Thứ Bảy, Tháng 5 30, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” – tư duy giữ nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946



ĐNA -

Cuối tháng 5/1946, trước khi sang Pháp trong nỗ lực cứu vãn nền hòa bình non trẻ của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao quyền điều hành đất nước cho Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng và căn dặn: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Không chỉ là lời gửi gắm chính trị, đó còn là sự kết tinh tư duy chiến lược của Người trong thời khắc vận mệnh đất nước đứng trước thử thách, đặt nền tảng cho nghệ thuật lãnh đạo, đối ngoại và bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam suốt nhiều thập niên sau này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

Thời khắc lịch sử sinh ra tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh vô cùng hiểm nghèo. Chính quyền cách mạng non trẻ phải cùng lúc đối mặt với nạn đói khủng khiếp làm hơn hai triệu đồng bào thiệt mạng, ngân khố quốc gia gần như trống rỗng, hơn 90% dân số mù chữ và bộ máy nhà nước còn rất sơ khai. Trong khi đó, hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch kéo vào miền Bắc với danh nghĩa giải giáp quân Nhật nhưng thực chất hậu thuẫn cho các lực lượng phản động chống phá cách mạng. Ở miền Nam, thực dân Pháp nổ súng tái chiếm Nam Bộ từ ngày 23/9/1945, âm mưu đưa Việt Nam trở lại ách thuộc địa. Đất nước đứng trước tình thế mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng gọi là “ngàn cân treo sợi tóc”.

Trong hoàn cảnh ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rằng nếu nóng vội đối đầu quân sự cùng lúc với nhiều kẻ thù thì nền độc lập non trẻ có nguy cơ bị bóp nghẹt ngay từ những ngày đầu. Chính vì vậy, Người lựa chọn con đường đàm phán để tìm kiếm khả năng hòa bình cuối cùng cho dân tộc. Việc ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 với Pháp là một bước đi chiến lược nhằm buộc quân Tưởng rút khỏi miền Bắc, tránh cho cách mạng rơi vào thế cùng lúc phải đối đầu với nhiều lực lượng nguy hiểm. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định sang Pháp tham dự Hội nghị Fontainebleau với hy vọng cứu vãn nền hòa bình đang vô cùng mong manh.

Đó là một chuyến đi đầy hiểm nguy. Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ phía trước là vô vàn khó khăn, rằng thực dân Pháp chưa bao giờ từ bỏ dã tâm xâm lược Việt Nam. Người cũng hiểu tình hình trong nước có thể biến động bất cứ lúc nào khi Người vắng mặt. Chính trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt ấy, cuối tháng 5/1946, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao quyền điều hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng, một chí sĩ yêu nước nổi tiếng, có uy tín lớn trong nhân dân dù không phải đảng viên cộng sản. Trước lúc chia tay, Người căn dặn cụ Huỳnh bằng một câu ngắn gọn mà hàm chứa cả tư duy chiến lược giữ nước: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Đây không phải một lời khuyên mang tính ứng xử thông thường, mà là chỉ đạo chiến lược đối với việc giữ vững vận mệnh quốc gia trong thời điểm cam go. “Bất biến” là độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, chính quyền cách mạng và lợi ích tối cao của nhân dân; còn “vạn biến” là những biến động phức tạp trên các lĩnh vực chính trị, quân sự và ngoại giao. Từ đó, Hồ Chí Minh xác lập một nguyên tắc có giá trị bền vững: kiên định mục tiêu chiến lược, đồng thời linh hoạt về sách lược để ứng phó hiệu quả với mọi thay đổi của tình hình. Tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” vì thế không chỉ là biểu hiện tiêu biểu của tư duy chiến lược Hồ Chí Minh, mà còn được xem là một trong những đỉnh cao của trí tuệ chính trị Hồ Chí Minh trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước.

Bác Hồ chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám tại lán Khuổi Nậm (Pắc Pó). Tranh: T.L

“Cái bất biến” – nguyên tắc tối thượng trong tư duy Hồ Chí Minh
Trong toàn bộ tư duy chính trị và đối ngoại của Hồ Chí Minh, “cái bất biến” trước hết chính là độc lập dân tộc. Ngay trong Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam 1945, Người đã khẳng định đanh thép trước thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Đây không chỉ là lời tuyên bố khai sinh nước Việt Nam mới mà còn là nguyên tắc cốt lõi, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, mọi sách lược mềm dẻo của Người trong năm 1946 đều nhằm mục tiêu bảo vệ nền độc lập dân tộc, chứ không phải sự nhân nhượng vô nguyên tắc.

