Thứ Ba, Tháng 9 1, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Từ lời dặn của Người trước lúc đi xa đến trách nhiệm của chúng ta hôm nay

Bài viết Kỉ niệm 57 năm, Ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/9/1969 – 2/9/2026)



ĐNA -

Mỗi dịp Quốc khánh 2/9, dân tộc Việt Nam không chỉ nhớ về ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà còn thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã đi xa đúng ngày này năm 1969. Hơn nửa thế kỷ đã qua, hình ảnh một con Người dành trọn cuộc đời cho Tổ quốc và nhân dân vẫn sống mãi trong lòng các thế hệ người Việt Nam. Những lời căn dặn trong Di chúc của Người về Đảng, về đoàn kết, nhân dân, thế hệ mai sau và tương lai đất nước vẫn vẹn nguyên giá trị, nhắc nhở mỗi thế hệ hôm nay về trách nhiệm kế tục sự nghiệp Người để lại.

Ngày Người đi xa – khi việc nước vẫn còn dang dở
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, long trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ thời khắc ấy, dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do.

Hai mươi bốn năm sau, ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa. Hai dấu mốc cùng mang ngày 2/9 nhưng gắn với hai thời khắc đặc biệt của lịch sử dân tộc: một ngày Người tuyên bố nền độc lập của nước Việt Nam mới; một ngày Người từ biệt cuộc đời khi sự nghiệp cách mạng mà Người cùng toàn dân tộc lựa chọn và theo đuổi vẫn còn những chặng đường chưa hoàn thành. Khi ấy, miền Nam chưa được giải phóng, đất nước chưa thống nhất, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẫn diễn ra vô cùng gian khổ, ác liệt.

Người đi xa khi việc nước còn dang dở, nhưng những lời để lại không hướng về những điều Người chưa kịp hoàn thành, mà dành trọn cho công việc chung của Đảng, của dân tộc và nhân dân. Đó là những căn dặn về xây dựng Đảng, giữ gìn đoàn kết; về nhân dân, thế hệ trẻ, những người có công với đất nước; và rộng hơn là tương lai của dân tộc sau ngày thống nhất.

Chính điều đó làm cho những lời Người để lại mang ý nghĩa vượt khỏi thời khắc của một cuộc chia xa. Một con người có thể khép lại hành trình của mình, nhưng lý tưởng, trách nhiệm và những công việc được gửi lại cho dân tộc vẫn tiếp tục. Những điều còn dang dở ấy được tiếp nối bằng hành động của những người ở lại và bằng sự nghiệp của các thế hệ kế tiếp.

Lịch sử đã tiếp tục hành trình ấy. Hơn năm năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Năm 1976, Quốc hội quyết định đặt tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời, thành phố Sài Gòn – Gia Định được chính thức mang tên Thành phố Hồ Chí Minh. Những điều Người hằng mong mỏi nhưng không kịp chứng kiến đã từng bước trở thành hiện thực bằng ý chí, sự hy sinh và nỗ lực của toàn dân tộc.

Nhưng non sông thu về một mối không có nghĩa là mọi công việc đã hoàn thành. Sau nhiệm vụ giành độc lập, thống nhất đất nước là hành trình xây dựng, bảo vệ và phát triển Tổ quốc; nâng cao đời sống nhân dân; củng cố sức mạnh quốc gia và giữ vững nền độc lập mà biết bao thế hệ đã hy sinh để giành lấy.

Bởi vậy, ngày 2/9/1969 không chỉ là dấu mốc để tưởng nhớ sự ra đi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn gợi nhắc về những điều Người gửi lại cho các thế hệ tiếp nối. Người đi xa khi việc nước còn dang dở, nhưng những lời căn dặn của Người đã trở thành sự gửi gắm trách nhiệm: mỗi thế hệ phải tiếp tục phần việc của mình trong sự nghiệp chung của dân tộc. Nhớ về ngày Người đi xa không chỉ là trở về với ký ức. Đó còn là dịp nhìn lại những việc đã làm được, những điều vẫn phải tiếp tục và trách nhiệm của mỗi thế hệ đối với hiện tại, tương lai đất nước.

