Lợi dụng vấn đề dân tộc là thủ đoạn xuyên suốt của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Để nhận diện và đấu tranh hiệu quả, chúng ta cần nắm vững quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là tinh thần Đại hội XIV về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là là cơ sở hết sức quan trọng, luận cứ sắc bén để nhận diện và đưa ra các biện pháp đấu tranh phù hợp, hiệu quả.

Quan điểm Đại hội XIV của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, đồng thời là nguồn sức mạnh cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là đường lối chiến lược xuyên suốt của cách mạng, giữ vai trò vừa là động lực, vừa là nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, việc tăng cường, củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là nhiệm vụ thường xuyên, cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị. Trong bối cảnh hiện nay, đây chính là nhân tố then chốt bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng đề ra chủ trương, giải pháp nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhờ đó, dân tộc ta đã giành được những thắng lợi to lớn trong đấu tranh chống ngoại xâm, giành độc lập, thống nhất đất nước và đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới. Nhận thức của Đảng về vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được bổ sung và phát triển qua từng giai đoạn.
Quan điểm của Đại hội XIV của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn 40 năm đổi mới. Đây là sự kết tinh trí tuệ, ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; đồng thời là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ thực tiễn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quan điểm này thể hiện sự kiên định, nhất quán qua các kỳ Đại hội, đồng thời có những bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới. Những định hướng đó có giá trị quan trọng trong việc hoạch định và tổ chức các hoạt động phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta giai đoạn 2021–2025 và những năm tiếp theo, bảo đảm đúng định hướng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, góp phần phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đảng ta khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng để hội tụ và phát huy cao nhất sức mạnh của Nhân dân, tạo nên sức mạnh vô địch giúp đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, vươn tới phát triển phồn vinh, hùng cường”. Trên cơ sở đó, quan điểm của Đại hội XIV về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, “Dân là gốc”, là chủ thể, trung tâm, mục tiêu, động lực và nguồn lực của sự phát triển. Đảng xác định Nhân dân giữ vị trí trung tâm trong mọi đường lối, chính sách phát triển. Mục tiêu cao nhất là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; bảo đảm quyền làm chủ, tôn trọng, lắng nghe và dựa vào Nhân dân. Đảng phải gắn bó mật thiết với Nhân dân, tận tâm phục vụ, chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước Nhân dân về mọi quyết định của mình. Đồng thời, lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân và doanh nghiệp, cùng hiệu quả công việc làm thước đo đánh giá cán bộ. Vì vậy, cần quán triệt sâu sắc và thực hiện nhất quán quan điểm “Dân là gốc”; phát huy vai trò chủ thể và vị trí trung tâm của Nhân dân; tăng cường củng cố, phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ hai, “dân là chủ, dân làm chủ”. Cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền làm chủ của Nhân dân; triển khai nghiêm túc pháp luật về dân chủ ở cơ sở và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Phát huy vai trò của Nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Thực hiện nhất quán nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân và chịu trách nhiệm trước Nhân dân về các quyết định của mình.
Bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tạo lập cơ chế phù hợp, thuận lợi và đáng tin cậy để Nhân dân tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình hoạch định đường lối, chính sách, cũng như quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Đồng thời, nâng cao trách nhiệm tiếp thu, công khai thông tin và giải trình của các cơ quan Đảng, Nhà nước đối với những kiến nghị, đề xuất của Nhân dân.
Thực hiện đầy đủ các hình thức dân chủ, cả trực tiếp và đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở; kiên quyết khắc phục tình trạng dân chủ hình thức.
Phát huy dân chủ phải gắn với tăng cường trách nhiệm, giữ vững trật tự, kỷ cương xã hội; củng cố sự đồng thuận xã hội đi đôi với nâng cao ý thức trách nhiệm của công dân. Đồng thời, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền làm chủ của Nhân dân hoặc lợi dụng dân chủ để chống phá Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định chính trị – xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Thứ ba, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng ta khẳng định quan điểm nhất quán: kiên trì thực hiện đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; đồng thời giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích, bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội cũng như thụ hưởng thành quả phát triển. Việc phát huy dân chủ phải gắn với tăng cường trách nhiệm, giữ vững trật tự, kỷ cương, đề cao trách nhiệm của mỗi cá nhân và cộng đồng đối với quốc gia, dân tộc.
Đối với các giai cấp và tầng lớp xã hội, Đảng đề ra định hướng xây dựng, phát huy vai trò của từng lực lượng như: công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sĩ, phụ nữ, doanh nhân, thế hệ trẻ, cựu chiến binh, cựu công an nhân dân, người cao tuổi và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Trong công tác dân tộc, Đảng chủ trương bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ cùng phát triển; khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế – xã hội, vươn lên thoát nghèo và giảm nghèo bền vững.
