Thứ Hai, Tháng 6 15, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Từ Nhân văn – Giai phẩm đến yêu cầu giữ vững trận địa tư tưởng hôm nay



ĐNA -

Giai đoạn 1955–1958, miền Bắc vừa bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa phải đối mặt với cuộc đấu tranh quyết liệt trên mặt trận văn hóa, tư tưởng. Trong bối cảnh Đảng xác định văn hóa phải phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng và sự nghiệp giải phóng dân tộc, một số văn nghệ sĩ tham gia phong trào “Nhân văn – Giai phẩm” đã bày tỏ những quan điểm bị cho là lệch lạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chống đối Nhà nước. Trước những biểu hiện này, các cơ quan chức năng đã tiến hành xử lý nhằm bảo vệ định hướng tư tưởng và ổn định chính trị – xã hội. Nhìn lại hiện tượng này không chỉ giúp nhận diện những tác động của phong trào đối với đời sống văn hóa và sự nghiệp cách mạng thời kỳ đó, mà còn góp phần rút ra những bài học về vai trò lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm xã hội của văn hóa và yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng trong bối cảnh hiện nay.

Bác Hồ với văn nghệ sĩ – chiến sĩ: Văn hóa soi đường cho quốc dân đi

Nhân văn – Giai phẩm và cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và việc ký kết Hiệp định Genève, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Ngụy Sài Gòn nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong bối cảnh đó, miền Bắc không chỉ là hậu phương lớn của cả nước mà còn là nơi xây dựng những nền tảng chính trị, kinh tế, văn hóa và tư tưởng cho sự nghiệp cách mạng lâu dài.

Trong những năm 1955-1958, xung quanh các ấn phẩm Nhân Văn và Giai Phẩm đã tập hợp một số văn nghệ sĩ, trí thức như Phan Khôi, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang… Thông qua các bài viết, sáng tác đăng trên báo Nhân Văn, các tập Giai Phẩm cùng một số tác phẩm như Nhất định thắng, Ông bình vôi, những người tham gia đã đưa ra nhiều quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về văn học, nghệ thuật, đời sống chính trị và xã hội, tạo nên các cuộc tranh luận đáng chú ý trong đời sống văn hóa thời kỳ đó.

Điều Đảng quan tâm không chỉ là giá trị văn học, nghệ thuật của từng tác phẩm riêng lẻ mà còn là những khuynh hướng tư tưởng được thể hiện qua các ấn phẩm này. Theo quan điểm của Đảng, một số nội dung trong phong trào Nhân văn – Giai phẩm đã bộc lộ xu hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trên mặt trận văn hóa – tư tưởng, đề cao quan niệm văn nghệ đứng ngoài chính trị và có những biểu hiện bị cho là đi ngược lại yêu cầu phục vụ cách mạng của văn học nghệ thuật. Trong bài thơ Ông bình vôi, Lê Đạt viết: “Những kiếp người sống lâu trăm tuổi/ Y như một cái bình vôi/ Càng sống càng tồi/ Càng sống càng bé lại…”. Cùng với đó, Phan Khôi đã viết một bài khảo cứu ngắn xoay quanh bài thơ này và kể lại việc khi mới 18 tuổi ông từng “hất một loạt ông bình vôi thờ trên tường thành xuống đất”. Những hình tượng và cách diễn giải như vậy không đơn thuần mang ý nghĩa văn chương mà còn hàm chứa những thông điệp chính trị có thể dẫn đến sự phủ nhận các giá trị và thiết chế của chế độ mới. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều ấn phẩm thuộc Nhân văn – Giai phẩm sau đó đã được chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam cho in lại và khai thác như công cụ tuyên truyền chống chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Đối với Đảng, văn hóa không đứng ngoài chính trị. Ngay từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, Đảng đã xác định văn hóa là một mặt trận, người làm công tác văn hóa là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi, phải góp phần xây dựng con người mới và xã hội mới. Vì vậy, trong khi một số người đề cao quan niệm tách văn nghệ khỏi nhiệm vụ chính trị hoặc tuyệt đối hóa tự do sáng tác theo hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thì Đảng vẫn kiên định quan điểm văn học, nghệ thuật phải gắn bó với đời sống nhân dân, với sự nghiệp cách mạng và lợi ích của dân tộc.