Trước hết Người nói về Đảng – giữ gìn sự trong sạch, vững mạnh.
Trong những lời căn dặn để lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết nói về Đảng. Người đặc biệt nhấn mạnh sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; yêu cầu giữ gìn Đảng thật sự trong sạch, cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, xứng đáng là người lãnh đạo, đồng thời là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Những yêu cầu ấy cho thấy xây dựng Đảng luôn gắn liền với trách nhiệm phục vụ nhân dân; phẩm chất, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên gắn trực tiếp với niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Khi nói về những việc cần làm sau ngày cuộc kháng chiến thắng lợi, Người đặc biệt lưu ý việc chỉnh đốn Đảng, nhằm làm cho mỗi đảng viên, đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ được giao, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Đó không chỉ là yêu cầu đối với từng cán bộ, đảng viên mà còn đặt ra trách nhiệm tự xây dựng, tự chỉnh đốn của một Đảng cầm quyền. Để hoàn thành trọng trách trước dân tộc và nhân dân, mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, làm tròn bổn phận và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân.

Những chuẩn mực Người đặt ra đối với cán bộ, đảng viên cũng hết sức cụ thể. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư không chỉ là những phẩm chất cần có, mà phải được thể hiện bằng hành động: trong thực thi công vụ, sử dụng quyền hạn, giải quyết công việc và trong mối quan hệ với nhân dân. Uy tín của người cán bộ vì thế không chỉ đến từ chức vụ được giao, mà quan trọng hơn là từ cách thực thi trách nhiệm, phẩm chất trong công việc và thái độ đối với nhân dân.

Hơn nửa thế kỷ đã qua, đất nước bước vào những giai đoạn phát triển mới với nhiều yêu cầu và nhiệm vụ mới. Tuy nhiên, những căn dặn của Người về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; giữ gìn phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên; củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân vẫn mang ý nghĩa lâu dài. Thực hiện lời Người dặn không dừng lại ở việc nhắc nhớ những chuẩn mực, mà quan trọng hơn là chuyển hóa những chuẩn mực ấy thành hành động cụ thể trong công việc hằng ngày.

Người đã đi xa, nhưng lời căn dặn về Đảng vẫn còn nguyên giá trị như một thước đo đối với mỗi cán bộ, đảng viên: giữ gìn phẩm chất, đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, để xứng đáng với trách nhiệm được giao và niềm tin của nhân dân.

Đoàn kết – truyền thống quý báu phải giữ gìn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta.” Người yêu cầu phải giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình; thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình; có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Trong những lời căn dặn ấy, đoàn kết không phải là một yêu cầu riêng lẻ, mà gắn chặt với thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình, tình đồng chí và trách nhiệm vì mục tiêu chung.

Đoàn kết cũng không có nghĩa là xóa nhòa mọi khác biệt. Trong một tập thể, một tổ chức hay rộng hơn là trong xã hội, sự khác nhau về nhận thức, hoàn cảnh và cách thức giải quyết công việc là điều khó tránh khỏi. Điều quan trọng là biết đặt những khác biệt ấy trong lợi ích chung, cùng trao đổi và giải quyết trên tinh thần dân chủ, xây dựng và trách nhiệm. Khi lợi ích của Tổ quốc và nhân dân được đặt lên trên hết, những khác biệt có thể được dung hòa, tạo nên sự đồng thuận và sức mạnh chung.

