Khi Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035 bước vào thực hiện, thước đo ở cơ sở không chỉ là số vốn được giao, mà quan trọng hơn là hiệu quả sau đầu tư. Nhà ở phải giúp người dân an cư, học nghề phải gắn với việc làm, mô hình sinh kế phải đứng vững sau hỗ trợ và lớp chữ Khmer phải được duy trì lâu dài. Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đồng vốn chỉ thực sự có ý nghĩa khi chuyển thành những thay đổi cụ thể, bền vững trong đời sống người dân.

Từ căn nhà đến một nghề có thể sống được.
Trong Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Cần Thơ giai đoạn 2021-2025, nguồn lực được cụ thể hóa thành nhiều nhóm nhiệm vụ, từ nhà ở, đào tạo nghề đến văn hóa, y tế. Đằng sau mỗi khoản đầu tư là những mục tiêu cụ thể, nhưng kết quả cuối cùng không chỉ nằm ở khối lượng công việc đã hoàn thành mà còn ở những thay đổi thực tế trong đời sống người dân.
Với dự án giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt, Cần Thơ đặt mục tiêu hỗ trợ đất ở cho 4 hộ và xây dựng 14 căn nhà cho 14 hộ còn khó khăn. Mỗi căn nhà phải bảo đảm tiêu chí “3 cứng” gồm nền cứng, khung cứng, mái cứng; diện tích từ 40m² trở lên và niên hạn sử dụng từ 20 năm. Tổng kinh phí dự kiến 870 triệu đồng, từ ngân sách thành phố, vốn vay Ngân hàng Chính sách xã hội và các nguồn huy động hợp pháp khác.
Tuy nhiên, một căn nhà hoàn thành mới phản ánh kết quả xây dựng. Tác động của chính sách còn phải được đo bằng khả năng ổn định chỗ ở lâu dài của hộ dân, giảm chi phí sửa chữa nhà tạm và tạo thêm dư địa để gia đình dành nguồn lực cho học hành, chăm sóc sức khỏe, sản xuất. Nếu việc đánh giá dừng lại ở biên bản nghiệm thu, câu hỏi về hiệu quả sau hỗ trợ vẫn còn bỏ ngỏ.
Yêu cầu này cũng đặt ra với dự án phát triển giáo dục, đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Kế hoạch xác định đào tạo nghề cho khoảng 630 lao động người dân tộc thiểu số, với kinh phí dự kiến 2,525 tỷ đồng. Đáng chú ý, chỉ tiêu không dừng ở số người tham gia mà hướng tới 80% người học có việc làm mới hoặc tiếp tục nghề cũ với năng suất, thu nhập cao hơn.
Một lớp nghề có thể đủ học viên, khai giảng và hoàn thành đúng kế hoạch, nhưng nếu người học sau đó không tìm được việc làm hoặc thu nhập không cải thiện thì mục tiêu chính sách vẫn chưa đạt trọn vẹn. Bởi vậy, đào tạo nghề ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần bám sát nhu cầu của doanh nghiệp, thị trường lao động và khả năng duy trì việc làm sau khóa học, thay vì chủ yếu dựa vào khả năng tổ chức lớp tại địa phương.
Các mô hình sinh kế cũng cần được đánh giá bằng sức sống sau hỗ trợ. Giống, vật tư hay phương tiện sản xuất có thể giúp hộ dân khởi đầu một mô hình, nhưng đầu ra sản phẩm, chi phí sản xuất và khả năng thích ứng mới quyết định mô hình có thể tồn tại và tạo thu nhập trong bao lâu. Trong điều kiện Đồng bằng sông Cửu Long chịu tác động của hạn hán, xâm nhập mặn, biến động giá cả và chi phí đầu vào, hỗ trợ sản xuất nếu thiếu theo dõi sau đầu tư có thể hoàn thành về thủ tục nhưng chưa chắc tạo được sinh kế bền vững.