Tinh thần đó cũng được thể hiện rõ trong nhiều văn kiện và tác phẩm lý luận của Đảng thời kỳ này. Trong bài thơ Là thi sĩ, Tổng Bí thư Trường Chinh không phủ nhận vai trò của cảm xúc và sự sáng tạo nghệ thuật, nhưng nhấn mạnh trách nhiệm xã hội của người cầm bút. Ông kêu gọi người nghệ sĩ “hãy nhịp bước trên con đường tiến bộ”, dùng tài năng và ngòi bút của mình để phản ánh hiện thực cách mạng, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc và góp phần vào sự nghiệp giải phóng con người. Theo quan điểm đó, giá trị của văn học nghệ thuật không chỉ được đánh giá ở phương diện thẩm mỹ mà còn ở khả năng đồng hành với sự phát triển của dân tộc và những mục tiêu lớn của cách mạng.

Trong điều kiện cuộc đấu tranh giai cấp và cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống xã hội đang diễn ra quyết liệt trên phạm vi toàn thế giới, Đảng cho rằng tư tưởng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với vận mệnh của cách mạng. Tư tưởng quyết định đường lối; đường lối quyết định tổ chức; tổ chức quyết định hành động; hành động quyết định thành bại của sự nghiệp cách mạng. Từ nhận thức đó, Đảng xác định mọi biểu hiện lệch lạc về tư tưởng đều có thể tác động đến sự thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động của toàn xã hội. Trước những khuynh hướng bị cho là có nguy cơ làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Đảng và ảnh hưởng đến nền tảng tư tưởng của chế độ mới, Đảng đã tiến hành đấu tranh, phê bình và xử lý hiện tượng Nhân văn – Giai phẩm. Mục tiêu của cuộc đấu tranh này, theo quan điểm của Đảng, là bảo vệ nền tảng tư tưởng của cách mạng, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố sự thống nhất chính trị – tư tưởng trong xã hội, đồng thời định hướng đời sống văn hóa phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Những ranh giới không thể vượt qua của cách mạng
Từ bài học Nhân văn – Giai phẩm có thể thấy rằng trong bất kỳ giai đoạn cách mạng nào cũng tồn tại những ranh giới cần được nhận thức rõ và kiên quyết giữ vững. Việc vượt qua những ranh giới ấy không chỉ làm sai lệch nhận thức mà còn có thể gây ra những hệ quả nghiêm trọng đối với sự nghiệp chung của dân tộc và cách mạng.

Trước hết, đó là ranh giới giữa góp ý xây dựng và phủ định thành quả cách mạng. Đảng luôn khuyến khích phê bình và tự phê bình như một nguyên tắc quan trọng nhằm phát hiện khuyết điểm, sửa chữa sai lầm, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức. Tuy nhiên, phê bình để xây dựng hoàn toàn khác với việc lợi dụng những hạn chế, thiếu sót mang tính lịch sử hoặc những sai lầm cục bộ trong từng giai đoạn để phủ nhận bản chất tốt đẹp của chế độ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và những thành tựu to lớn mà cách mạng đã mang lại cho dân tộc. Khi sự phê bình không còn hướng tới mục tiêu xây dựng mà chuyển thành phủ định toàn bộ thành quả cách mạng, thì bản chất của vấn đề đã thay đổi.

Ranh giới thứ hai là giữa tự do sáng tạo và xu hướng vô chính trị hóa văn hóa. Văn học, nghệ thuật muốn phát triển phải được nuôi dưỡng bởi tinh thần sáng tạo, bởi sự tìm tòi và đổi mới không ngừng của người nghệ sĩ. Tuy nhiên, trong điều kiện cách mạng Việt Nam, văn hóa không chỉ có chức năng phản ánh hiện thực mà còn góp phần giáo dục lý tưởng, bồi dưỡng niềm tin, xây dựng nhân cách và khơi dậy trách nhiệm công dân đối với đất nước. Chính vì vậy, tự do sáng tạo không đồng nghĩa với việc tách văn hóa khỏi đời sống chính trị và lợi ích của dân tộc. Quan điểm đòi đưa văn học, nghệ thuật đứng ngoài sự lãnh đạo của Đảng hoặc xem văn hóa là lĩnh vực không gắn với nhiệm vụ cách mạng luôn được nhìn nhận là biểu hiện lệch hướng về tư tưởng, làm suy giảm vai trò định hướng của văn hóa đối với xã hội.