Đối với công tác tôn giáo, Đảng nhấn mạnh việc bảo đảm và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng; đồng thời tăng cường vận động, tập hợp các tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành sống “tốt đời, đẹp đạo”, đồng hành cùng dân tộc, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động; đa dạng hóa các hình thức vận động, tập hợp Nhân dân; củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng mạnh về cơ sở, thực hiện hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Thứ tư, tiếp tục đổi mới công tác dân vận; nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Đây là những lực lượng nòng cốt trong việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tập hợp và phát huy các nguồn lực, năng lực sáng tạo của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cần xây dựng và triển khai hiệu quả Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045.
Đối với công tác dân vận, Đảng xác định phải tiếp tục đổi mới toàn diện, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đồng thời, đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động; phát huy vai trò của Nhân dân trong tham gia xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và Nhân dân, cũng như giữa các vùng, địa phương.
Cùng với đó, cần hoàn thiện chức năng tham mưu và tổ chức thực hiện của các cơ quan làm công tác dân vận; nâng cao hiệu quả việc Nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hoạt động của hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ, đảng viên; gắn công tác dân vận với thực hiện các chính sách phát triển kinh tế – xã hội, nhất là ở cơ sở.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cần hướng mạnh về cơ sở, gắn bó chặt chẽ với đoàn viên, hội viên; đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động theo mô hình tổ chức mới từ Trung ương đến địa phương, đáp ứng yêu cầu công tác vận động quần chúng trong tình hình mới.
Để phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới, cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm như: hoàn thiện cơ chế thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; bảo đảm quyền tham gia góp ý của Nhân dân trong xây dựng đường lối, chính sách; nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan Đảng, Nhà nước; cụ thể hóa các điều kiện thực hiện dân chủ ở cơ sở; xây dựng chính sách phù hợp đối với các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài; đẩy mạnh nghiên cứu thực tiễn về phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường công tác dân vận, củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân.
Như vậy, trong Văn kiện Đại hội XIV, Đảng ta tiếp tục khẳng định những nội dung nhất quán, xuyên suốt về vị trí và vai trò của việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc – coi đây là cội nguồn sức mạnh, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cách mạng.
Đồng thời, Đảng cũng bổ sung và phát triển một số nội dung mới, góp phần làm rõ hơn và sâu sắc hơn vấn đề này, phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Cụ thể, phạm vi và nội dung của đại đoàn kết toàn dân tộc được mở rộng; sức mạnh đại đoàn kết được đặt ở vị trí trung tâm trong mối quan hệ biện chứng với sức mạnh dân tộc; hệ thống chủ trương, giải pháp được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, toàn diện, bao quát các giai cấp, tầng lớp và mọi đối tượng trong xã hội.
Vận dụng quan điểm Đại hội XIV trong đấu tranh chống các thế lực lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay.
Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, đồng thời là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy, đây luôn là mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Trong đó, việc lợi dụng vấn đề dân tộc để phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là thủ đoạn thường xuyên, với âm mưu và phương thức ngày càng tinh vi, thâm độc.
Một là, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thế lực thù địch thường tìm cách khai thác những khác biệt về lịch sử, văn hóa, tôn giáo giữa các dân tộc; từ đó xuyên tạc, thổi phồng hoặc bịa đặt các yếu tố này thành mâu thuẫn, bất đồng, gây tâm lý nghi kỵ, mất lòng tin giữa các cộng đồng. Mục tiêu của chúng là làm suy yếu sự gắn kết xã hội, thậm chí kích động hận thù dân tộc.
Chúng đặc biệt tập trung chống phá tại các địa bàn chiến lược như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ…, nhằm kích động, chia rẽ quan hệ giữa người Kinh và đồng bào dân tộc thiểu số. Tại Tây Nguyên, các luận điệu sai trái như “người Kinh xâm lấn”, “Tây Nguyên là của người Thượng” được tung ra nhằm kích động tư tưởng ly khai, gây mất ổn định.
Thực tế đã cho thấy tính chất nguy hiểm của những âm mưu này. Điển hình là vụ việc ngày 11/6/2023 tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk, khi các đối tượng bị kích động, lôi kéo đã sử dụng vũ khí tấn công trụ sở Ủy ban nhân dân xã Ea Tiêu và Ea Ktur, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, ảnh hưởng lớn đến an ninh, trật tự và đời sống của Nhân dân.
Những hành vi trên thể hiện rõ bản chất thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch, không chỉ gây rối loạn xã hội mà còn đe dọa trực tiếp đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc – nền tảng vững chắc của sự ổn định và phát triển đất nước.
Hai là, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại đời sống Nhân dân, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ở Việt Nam, vấn đề dân tộc và tôn giáo có mối quan hệ chặt chẽ, đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các thế lực thù địch, phản động thường lợi dụng những khó khăn về kinh tế, xã hội, trình độ dân trí còn hạn chế để lôi kéo, dụ dỗ người dân tham gia các hoạt động mê tín dị đoan, tà đạo; từ đó từng bước gây ảnh hưởng và chi phối nhận thức, hành vi của họ.