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho thấy sức mạnh to lớn của tinh thần đoàn kết. Từ đấu tranh giành chính quyền đến những năm tháng kháng chiến bảo vệ nền độc lập, thống nhất đất nước, sự đồng lòng của toàn dân tộc là một trong những nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi. Đoàn kết đã quy tụ sức người, sức của, ý chí và niềm tin thành sức mạnh chung. Và khi đất nước bước vào thời kỳ hòa bình, xây dựng và phát triển, tinh thần ấy vẫn là nguồn lực quan trọng để tập hợp sức mạnh của toàn xã hội vì những mục tiêu chung của quốc gia, dân tộc.

Hơn nửa thế kỷ sau ngày Người đi xa, lời căn dặn về đoàn kết vẫn mang ý nghĩa sâu sắc. Trong một xã hội ngày càng phát triển và đa dạng, điều cần thiết không phải là loại bỏ mọi khác biệt, mà là tìm được điểm chung để cùng hướng tới; biết đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân lên trên lợi ích cục bộ, cùng chung sức trước những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Giữ gìn đoàn kết không chỉ là thực hiện một lời Bác dặn, mà còn là giữ gìn một truyền thống đã trở thành sức mạnh của dân tộc qua bao thế hệ. Từ đoàn kết trong Đảng đến đoàn kết toàn dân tộc, đó là nền tảng để tập hợp ý chí, củng cố đồng thuận và tạo nên sức mạnh đưa đất nước tiếp tục tiến về phía trước.

Vì nhân dân – nâng cao đời sống, chăm lo con người.
Trong những lời căn dặn để lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm sâu sắc đến đời sống của nhân dân, những người đã chịu nhiều gian khổ, hy sinh trong sự nghiệp cách mạng. Người căn dặn phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Lời dặn ngắn gọn nhưng chứa đựng một yêu cầu lớn: sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước cuối cùng phải hướng đến cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Nhân dân không chỉ là lực lượng làm nên cách mạng mà còn phải được thụ hưởng những thành quả do cách mạng và công cuộc xây dựng đất nước mang lại.

Độc lập, trong tư tưởng và những điều Người căn dặn, luôn gắn với cuộc sống của nhân dân. Giá trị của độc lập không chỉ thể hiện ở quyền tự quyết của một quốc gia, mà còn phải được hiện thực hóa trong cuộc sống của mỗi người dân. Đó là một đất nước hòa bình để nhân dân lao động, học tập và phát triển; kinh tế ngày càng đi lên, văn hóa được chăm lo, đời sống vật chất và tinh thần từng bước được nâng cao. Khi những thành quả phát triển đến được với nhân dân, giá trị của độc lập, tự do mới hiện diện một cách cụ thể và thiết thực trong đời sống hằng ngày.

Trong những công việc cần làm sau chiến tranh, Người đặc biệt quan tâm đến những con người đã hy sinh, cống hiến cho đất nước. Đó là chăm lo đối với thương binh, gia đình liệt sĩ; tạo điều kiện để những người trẻ tuổi trong lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong được học tập, có nghề nghiệp, trở thành những người có ích cho xã hội. Người cũng đề cập việc giáo dục, cải tạo những người từng tham gia chế độ cũ để họ trở thành những người lao động lương thiện.

Những căn dặn ấy cho thấy công việc sau chiến tranh không chỉ là khôi phục và phát triển đất nước, mà còn là chăm lo con người, ghi nhận những hy sinh, tạo điều kiện cho những người đã cống hiến tiếp tục xây dựng cuộc sống và giúp những người từng lầm đường có cơ hội trở lại với cộng đồng. Hàn gắn hậu quả chiến tranh, vì thế, không chỉ là dựng lại những gì đã bị tàn phá, mà còn là chăm lo đến cuộc sống và tương lai của con người.

Ngay cả khi nói về việc riêng sau khi qua đời, Người vẫn nghĩ đến nhân dân. Người căn dặn không nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thời giờ và tiền bạc của nhân dân. Một lời dặn giản dị nhưng nhất quán với điều Người theo đuổi suốt cuộc đời: đặt lợi ích của đất nước và nhân dân lên trên việc riêng của mình.

Tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhớ về một con người đã dành trọn cuộc đời cho dân tộc, mà ý nghĩa thiết thực hơn còn nằm ở việc tiếp tục thực hiện những điều Người hằng mong muốn: phát triển đất nước gắn với không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, chăm lo con người, để những thành quả của độc lập, tự do và phát triển ngày càng hiện diện rõ nét trong cuộc sống của mỗi người dân.

Vì thế hệ mai sau – bồi dưỡng những người kế tục.
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.” Lời dặn ngắn gọn nhưng đặt ra một vấn đề có ý nghĩa lâu dài đối với tương lai dân tộc. Không một sự nghiệp nào chỉ được thực hiện bởi một thế hệ. Những người hôm nay rồi sẽ trao lại công việc cho những người ngày mai; sự tiếp nối và phát triển của đất nước phụ thuộc rất lớn vào việc thế hệ đi trước chuẩn bị hành trang gì cho thế hệ kế tục.

Người yêu cầu chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng, đào tạo thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đó là sự kết hợp giữa phẩm chất và năng lực, giữa lý tưởng, trách nhiệm với tri thức và khả năng hành động. Có tri thức nhưng thiếu trách nhiệm với Tổ quốc, với cộng đồng thì khó làm tròn sứ mệnh; có nhiệt huyết nhưng thiếu kiến thức, kỹ năng và năng lực thực tiễn cũng khó đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Bởi vậy, bồi dưỡng thế hệ trẻ phải hướng đến sự phát triển toàn diện cả phẩm chất, bản lĩnh và năng lực.

Điều đặc biệt là lời căn dặn ấy được viết khi đất nước vẫn còn chiến tranh. Trong khi một thế hệ thanh niên đang chiến đấu, hy sinh cho độc lập, thống nhất, Người đã nghĩ đến những thế hệ sẽ tiếp tục xây dựng đất nước sau ngày hòa bình. Nếu thế hệ đi trước gánh vác nhiệm vụ giành và giữ độc lập, thì những thế hệ tiếp nối phải làm cho nền độc lập ấy ngày càng vững chắc bằng xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ, bảo vệ Tổ quốc và không ngừng nâng cao vị thế đất nước.

Hôm nay, lời dặn ấy tiếp tục đặt ra trách nhiệm đối với gia đình, nhà trường và toàn xã hội trong việc giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Đó không chỉ là trao truyền tri thức, mà còn là bồi đắp nhân cách, bản lĩnh, ý thức trách nhiệm và khát vọng cống hiến; giúp thế hệ trẻ hiểu lịch sử dân tộc, trân trọng giá trị của độc lập, tự do và những hy sinh của cha ông, đồng thời có đủ năng lực để làm chủ tương lai.

Trao đất nước cho thế hệ sau, vì thế, không chỉ là trao lại những thành quả đã có. Đó còn là trao một trách nhiệm: tiếp tục gìn giữ, bồi đắp và đưa đất nước tiến xa hơn trên con đường mà các thế hệ đi trước đã mở.

Điều Người mong muốn cuối cùng: Một Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Những lời Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cuối cùng hội tụ trong một mong muốn lớn: toàn Đảng, toàn dân đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, đồng thời góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Trong hoàn cảnh đất nước còn chia cắt, chiến tranh vẫn tiếp diễn, Người tin tưởng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhất định thắng lợi hoàn toàn, Tổ quốc nhất định thống nhất, đồng bào Nam Bắc nhất định sum họp một nhà.

Khi Người đi xa, mong ước ấy chưa trở thành hiện thực. Nhưng lịch sử đã tiếp tục. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Năm 1976, Quốc hội quyết định tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều Người hằng mong mỏi nhưng không kịp chứng kiến đã được các thế hệ tiếp nối thực hiện bằng biết bao hy sinh, nỗ lực và ý chí của cả dân tộc.