Ở lĩnh vực văn hóa, Cần Thơ dự kiến dành 16,53 tỷ đồng cho dự án bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch. Các nội dung gồm kiểm kê, sưu tầm, tư liệu hóa di sản; hỗ trợ nghệ nhân nghiên cứu, truyền dạy; phục hồi các hình thức sinh hoạt văn hóa, nhạc cụ, kiến trúc, trang phục truyền thống và đua ghe Ngo.
Với lĩnh vực này, số hoạt động được tổ chức hay kinh phí đã sử dụng mới là một phần kết quả. Giá trị lâu dài nằm ở việc những thực hành văn hóa có tiếp tục hiện diện trong cộng đồng, nghệ nhân có người kế tục và các giá trị truyền thống có được trao truyền thường xuyên hay không.
Y tế cho thấy rõ hơn cách tiếp cận theo kết quả. Dự án có kinh phí dự kiến 3,8 tỷ đồng, tập trung chăm sóc sức khỏe bà mẹ – trẻ em, dinh dưỡng, người cao tuổi, khám sức khỏe trước hôn nhân, sàng lọc bệnh di truyền và nâng cao năng lực y tế cơ sở. Thành phố đặt mục tiêu trên 95% phụ nữ mang thai được khám thai định kỳ; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi xuống dưới 9%; giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới một tuổi xuống dưới 10‰.
Nhìn từ các nhóm dự án, có thể thấy một điểm chung: kinh phí và khối lượng công việc có thể thống kê ngay, trong khi tác động của chính sách cần thời gian để kiểm chứng. Nhà ở phải được đánh giá sau khi người dân vào ở; đào tạo nghề cần theo đến việc làm và thu nhập; mô hình sinh kế phải được kiểm chứng qua các chu kỳ sản xuất; hoạt động văn hóa cần nhìn vào khả năng duy trì trong cộng đồng; còn đầu tư y tế phải thể hiện bằng những chuyển biến về sức khỏe.
Do đó, kiểm tra sau hỗ trợ cần trở thành một khâu thực chất trong quản lý chương trình, thay vì chỉ là bước bổ sung sau giải ngân. Theo dõi đến kết quả cuối cùng sẽ giúp địa phương nhận diện mô hình nào phát huy hiệu quả, nội dung nào cần điều chỉnh và nguồn lực nào cần ưu tiên lại theo nhu cầu thực tế của người dân.
Khi chương trình bước sang giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là vốn có được phân bổ và giải ngân đúng tiến độ hay các hạng mục có hoàn thành đủ thủ tục. Quan trọng hơn là đồng vốn đã tạo ra thay đổi gì và những thay đổi ấy có duy trì sau khi hỗ trợ kết thúc hay không. Đó cũng là cơ sở để chuyển trọng tâm đánh giá từ “đã làm bao nhiêu” sang “người dân được hưởng lợi thế nào” — lấy kết quả cuối cùng làm thước đo giá trị của chính sách.

Giải ngân đúng tiến độ và đúng nhu cầu.
Áp lực giải ngân các Chương trình mục tiêu quốc gia trong năm 2026 là hiện hữu. Theo số liệu Bộ Tài chính công bố đến ngày 31/7/2026, vốn đầu tư công thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 mới giải ngân khoảng 94 tỷ đồng, tương đương 0,5% kế hoạch; kinh phí thường xuyên giải ngân hơn 27 tỷ đồng, đạt khoảng 2,8% dự toán. Với nguồn vốn năm 2025 được kéo dài sang năm 2026, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt khoảng 31%, kinh phí thường xuyên khoảng 19,4%.
Những con số này cho thấy năm đầu của giai đoạn mới vẫn có độ trễ đáng kể từ giao vốn đến triển khai thực tế. Cơ chế hướng dẫn, thủ tục phân bổ, công tác chuẩn bị dự án và năng lực tổ chức thực hiện của từng địa phương đều tác động đến tốc độ đưa nguồn lực vào cuộc sống.