Ranh giới thứ ba là giữa phản biện và chống phá. Một xã hội phát triển luôn cần những ý kiến phản biện chân thành, thẳng thắn nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý và năng lực lãnh đạo. Phản biện đúng đắn là một nhu cầu khách quan của quá trình phát triển. Tuy nhiên, khi phản biện bị đẩy tới chỗ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội hoặc phủ nhận những giá trị nền tảng của chế độ thì nó không còn đơn thuần là hoạt động góp ý hay tranh luận học thuật. Khi đó, phản biện đã chuyển thành sự đối lập về lập trường chính trị và tư tưởng.

Từ bài học Nhân văn – Giai phẩm, Đảng cho rằng trong công tác tư tưởng không có những lệch lạc hoàn toàn vô hại. Mọi biểu hiện dao động về nhận thức, nếu không được phát hiện, đấu tranh và uốn nắn kịp thời, đều có thể từng bước tác động đến nhận thức xã hội, làm suy giảm niềm tin, ảnh hưởng đến sự thống nhất về tư tưởng và hành động, từ đó gây ra những hệ quả lớn hơn đối với sự nghiệp cách mạng.

Ba ranh giới nêu trên, xét đến cùng, đều quy tụ ở một điểm cốt lõi là giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và mục tiêu cách mạng. Một khi góp ý bị biến thành phủ định, sáng tạo bị đẩy thành vô chính trị hóa văn hóa, phản biện bị lợi dụng để chống phá thì vấn đề không còn dừng lại ở những tranh luận thông thường mà đã trở thành nguy cơ đối với trận địa tư tưởng của cách mạng. Bài học từ hiện tượng Nhân văn – Giai phẩm cho thấy Đảng chỉ có thể lãnh đạo thành công khi kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng, giữ vững định hướng chính trị, không để những biểu hiện lệch lạc làm suy giảm niềm tin của nhân dân, làm phân tán ý chí và ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Khi sự lệch hướng bắt đầu từ nhận thức
Lịch sử cho thấy những biến động lớn về chính trị và xã hội thường bắt nguồn từ những biến động trong nhận thức. Không có sự chệch hướng nào xuất hiện ngay lập tức dưới hình thức đường lối, tổ chức hay hành động. Thông thường, nó bắt đầu từ những thay đổi trong cách nhìn nhận lịch sử, trong quan niệm về các giá trị nền tảng, trong thái độ đối với lý tưởng, mục tiêu và con đường phát triển của dân tộc. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng không chỉ là bảo vệ một hệ thống quan điểm chính trị mà thực chất là bảo vệ từ gốc những giá trị làm nên sức mạnh của Đảng, của chế độ và của quốc gia.

Trong điều kiện hiện nay, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng cùng sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và không gian mạng đang tạo ra môi trường giao lưu tư tưởng chưa từng có. Các luồng thông tin, các hệ giá trị và các cách tiếp cận khác nhau liên tục tác động đến đời sống xã hội. Bên cạnh những giá trị tiến bộ cần được tiếp thu để phục vụ công cuộc phát triển đất nước, cũng xuất hiện không ít quan điểm phiến diện, cực đoan hoặc sai lệch về lịch sử, chính trị và văn hóa. Đáng chú ý là xu hướng nhìn nhận các sự kiện lịch sử thông qua những lát cắt riêng lẻ, tách chúng khỏi bối cảnh lịch sử cụ thể, từ đó dẫn tới những đánh giá thiếu toàn diện, thậm chí phủ nhận những thành quả đã được kiểm chứng bằng thực tiễn cách mạng và sự lựa chọn của lịch sử dân tộc.

