lượng (dựa trên đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số), đồng thời mở ra một mô hình quan hệ mới giữa Nhà nước và doanh nghiệp.
Thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở việc vượt qua sức ì hành chính và sự chống đối từ các nhóm lợi ích để đảm bảo tính thực thi. Nếu những giải pháp cấu trúc như cải cách đất đai, tiếp cận vốn, đổi mới công nghệ và cơ chế minh bạch được triển khai triệt để, Nghị quyết 68 sẽ trở thành bước ngoặt lịch sử, giúp kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, đóng góp vào khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và bền vững.
Th.S. Vũ Thị Quý/Học viện Chính trị khu vực II
Tài liệu tham khảo:
1.Đảng Cộng sản Việt Nam. (1993). Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (tr. 75). Nxb Chính trị Quốc gia.
2.Đảng Cộng sản Việt Nam. (2006). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 47, tr. 360). Nxb Chính trị Quốc gia.
3.Đảng Cộng sản Việt Nam. (2017). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Truy cập tại: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-10-nqtw-ngay-362017-hoi-nghi-lan-thu-nam-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-ve-phat-trien-kinh-te-tu-3222
4.Đảng Cộng sản Việt Nam. (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Truy cập tại: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-68-nqtw-ngay-452025-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-11562
5.Lê Duy Bình. (2018). Kinh tế tư nhân Việt Nam: Năng suất và Thịnh vượng.
6.Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (1990a). Luật Công ty 1990 số 47-LCT/HĐNN8.
7.Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (1990b). Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990 số 48-LCT/HĐNN8.
8.Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2005). Luật Doanh nghiệp 2005 số 60/2005/QH11.
9.Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2014). Luật Doanh nghiệp 2014 số 68/2014/QH13.
10.Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2020). Luật Doanh nghiệp 2020 số 59/2020/QH14.
11.Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2025). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp 2025 số 76/2025/QH15.