Nhưng sức ép tiến độ cũng đặt ra một vấn đề khác: nếu chỉ chạy theo tỷ lệ giải ngân, hiệu quả thực tế rất dễ bị đẩy xuống phía sau. Một lớp đào tạo nghề có thể mở kịp kế hoạch, nhưng không sát nhu cầu thì người học vẫn khó tìm việc. Một mô hình sinh kế được cấp đủ giống, vật tư nhưng không tính được đầu ra thì khó tồn tại. Một công trình hoàn thành đúng thủ tục nhưng chưa thật sự cấp thiết cũng khó phát huy hết giá trị đầu tư.
Số liệu tại An Giang phần nào cho thấy sự khác biệt giữa từng loại nguồn vốn. Năm 2025, tỉnh được bố trí 643,917 tỷ đồng vốn đầu tư cho các Chương trình mục tiêu quốc gia. Đến cuối tháng 1/2026, phần vốn giao trong năm đã giải ngân 418,628 tỷ đồng, đạt 78,98% kế hoạch. Trong khi đó, vốn sự nghiệp được phân bổ 778,459 tỷ đồng nhưng mới giải ngân 251,609 tỷ đồng, đạt 48,19%.
Vốn đầu tư thường gắn với công trình, có thiết kế, khối lượng thi công và tiến độ tương đối rõ. Vốn sự nghiệp lại tập trung nhiều hơn vào những hoạt động gắn trực tiếp với con người như đào tạo nghề, hỗ trợ sản xuất, truyền thông, văn hóa, nâng cao năng lực. Những nội dung này không chỉ cần đúng quy trình mà còn phải chọn đúng đối tượng, đúng nhu cầu, đúng mô hình và theo dõi được kết quả sau hỗ trợ. Vì vậy, chậm giải ngân trong một số trường hợp không đơn thuần là câu chuyện thủ tục, mà còn đặt ra bài toán về khả năng lựa chọn nội dung phù hợp để đầu tư.
Số liệu tổng kết đầu tư công của An Giang tiếp tục cho thấy khoảng cách này. Vốn các Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2025 giải ngân 462,256/643,918 tỷ đồng, đạt 71,79%; trong đó phần vốn năm 2025 đạt 79,46%, còn vốn kéo dài đạt 27,61%. Vốn sự nghiệp vẫn ở mức 48,19%. Bài toán vì thế không chỉ là làm sao để vốn đi nhanh hơn, mà còn là vốn đi vào đâu và sau khi chi ra tạo được kết quả gì.
Yêu cầu này càng quan trọng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi nhu cầu không giống nhau giữa các địa bàn. Một vùng sản xuất nông nghiệp có những đòi hỏi khác khu vực đô thị; một phum sóc đông đồng bào Khmer cũng có những vấn đề khác địa bàn miền núi ở An Giang. Muốn nguồn lực đi đúng chỗ, cấp cơ sở phải nắm được địa bàn đang thiếu gì, người dân thực sự cần gì trước khi lựa chọn nội dung đầu tư.
Trong kế hoạch giai đoạn trước, Cần Thơ yêu cầu công khai danh sách đối tượng thụ hưởng tại cộng đồng dân cư và bảo đảm sự tham gia giám sát của người dân. Với những khoản hỗ trợ trực tiếp cho hộ gia đình, người nhận, nội dung và mức hỗ trợ đều phải được xác định cụ thể. Cách làm này càng có ý nghĩa khi nhiều nguồn lực được tích hợp trong một chương trình chung.