“Cái bất biến” còn thể hiện ở quyết tâm giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ vừa giành được sau hàng chục năm đấu tranh gian khổ. Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng nếu chính quyền cách mạng sụp đổ, dân tộc sẽ một lần nữa rơi vào ách nô lệ. Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn kiên định bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo vệ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giữ gìn thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Đó là giới hạn không bao giờ được phép đánh đổi hay nhân nhượng.

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, “cái bất biến” còn là lợi ích tối cao của nhân dân. Người yêu chuộng hòa bình vì thấu hiểu rằng chiến tranh sẽ đem lại đau thương, mất mát cho đồng bào. Việc đàm phán với Pháp năm 1946 không xuất phát từ sự e ngại, mà từ mong muốn tránh cho nhân dân một cuộc chiến khi đất nước chưa đủ điều kiện chuẩn bị. Tư tưởng ấy cho thấy chiều sâu nhân văn đặc biệt của Người, một vị lãnh tụ luôn đặt sinh mệnh, hạnh phúc của nhân dân lên trên hết.

Đặc biệt, “cái bất biến” còn được thể hiện sâu sắc qua tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh. Việc Người giao quyền điều hành đất nước cho Huỳnh Thúc Kháng là minh chứng rõ nét cho tư duy đặt lợi ích quốc gia lên trên mọi khác biệt. Người không đánh giá con người qua thành phần hay xuất thân, mà bằng lòng yêu nước và khả năng cống hiến cho dân tộc. Chính tư tưởng đại đoàn kết ấy đã góp phần tập hợp sức mạnh toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng để bảo vệ nền độc lập non trẻ của đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) trong chính phủ đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ảnh tư liệu.

“Ứng vạn biến” – nghệ thuật mềm dẻo của một nhà chiến lược kiệt xuất
Nếu “cái bất biến” là nguyên tắc cốt lõi thì “ứng vạn biến” chính là nghệ thuật hành động linh hoạt và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Người nhận thức rõ rằng trong hoàn cảnh năm 1946, cách mạng Việt Nam chưa đủ điều kiện để bước ngay vào một cuộc chiến tranh tổng lực với thực dân Pháp. Vì vậy, cần phải mềm dẻo về sách lược để tránh đưa đất nước vào thế bất lợi. Chủ trương “hòa để tiến” chính là biểu hiện tiêu biểu cho tư duy ấy.

Việc ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 là minh chứng rõ nét cho nghệ thuật “ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh. Người chấp nhận những nhân nhượng có giới hạn với Pháp nhằm buộc quân Tưởng rút khỏi miền Bắc, qua đó giảm nguy cơ phải đối đầu cùng lúc với nhiều kẻ thù. Đây là quyết định vô cùng khó khăn, bởi thời điểm đó không ít người chưa thấu hiểu hết ý nghĩa chiến lược của sự mềm dẻo này. Tuy nhiên, với tầm nhìn xa trông rộng, Người hiểu rằng giữ được thời gian hòa hoãn cũng chính là giữ lấy cơ hội sống còn cho cách mạng Việt Nam.

“Ứng vạn biến” còn thể hiện ở nghệ thuật tranh thủ từng ngày, từng giờ để chuẩn bị lực lượng lâu dài cho dân tộc. Trong thời gian hòa hoãn, Chính phủ cách mạng tập trung củng cố bộ máy nhà nước, xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển kinh tế và chuẩn bị cơ sở vật chất cho cuộc kháng chiến có thể bùng nổ trong tương lai. Chính khoảng thời gian quý giá ấy đã tạo điều kiện để Việt Nam có sự chuẩn bị vững vàng hơn trước khi bước vào cuộc Toàn quốc kháng chiến cuối năm 1946.