Chúng khai thác các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng bản địa, xuyên tạc, thổi phồng nhằm tạo niềm tin sai lệch. Chẳng hạn, tại khu vực Tây Bắc, các luận điệu như “Vương quốc người Mông” hay “Đạo của Chúa Trời” được sử dụng để dụ dỗ đồng bào với những hứa hẹn phi thực tế về cuộc sống giàu có, không cần lao động. Tình trạng này cũng xuất hiện liên quan đến một số hoạt động tôn giáo như Tin Lành ở Điện Biên, Tây Nguyên hoặc trong cộng đồng người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Những thủ đoạn trên không chỉ làm xáo trộn đời sống xã hội mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị, ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ba là, thổi phồng, xuyên tạc, định hướng dư luận sai lệch về các vấn đề xã hội. Các thế lực thù địch, phản động lợi dụng những hạn chế trong quá trình thực thi chính sách, pháp luật, cũng như các hiện tượng tiêu cực trong xã hội để xuyên tạc, bóp méo sự thật. Đặc biệt, chúng khai thác tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên nhằm quy chụp, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của đội ngũ cán bộ và chính quyền các cấp.
Thông qua đó, chúng gieo rắc thông tin sai lệch, nói xấu chế độ, kích động tâm lý hoài nghi, làm suy giảm lòng tin của Nhân dân. Nguy hiểm hơn, các hoạt động này còn có thể làm nảy sinh tư tưởng bất mãn, kích động phản kháng trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, kích động, hô hào ly khai, thành lập các khu tự trị. Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh tuyên truyền, xuyên tạc nhằm tạo ra nhận thức sai lệch về cái gọi là “quyền tự quyết của các dân tộc thiểu số”, từ đó kích động yêu sách “tự trị”, gây chia rẽ giữa các cộng đồng dân tộc.
Chúng lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại, các mâu thuẫn, tranh chấp trong đời sống xã hội để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, lôi kéo, tập hợp lực lượng đòi ly khai, tự trị dưới các danh nghĩa như “Vương quốc Mông”, “Nhà nước Đề Ga”, hay trong một bộ phận người Khmer ở một số địa bàn.
Những hoạt động này tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị – xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của đất nước và từng địa phương, đồng thời phá hoại nghiêm trọng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nếu không được ngăn chặn, đấu tranh kịp thời, sẽ làm suy giảm sức mạnh dân tộc trong giai đoạn phát triển mới.
Để đấu tranh hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn trên, cần vận dụng quan điểm Đại hội XIV của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó trước hết là:
Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới.
Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống đặc biệt quý báu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Thực tiễn cách mạng đã chứng minh, chính tinh thần đoàn kết của toàn thể cộng đồng các dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn, giúp đất nước vượt qua mọi kẻ thù, dù hùng mạnh đến đâu. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đối mặt với nhiều thách thức trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là những âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá, việc phát huy truyền thống đại đoàn kết càng trở nên cấp thiết.
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm quyền, lợi ích và cơ hội phát triển cho các dân tộc, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh việc ban hành chủ trương đúng đắn, cần chú trọng khâu tổ chức thực hiện, tăng cường giám sát để các chính sách thực sự đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.
Đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, hợp tác giữa các dân tộc thông qua các chương trình, sự kiện văn hóa. Những hoạt động này không chỉ góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống mà còn tăng cường sự hiểu biết, gắn kết giữa các cộng đồng, củng cố tinh thần đoàn kết và đồng thuận xã hội.
Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác và kỹ năng đấu tranh cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong việc nhận diện, phòng ngừa và đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng. Đây là yếu tố quan trọng nhằm bảo vệ vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.
Trong thời gian tới, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ tiếp tục lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá Đảng và Nhà nước với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, thâm độc. Đáng chú ý, chúng triệt để khai thác những hạn chế trong nhận thức, sự chủ quan, thiếu cảnh giác của một bộ phận cán bộ, lãnh đạo từ trung ương đến địa phương ở một số nơi để xuyên tạc, kích động, gây mất ổn định xã hội.
Do đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải bảo đảm sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị, trước hết từ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; chủ động nhận diện đúng, đầy đủ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; kiên quyết khắc phục tư tưởng chủ quan, lơ là; thực hiện hiệu quả phương châm “phòng ngừa từ sớm, từ xa”, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số, cần nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động nhận biết và kiên quyết không để bị lôi kéo, kích động. Hệ thống chính trị cơ sở cần đẩy mạnh tuyên truyền, phát huy vai trò của Nhân dân trong phát hiện, phối hợp ngăn chặn các hành vi chống phá ngay từ cơ sở.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục phát triển toàn diện kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh; đổi mới công tác dân vận; nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Đồng thời, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường năng lực cho các lực lượng chức năng để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
Có thể khẳng định rằng, chỉ khi giữ vững và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, gắn với tinh thần cảnh giác cách mạng và chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, chúng ta mới có thể vô hiệu hóa mọi âm mưu chia rẽ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và đưa đất nước phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.
Đại tá, ThS Nguyễn Công Huynh – Trung tá Vũ Phúc Giới/Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng.
Tài liệu tham khảo:
– Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập1,2.