Thực tế, nhiều thông tin quan trọng lại nằm ngay trong cộng đồng. Người dân trong một ấp thường biết hộ nào thực sự còn khó khăn về nhà ở. Người trực tiếp sản xuất biết tuyến đường nào cần sửa trước, kênh nào đang thiếu nước, mô hình nào phù hợp với vùng đất. Người lao động biết lớp nghề nào sát với công việc họ đang tìm kiếm. Nếu những tiếng nói này được tiếp nhận ngay từ khâu lựa chọn dự án, khoảng cách giữa kế hoạch và nhu cầu thực tế có thể được thu hẹp.
Trong cộng đồng Khmer, người có uy tín, sư sãi và những người gắn bó lâu năm với phum sóc còn có thể giúp chính quyền nhận diện những nhu cầu khó thể hiện đầy đủ qua các bảng thống kê. Câu chuyện lớp chữ Khmer ở chùa Bến Đổi là một ví dụ. Nếu không đi vào thực tế, khó thấy được hơn 100 học sinh vẫn đều đặn đến chùa học trong mùa hè, trong khi nhà chùa đang tự lo phần lớn điều kiện để duy trì lớp học.
Bởi vậy, giám sát không nên chỉ được hiểu là phát hiện sai phạm. Một phản ánh về lớp nghề không phù hợp với giờ lao động, mô hình sản xuất khó tìm đầu ra hay công trình chưa thuận tiện khi sử dụng đều là dữ liệu thực tế để cơ quan quản lý xem lại cách tổ chức và điều chỉnh nguồn lực.
Điều quan trọng trong giai đoạn mới là tạo được đường nối rõ ràng từ đồng vốn đã giải ngân, công việc đã thực hiện đến kết quả người dân thực sự nhận được. Không phải dự án giải ngân nhanh nào cũng đồng nghĩa với hiệu quả cao; ngược lại, một nội dung giải ngân chậm cũng không thể mặc nhiên xem là yếu kém. Cần xác định rõ vì sao chậm, vướng ở khâu nào, mô hình có còn phù hợp và có đáng tiếp tục đầu tư hay không.
Trên báo cáo, nhà ở, đào tạo nghề, lớp chữ Khmer hay công trình dân sinh thường hiện lên bằng kinh phí, chỉ tiêu và số lượng hoàn thành. Trong đời sống người dân, đó lại là một mái nhà có thể ở lâu dài, một nghề tạo được thu nhập, một lớp học được duy trì hay một công trình thực sự thuận tiện để sử dụng. Khoảng cách giữa hai cách nhìn ấy chính là phần cần được đo lường sau đầu tư.
Vì vậy, yêu cầu của giai đoạn 2026-2035 không chỉ là đẩy nhanh dòng vốn, mà còn phải theo dòng vốn đến tận kết quả cuối cùng. Giải ngân cho biết nguồn lực đã được đưa ra khỏi ngân sách; còn hiệu quả chỉ có thể được trả lời bằng những thay đổi cụ thể, bền vững trong đời sống người dân.
Nguồn lực quốc gia dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, dù được phân bổ qua dự án nào, cuối cùng vẫn cần được đo bằng một câu hỏi: sau đầu tư, đời sống người dân đã thay đổi ra sao. Một căn nhà có giúp gia đình an cư, một khóa học nghề có tạo được việc làm và thu nhập, một mô hình sinh kế có đứng vững khi hỗ trợ kết thúc, một lớp chữ dân tộc có tiếp tục được duy trì trong cộng đồng hay không.
Bởi vậy, giá trị của chương trình không dừng ở tỷ lệ giải ngân, số công trình hoàn thành hay số đối tượng được hỗ trợ. Thước đo thuyết phục hơn nằm ở những kết quả còn lại sau khi nguồn vốn đã được sử dụng: sinh kế bền hơn, cơ hội việc làm tốt hơn, điều kiện sống được cải thiện và những giá trị văn hóa tiếp tục được trao truyền. Khi theo dõi được những thay đổi ấy đến cùng, đồng vốn không chỉ hoàn thành một kế hoạch đầu tư mà mới thực sự hoàn thành mục tiêu của chính sách.
Trọng Nguyễn