Một biểu hiện đáng quan tâm là khuynh hướng nhân danh nghiên cứu, phản biện hoặc “giải thiêng” để hạ thấp vai trò của các lãnh tụ cách mạng, phủ nhận công lao của các thế hệ đi trước và làm lu mờ những giá trị đã góp phần tạo nên những thắng lợi lịch sử của dân tộc. Cùng với đó là những cách tiếp cận phiến diện, thiếu khách quan nhằm làm suy giảm uy tín, hình ảnh và vị thế của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cũng như các thiết chế của Nhà nước. Những biểu hiện này thường không xuất hiện dưới hình thức đối đầu trực diện mà được thể hiện thông qua các sản phẩm văn hóa, các bài viết, bình luận hoặc những diễn ngôn mang dáng vẻ học thuật, khiến không ít người lầm tưởng đó chỉ là những tranh luận chuyên môn hoặc trao đổi văn hóa đơn thuần.

Tuy nhiên, điều đáng lo ngại không phải là sự tồn tại của những quan điểm khác biệt, bởi trong bất kỳ xã hội nào cũng luôn có những nhận thức và góc nhìn đa dạng. Điều đáng quan tâm hơn là khả năng định hướng của đời sống văn hóa và tư tưởng trong xã hội. Khi văn hóa không thực hiện đầy đủ chức năng “soi đường cho quốc dân đi”; khi những người làm công tác tư tưởng, văn hóa và giáo dục buông lỏng trách nhiệm; khi các giá trị tích cực, tiến bộ và cách mạng không giữ được vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân, thì những khoảng trống về nhận thức sẽ xuất hiện. Chính những khoảng trống ấy tạo điều kiện để các quan điểm sai trái, các xu hướng xét lại lịch sử, những luận điệu xuyên tạc hoặc các nhận thức lệch lạc từng bước lan rộng và tác động đến xã hội.

Từ góc độ đó, bài học của hiện tượng Nhân văn – Giai phẩm vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện nay. Sự ổn định và phát triển của đất nước không chỉ được bảo đảm bằng sức mạnh kinh tế, quốc phòng hay thể chế chính trị mà còn phụ thuộc vào việc giữ vững nền tảng tư tưởng, củng cố niềm tin xã hội và phát huy vai trò định hướng của văn hóa. Nhận diện kịp thời những biểu hiện lệch lạc về nhận thức, đấu tranh với các quan điểm sai trái, đồng thời không ngừng bồi đắp những giá trị tích cực trong đời sống tinh thần của nhân dân chính là yêu cầu quan trọng để bảo vệ thành quả cách mạng và giữ vững con đường phát triển mà dân tộc đã lựa chọn.

Không thể buông lỏng trận địa văn hóa – tư tưởng
Việc Đảng kiên quyết đấu tranh với hiện tượng Nhân văn – Giai phẩm không đồng nghĩa với việc hạn chế sự phát triển của văn học, nghệ thuật. Thực tiễn lịch sử cho thấy, sau khi những khuynh hướng bị xem là lệch hướng về tư tưởng được phê bình và uốn nắn, nền văn học cách mạng Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu quan trọng và để lại những giá trị bền vững cho đời sống tinh thần dân tộc. Nhiều văn nghệ sĩ tiêu biểu như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Đỗ Nhuận, Chính Hữu, Phạm Tiến Duật cùng nhiều thế hệ sáng tác khác đã góp phần xây dựng một nền văn học, nghệ thuật gắn bó sâu sắc với nhân dân, đồng hành cùng các cuộc kháng chiến và công cuộc xây dựng đất nước.

Những tác phẩm như Việt Bắc, Gió lộng, Người đi tìm hình của nước, Đất nước, Đồng chí, Bài thơ về tiểu đội xe không kính… không chỉ phản ánh hiện thực lịch sử của dân tộc mà còn trở thành một phần ký ức tinh thần của nhiều thế hệ người Việt Nam. Sức sống lâu bền của những tác phẩm ấy cho thấy việc đấu tranh với các khuynh hướng tư tưởng bị cho là lệch lạc không đồng nghĩa với phủ nhận tài năng hay triệt tiêu sáng tạo nghệ thuật. Ngược lại, quan điểm nhất quán của Đảng là khuyến khích văn học, nghệ thuật phát triển, nhưng sự phát triển đó phải gắn với lợi ích của nhân dân, của dân tộc và mục tiêu cách mạng.