Hòa bình và thống nhất, tuy nhiên, không phải là điểm kết thúc. Độc lập phải được củng cố bằng một đất nước ngày càng vững mạnh; hòa bình phải trở thành điều kiện cho phát triển; thống nhất phải được bồi đắp bằng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Mỗi giai đoạn lịch sử đặt ra những nhiệm vụ mới, nhưng khát vọng về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ và giàu mạnh vẫn là mục tiêu có ý nghĩa lâu dài.

Ngày 2/9 năm nay gợi nên một sự gặp gỡ đặc biệt của thời gian. Quốc khánh cũng trùng với ngày 21/7 âm lịch, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời theo lịch âm năm 1969. Nhưng điều đáng suy ngẫm không chỉ nằm ở sự trùng hợp của ngày tháng, mà còn ở khoảng cách 57 năm để nhìn lại hành trình của đất nước và những lời Người để lại. Hơn nửa thế kỷ đã qua, hoàn cảnh đã đổi thay, nhưng những căn dặn về xây dựng Đảng, giữ gìn đoàn kết, chăm lo đời sống nhân dân, bồi dưỡng thế hệ trẻ và xây dựng đất nước vẫn gợi nhắc những trách nhiệm của hôm nay.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về nền độc lập của dân tộc Việt Nam. Ngày 2/9/1969, Người đi xa khi sự nghiệp cách mạng còn những chặng đường chưa hoàn thành. Ngày 2/9 hôm nay, chúng ta sống trong một đất nước hòa bình, thống nhất, đang tiếp tục phát triển và hội nhập. Giữa ba dấu mốc ấy là một dòng chảy tiếp nối: từ giành độc lập đến bảo vệ vững chắc nền độc lập, từ thống nhất non sông đến xây dựng và phát triển đất nước, từ những hy sinh của thế hệ đi trước đến trách nhiệm của các thế hệ hôm nay và mai sau.

Nhớ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa không chỉ là nhớ về một mất mát. Đó còn là dịp nhớ về “muôn vàn tình thân yêu” Người để lại cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, các cháu thanh niên và nhi đồng; nhớ những lời căn dặn Người gửi lại khi công việc của dân tộc vẫn còn ở phía trước. Ý nghĩa của sự tưởng nhớ không chỉ nằm trong những lời tri ân, mà còn được thể hiện bằng việc tiếp nối những điều Người căn dặn, biến thành trách nhiệm, hành động và những kết quả cụ thể trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Người đã đi xa 57 năm. Những điều còn dang dở năm xưa, có điều đã trở thành hiện thực, có mục tiêu vẫn cần bền bỉ thực hiện trên hành trình xây dựng và phát triển đất nước. Giá trị những lời Người để lại cũng chính ở sức sống lâu bền ấy được gìn giữ, được thực hiện và soi chiếu vào trách nhiệm của hôm nay.

Từ mùa Thu độc lập năm 1945, ngày Người đi xa năm 1969 đến Quốc khánh hôm nay là hành trình của một dân tộc không ngừng gìn giữ thành quả đã giành được và hướng tới tương lai. Trên hành trình ấy, khát vọng về một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn vẫn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta về trách nhiệm với Tổ quốc và nhân dân.

Thế Nguyễn – Minh Văn

Tài liệu tham khảo
1. Hồ Chí Minh – Di chúc, bản công bố năm 1969, Cổng Thông tin điện tử Hồ Chí Minh.
2. Hồ Chí Minh – Bản Di chúc sửa chữa năm 1969, Cổng Thông tin điện tử Hồ Chí Minh.
3. Cổng Thông tin điện tử Hồ Chí Minh – Quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Di chúc và việc công bố Di chúc của Người.
4. Cổng Thông tin điện tử Hồ Chí Minh – Bác Hồ – những ngày cuối cùng.
5. Hồ Chí Minh – Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam – các văn kiện về xây dựng Đảng, đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.