Thứ Hai, Tháng 6 15, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Từ phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ 25/5/1938 đến trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt



ĐNA -

Ngày 25/5/1938, Hội Truyền bá Quốc ngữ ra đời khi đất nước còn dưới ách thực dân và hơn 90% dân số mù chữ. Những lớp học bình dân dưới ánh đèn dầu năm ấy không chỉ dạy chữ mà còn khơi dậy khát vọng khai dân trí, chấn dân khí và tinh thần dân tộc. Gần một thế kỷ sau, tiếng Việt đã trở thành ngôn ngữ của một quốc gia độc lập, thống nhất và hội nhập. Trong thời đại số hôm nay, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt vẫn là trách nhiệm văn hóa của mỗi người Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946: hàng đầu từ trái sang phải: Cụ Nguyễn Văn Tố, Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh Thúc Kháng. (Ảnh tư liệu).

Từ phong trào diệt giặc dốt đến khát vọng khai dân trí
Hội Truyền bá Quốc ngữ chính thức ra đời tại Hà Nội do học giả Nguyễn Văn Tố làm Hội trưởng. Với sự tham gia của nhiều trí thức yêu nước tiến bộ, phong trào nhanh chóng lan rộng, mở hàng nghìn lớp học bình dân giúp người lao động biết đọc, biết viết. Trong bối cảnh đa số nhân dân còn thất học dưới chế độ thực dân phong kiến, việc dạy chữ không chỉ mang ý nghĩa giáo dục mà còn thể hiện tinh thần yêu nước và khát vọng nâng cao dân trí.

Những lớp học đơn sơ trong đình làng, nhà dân hay cơ sở sinh hoạt cộng đồng đã trở thành nơi gieo mầm tri thức cho quần chúng nghèo. Từ những con chữ đầu tiên, nhiều người dân lần đầu tiếp cận sách báo tiến bộ, hiểu hơn về vận mệnh dân tộc và khát vọng độc lập, tự do. Phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ vì thế góp phần tạo nền tảng dân trí cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam những năm sau đó.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định chống “giặc dốt” là một trong ba nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước cách mạng non trẻ và khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Tư tưởng ấy cho thấy tri thức, văn hóa và ngôn ngữ luôn gắn liền với sức mạnh quốc gia. Từ phong trào bình dân học vụ đến công cuộc xây dựng xã hội học tập hôm nay đều phản ánh khát vọng khai dân trí và phát triển con người Việt Nam.

Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng và Nhà nước luôn coi giáo dục, văn hóa và ngôn ngữ là nền tảng quan trọng để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển con người Việt Nam toàn diện, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Trong tiến trình ấy, tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là cầu nối giữa lịch sử, văn hóa và tương lai dân tộc.

Cụ Nguyễn Văn Tố (1889-1947, Hội trưởng đầu tiên của Hội truyền bá Quốc ngữ và Quang cảnh Lễ thành lập Hội truyền bá Quốc ngữ, 5/1938.

Chữ Quốc ngữ và hành trình thức tỉnh tinh thần dân tộc
Sự phổ biến của chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX đã góp phần quan trọng vào quá trình hình thành ý thức dân tộc hiện đại ở Việt Nam. Với ưu thế dễ học, dễ phổ cập và thuận lợi cho in ấn, chữ Quốc ngữ giúp tri thức đến gần hơn với đông đảo quần chúng. Sự ra đời của nhiều tờ báo, sách giáo khoa và tác phẩm văn học bằng chữ Quốc ngữ đã mở rộng không gian tiếp nhận tư tưởng tiến bộ và tinh thần yêu nước trong xã hội Việt Nam.

Cùng với sự phát triển của báo chí cách mạng và các phong trào yêu nước, chữ Quốc ngữ trở thành phương tiện truyền tải khát vọng độc lập dân tộc và tinh thần tự cường. Nhiều trí thức tiến bộ đã dùng chữ Quốc ngữ để cổ vũ lòng yêu nước, phê phán áp bức bất công và kêu gọi canh tân đất nước. Có thể nói, hành trình phát triển của chữ Quốc ngữ luôn gắn liền với tiến trình cách mạng của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX.