Bài học ấy vẫn giữ nguyên ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay. Nếu như trong những năm 1950, mặt trận văn hóa – tư tưởng chủ yếu diễn ra trên báo chí, xuất bản và các hoạt động văn nghệ, thì trong thời đại internet và truyền thông số, phạm vi tác động của nó đã mở rộng hơn rất nhiều. Mỗi cuốn sách, mỗi bộ phim, mỗi chương trình nghệ thuật, mỗi bài viết trên báo chí hay mạng xã hội đều có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, tình cảm và niềm tin của công chúng. Điều đó đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với những người làm công tác văn hóa, giáo dục, báo chí, xuất bản, nghiên cứu và truyền thông trong việc giữ vững bản lĩnh chính trị, nâng cao trách nhiệm xã hội và ý thức sâu sắc về vai trò của mình trước đất nước và dân tộc.

Lịch sử cho thấy, khi những giá trị tích cực và tiến bộ không giữ được vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội thì các quan điểm sai trái, lệch lạc sẽ có điều kiện phát triển. Khi những người làm nhiệm vụ định hướng và bảo vệ các giá trị văn hóa mất đi sự tỉnh táo, cảnh giác và trách nhiệm, những nhận thức sai lệch có thể từng bước lấn át những giá trị đúng đắn. Bởi vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của công tác chính trị, tư tưởng mà còn là nhiệm vụ của văn hóa. Đó chính là giữ vững vai trò soi đường của văn hóa, để văn hóa tiếp tục trở thành nguồn sức mạnh tinh thần to lớn, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bồi đắp niềm tin vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Sức mạnh của đường lối đúng đắn
Lịch sử thế giới hiện đại cho thấy không ít quốc gia và chế độ chính trị đã rơi vào khủng hoảng khi nền tảng tư tưởng bị suy yếu, lý tưởng phát triển bị lung lay và sự thống nhất về mục tiêu chiến lược không còn được bảo đảm. Khi niềm tin xã hội bị xói mòn, những thành quả được xây dựng qua nhiều thế hệ cũng có thể đứng trước nguy cơ bị phủ nhận hoặc đánh mất. Đó là bài học đắt giá mà nhiều quốc gia đã phải trải qua bằng những biến động chính trị, kinh tế và xã hội sâu sắc.

Đối với Việt Nam, sức mạnh của cách mạng không chỉ bắt nguồn từ truyền thống yêu nước, ý chí độc lập, tự cường của dân tộc mà còn được tạo nên bởi sự đúng đắn của đường lối lãnh đạo. Dưới sự lãnh đạo của Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới. Trong suốt quá trình đó, Đảng luôn thể hiện bản lĩnh chính trị khi dám nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình, kịp thời sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm và điều chỉnh chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Chính năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn ấy đã góp phần quan trọng giúp đất nước vượt qua nhiều khó khăn, thử thách để tiếp tục phát triển.

Công cuộc đổi mới được khởi xướng từ năm 1986 là minh chứng rõ nét cho bản lĩnh và năng lực lãnh đạo của Đảng. Trước những yêu cầu cấp bách của thực tiễn, Đảng đã đổi mới tư duy kinh tế, đổi mới phương thức quản lý, chủ động mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, đổi mới không đồng nghĩa với từ bỏ mục tiêu lý tưởng; hội nhập không có nghĩa là hòa tan; tiếp thu tinh hoa của nhân loại không đồng nghĩa với phủ nhận những giá trị nền tảng của dân tộc và con đường phát triển mà cách mạng Việt Nam đã lựa chọn. Trong suốt quá trình đổi mới, Đảng vẫn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, coi đó là nguyên tắc có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của đất nước.