Không chỉ mang giá trị lịch sử, chữ Quốc ngữ còn góp phần tạo nên sự thống nhất văn hóa và tinh thần dân tộc. Từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, tiếng Việt và chữ Quốc ngữ đã trở thành sợi dây kết nối cộng đồng, lưu giữ ký ức lịch sử và truyền tải những giá trị truyền thống của dân tộc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, vai trò của chữ Quốc ngữ càng cần được nhìn nhận đầy đủ hơn. Hội nhập quốc tế đòi hỏi tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nhưng càng hội nhập càng cần giữ vững bản sắc dân tộc. Giữ gìn tiếng Việt không phải là khép kín hay bài ngoại, mà là bảo vệ nền tảng tinh thần để Việt Nam tự tin bước ra thế giới bằng bản sắc riêng của mình.

Một lớp học chữ Quốc ngữ năm 1945 và Trung tâm GDTX Nguyễn Văn Tố, số 47 Hàng Quạt, trước kia là Sở hội Trí Trị, trụ sở của Hội truyền bá Quốc ngữ.

Tiếng Việt – hồn cốt văn hóa của dân tộc Việt Nam
Tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn lưu giữ tâm hồn, tình cảm và cách ứng xử của người Việt qua nhiều thế hệ. Từ ca dao, tục ngữ, lời ru của mẹ đến những áng văn chương như Truyện Kiều đều chứa đựng chiều sâu văn hóa và đạo lý dân tộc. Vì thế, tiếng Việt đã trở thành một phần của ký ức cộng đồng và bản sắc Việt Nam.

Qua hàng nghìn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam nhiều lần đấu tranh để bảo vệ độc lập và nền văn hóa của mình. Trong những giai đoạn khó khăn ấy, tiếng Việt vẫn được gìn giữ như biểu tượng của ý chí dân tộc. Từ Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo đến Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếng Việt luôn đồng hành cùng lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Tiếng Việt còn phản ánh lối sống trọng nghĩa tình, giàu tính cộng đồng và nhân văn của người Việt Nam. Cách xưng hô, lời ăn tiếng nói và các chuẩn mực giao tiếp truyền thống đều thể hiện nét đẹp văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Vì vậy, khi ngôn ngữ bị sử dụng cẩu thả, méo mó hoặc thiếu chuẩn mực thì không chỉ ảnh hưởng đến giao tiếp mà còn tác động trực tiếp đến môi trường văn hóa xã hội.

Trong thời đại toàn cầu hóa, tiếng Việt đứng trước nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng chịu áp lực biến đổi nhanh chóng. Việc tiếp nhận từ mới và thuật ngữ quốc tế là xu thế tự nhiên của ngôn ngữ, song cần được thực hiện trên cơ sở tôn trọng chuẩn mực tiếng Việt và giữ gìn sự hài hòa giữa hiện đại với bản sắc văn hóa dân tộc.

Những biểu hiện lệch chuẩn ngôn ngữ trong đời sống hiện nay
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và truyền thông hiện đại, đời sống ngôn ngữ đang biến đổi nhanh chóng. Bên cạnh sự linh hoạt và sáng tạo trong giao tiếp, cũng xuất hiện nhiều biểu hiện lệch chuẩn như lạm dụng tiếng nước ngoài, viết sai chính tả, sử dụng ngôn ngữ phản cảm hay cổ súy cách diễn đạt thiếu chuẩn mực.

Trên môi trường số, không khó để bắt gặp tình trạng cố tình viết méo tiếng Việt, dùng ngôn ngữ tục tĩu hoặc pha tạp thiếu cần thiết nhằm gây chú ý trên mạng xã hội. Một số nội dung livestream, video ngắn hay tiêu đề giật gân đang góp phần lan truyền lối diễn đạt cẩu thả, lệch chuẩn và thiếu tính giáo dục. Nếu kéo dài, thực trạng này có thể ảnh hưởng đáng kể đến thói quen sử dụng tiếng Việt chuẩn mực trong đời sống xã hội.

Hiện tượng lạm dụng từ ngoại lai cũng xuất hiện trong quảng cáo, biển hiệu thương mại và giao tiếp thường ngày. Nhiều nơi sử dụng tiếng nước ngoài dù tiếng Việt hoàn toàn có khả năng diễn đạt tương đương. Điều đó đặt ra yêu cầu nâng cao ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, ngôn ngữ luôn vận động và phát triển cùng đời sống xã hội. Không nên nhìn nhận mọi biến đổi của tiếng Việt bằng tâm lý cực đoan hay phủ nhận hoàn toàn. Điều quan trọng là phân biệt giữa sự sáng tạo tích cực với những biểu hiện làm méo mó, nghèo nàn hoặc hạ thấp giá trị của tiếng Việt trong đời sống văn hóa cộng đồng.

Sinh viên ngày nay.

Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là giữ gìn hồn dân tộc
Sự trong sáng của tiếng Việt không chỉ nằm ở ngữ pháp hay chính tả mà còn thể hiện ở chiều sâu văn hóa, nhân cách và ý thức dân tộc trong lời ăn tiếng nói của mỗi người. Một ngôn ngữ giàu tính nhân văn sẽ góp phần tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh và nuôi dưỡng tâm hồn con người. Vì thế, giữ gìn tiếng Việt cũng chính là giữ gìn nền tảng tinh thần của dân tộc Việt Nam.

Mỗi dân tộc đều xem ngôn ngữ là biểu tượng quan trọng của bản sắc văn hóa và chủ quyền tinh thần. Khi một ngôn ngữ bị mai một hoặc sử dụng méo mó kéo dài, những giá trị văn hóa gắn với ngôn ngữ ấy cũng dễ phai nhạt. Đối với Việt Nam, tiếng Việt không chỉ gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước mà còn lưu giữ tâm hồn, đạo lý và ký ức của nhiều thế hệ người Việt.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đặc biệt coi trọng vai trò của văn hóa và ngôn ngữ trong sự phát triển dân tộc. Người nhiều lần nhấn mạnh cần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, bởi tiếng nói và chữ viết không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn phản ánh bản sắc văn hóa và tinh thần dân tộc. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới.

Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không đồng nghĩa với thái độ khép kín hay phủ nhận sự phát triển tự nhiên của ngôn ngữ. Tiếng Việt cần tiếp tục đổi mới, bổ sung từ vựng và tiếp thu tinh hoa nhân loại để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới. Tuy nhiên, mọi sự phát triển đều phải đặt trên nền tảng tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc và chuẩn mực ngôn ngữ Việt Nam. Giữ gìn tiếng Việt vì thế cũng là góp phần bảo vệ nền tảng tinh thần của xã hội và hồn cốt văn hóa dân tộc.

Một góc không gian Triển lãm thành tựu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc gia VEC.

Trách nhiệm giữ gìn tiếng Việt trong thời đại số
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trước hết là trách nhiệm của mỗi cá nhân trong học tập, giao tiếp và ứng xử hằng ngày. Việc sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn, giàu tính văn hóa và nhân văn cần bắt đầu từ những hành động nhỏ như tôn trọng chính tả, hạn chế nói tục, viết cẩu thả hay lạm dụng từ ngoại lai không cần thiết. Khi mỗi người có ý thức trân trọng tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt sẽ tiếp tục được gìn giữ như một giá trị bền vững của dân tộc.

Gia đình và nhà trường giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi đắp tình yêu tiếng Việt cho thế hệ trẻ. Không chỉ dừng ở việc dạy ngữ pháp hay kỹ năng diễn đạt, giáo dục ngôn ngữ cần gắn với bồi dưỡng tâm hồn, văn hóa đọc và lòng tự hào dân tộc. Khi người trẻ cảm nhận được vẻ đẹp, chiều sâu và sức sống của tiếng Việt, họ sẽ tự nhiên có ý thức giữ gìn và phát huy giá trị của ngôn ngữ dân tộc trong đời sống hiện đại.

Báo chí, văn học, nghệ thuật và các nền tảng truyền thông cũng cần phát huy trách nhiệm xã hội trong việc lan tỏa cách sử dụng tiếng Việt chuẩn mực, giàu tính giáo dục và nhân văn. Những người làm báo, văn nghệ sĩ, nhà giáo và người có ảnh hưởng trong xã hội càng cần ý thức rõ trách nhiệm nêu gương trong lời nói và cách diễn đạt, bởi ngôn ngữ họ sử dụng có tác động mạnh mẽ đến nhận thức và hành vi của cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ.

Từ những lớp học bình dân của Hội Truyền bá Quốc ngữ năm 1938 đến xã hội số hôm nay, hành trình của tiếng Việt luôn gắn liền với vận mệnh dân tộc Việt Nam. Tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là nơi lưu giữ lịch sử, văn hóa, tâm hồn và ý chí của dân tộc qua nhiều thế hệ. Vì thế, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không chỉ là bảo vệ một ngôn ngữ, mà còn là gìn giữ hồn cốt văn hóa, lòng tự tôn dân tộc và nền tảng tinh thần của đất nước trong thời đại hội nhập và phát triển.

Thế Nguyễn – Minh Văn