Nhìn lại hiện tượng Nhân văn – Giai phẩm và những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử, có thể thấy một trong những yếu tố quyết định sự thành công của cách mạng chính là giữ vững định hướng chính trị và nền tảng tư tưởng. Nếu trong những năm 1950, Đảng kiên quyết đấu tranh với những khuynh hướng bị cho là có nguy cơ làm chệch hướng cách mạng thì ngày nay nhiệm vụ đó vẫn giữ nguyên ý nghĩa, dù được thực hiện bằng những phương thức phù hợp với điều kiện mới. Trọng tâm không chỉ là đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch mà còn là không ngừng củng cố niềm tin của nhân dân bằng những thành quả phát triển cụ thể; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nâng cao chất lượng công tác văn hóa, giáo dục và lý luận; đồng thời chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, sức mạnh của một đường lối đúng đắn không chỉ nằm ở khả năng định hướng cho hiện tại mà còn ở năng lực dẫn dắt tương lai. Khi nền tảng tư tưởng được giữ vững, mục tiêu phát triển được xác định rõ ràng và niềm tin của nhân dân được củng cố, đất nước sẽ có đủ bản lĩnh để vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục phát triển theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Đây có phải là một phép thử? Không!
Từ câu chuyện Nhân văn – Giai phẩm những năm 1950 đến những biểu hiện lệch lạc trên mặt trận văn hóa – tư tưởng hiện nay, có ý kiến cho rằng đây là những phép thử đối với Đảng, đối với chế độ và đối với con đường phát triển mà dân tộc Việt Nam đã lựa chọn. Thực tế cho thấy, trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào cũng luôn tồn tại những tác động, thách thức và những quan điểm khác biệt về nhận thức, tư tưởng. Đã có lúc xuất hiện những cách nhìn phiến diện về lịch sử, những luận điệu xuyên tạc vai trò của lãnh tụ, phủ nhận công lao của các thế hệ cách mạng hoặc tìm cách làm suy giảm niềm tin vào các thiết chế chính trị và những giá trị nền tảng của chế độ.

Cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng ở một số thời điểm, một số lĩnh vực vẫn còn những hạn chế trong công tác văn hóa, tư tưởng; vẫn còn biểu hiện chủ quan, dễ dãi trong thẩm định, thiếu sắc bén trong nhận diện và đấu tranh với các quan điểm sai trái. Chính những khoảng trống ấy có thể tạo điều kiện để các luận điệu xuyên tạc, các xu hướng xét lại lịch sử hoặc những nhận thức lệch lạc tìm cách tác động đến đời sống xã hội. Nhận diện đúng những hạn chế đó không phải để bi quan mà để tiếp tục hoàn thiện năng lực lãnh đạo, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, văn hóa trong điều kiện mới.

Tuy nhiên, nhìn lại chặng đường gần một thế kỷ qua, lịch sử đã chứng minh rằng dân tộc Việt Nam luôn có đủ bản lĩnh để vượt qua những thử thách như vậy. Từ những năm tháng đấu tranh giành độc lập dân tộc, các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc đến công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, mỗi khi đứng trước những khó khăn, thách thức về tư tưởng hay đường lối, Đảng đều kiên trì bảo vệ những giá trị cốt lõi của cách mạng, đồng thời không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Vì vậy, vấn đề đặt ra hôm nay không phải là lo ngại trước những tác động hay thách thức về tư tưởng, mà là tiếp tục củng cố những nhân tố làm nên sức mạnh của đất nước: xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy vai trò định hướng của văn hóa; nâng cao chất lượng giáo dục, báo chí, nghiên cứu lý luận; bồi đắp niềm tin của nhân dân vào con đường phát triển của dân tộc; và kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mọi biểu hiện xuyên tạc, phủ nhận hoặc làm chệch hướng sự nghiệp cách mạng.

Đây có phải là một phép thử? Không. Bởi điều đã được kiểm chứng qua lịch sử không phải là khả năng tồn tại của những quan điểm lệch lạc, mà là sức sống của những giá trị đúng đắn. Chúng ta có một Đảng được tôi luyện qua thực tiễn cách mạng; có một dân tộc giàu truyền thống yêu nước và ý chí độc lập, tự cường; có một nền văn hóa được bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử; có những bài học được đánh đổi bằng biết bao hy sinh, mất mát của các thế hệ đi trước. Chừng nào vẫn giữ vững được nền tảng tư tưởng, lý tưởng cách mạng và niềm tin của nhân dân, chừng đó đất nước vẫn có đủ bản lĩnh và sức mạnh để vượt qua mọi thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn.

Thế Nguyễn – Minh Văn