Trong hoạt động đối ngoại, tư duy “ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh còn được thể hiện qua khả năng kết hợp hài hòa giữa ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân. Trong thời gian ở Pháp, Người đã gặp gỡ nhiều tầng lớp nhân dân, trí thức, nhà báo và các lực lượng tiến bộ để đưa tiếng nói chính nghĩa của Việt Nam ra thế giới. Người luôn phân biệt rõ nhân dân Pháp với giới thực dân hiếu chiến, từ đó tranh thủ sự đồng tình của các lực lượng yêu chuộng hòa bình. Chính sự mềm dẻo nhưng vẫn kiên định về nguyên tắc ấy đã tạo nên bản sắc đặc biệt của nền ngoại giao Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Chính phủ Việt Nam đàm phán tại Fontainebleau

Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng – người thực thi tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, cụ Huỳnh Thúc Kháng là biểu tượng tiêu biểu của lòng yêu nước, khí tiết và nhân cách lớn. Là một chí sĩ nổi tiếng của phong trào Duy Tân, cụ được nhân dân kính trọng bởi sự thanh liêm, cương trực và tinh thần dân tộc sâu sắc. Dù không phải là đảng viên cộng sản, cụ vẫn được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt tin tưởng mời tham gia Chính phủ Liên hiệp và giao trọng trách Quyền Chủ tịch nước khi Người sang Pháp năm 1946. Điều đó cho thấy tầm vóc lớn lao trong tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên mọi khác biệt về quan điểm hay thành phần chính trị.

Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp, cụ Huỳnh Thúc Kháng không chỉ thay mặt điều hành Chính phủ mà còn trực tiếp thực thi tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong thực tiễn. Giữa lúc tình hình trong nước vô cùng phức tạp và nhiều biến động, cụ vẫn giữ vững được sự ổn định chính trị, duy trì hoạt động thông suốt của bộ máy nhà nước và bảo đảm khối đại đoàn kết dân tộc không bị chia rẽ. Sự điềm tĩnh, kiên định và bản lĩnh của cụ đã trở thành điểm tựa quan trọng đối với chính quyền cách mạng non trẻ.

Điều đặc biệt là cụ Huỳnh Thúc Kháng đã vận dụng rất đúng tinh thần mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm. Đối với những lực lượng còn có thể tranh thủ và đoàn kết, cụ luôn thể hiện thái độ mềm dẻo, bao dung và khéo léo trong ứng xử. Nhưng trước các thế lực phản cách mạng có âm mưu chống phá chính quyền, cụ lại hết sức kiên quyết và dứt khoát. Tiêu biểu là vụ Ôn Như Hầu tháng 7 năm 1946, khi lực lượng công an tiến hành khám xét trụ sở Việt Quốc – Việt Cách, phát hiện nhiều tài liệu phản động, vũ khí cùng nơi giam giữ người trái phép. Việc xử lý kịp thời vụ việc đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chính quyền cách mạng và giữ vững trật tự xã hội.

Vai trò của cụ Huỳnh Thúc Kháng cho thấy giá trị thực tiễn sâu sắc của tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Đây không chỉ là tư duy chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn trở thành phương châm hành động cụ thể của Chính phủ cách mạng trong thời điểm sinh tử của dân tộc. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ngoài và Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng ở trong nước đã trở thành biểu tượng đẹp của bản lĩnh chính trị, của tinh thần đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần bảo vệ vững chắc nền độc lập non trẻ của Việt Nam.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng và Đội trinh sát đặc biệt, đơn vị chủ chốt trấn áp bọn phản động Quốc dân đảng ngày 12/7/1946. Ảnh tư liệu.

“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong hành trình giữ hòa bình năm 1946
Tại Pháp, Hồ Chí Minh đã tiến hành nhiều hoạt động ngoại giao với nỗ lực cao nhất nhằm cứu vãn hòa bình cho dân tộc Việt Nam. Người gặp gỡ các chính khách, trí thức, nhà báo cùng nhiều tổ chức tiến bộ của Pháp để trình bày lập trường chính nghĩa của Việt Nam trước dư luận quốc tế. Hình ảnh vị Chủ tịch nước giản dị, chân thành và yêu chuộng hòa bình đã tạo nên sự xúc động mạnh mẽ trong lòng nhân dân Pháp cũng như bạn bè quốc tế. Trong mọi cuộc tiếp xúc, Người luôn thể hiện thiện chí mong muốn xây dựng mối quan hệ hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp trên tinh thần bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.

Tuy nhiên, tại Hội nghị Fontainebleau, lập trường đòi độc lập và thống nhất của Việt Nam đã vấp phải sự ngoan cố của các thế lực thực dân hiếu chiến. Phía Pháp vẫn nuôi tham vọng duy trì ách thống trị tại Đông Dương, khiến các cuộc đàm phán nhiều lần rơi vào bế tắc. Trong hoàn cảnh đó, Hồ Chí Minh vẫn kiên trì đấu tranh bằng lý lẽ, bằng chính nghĩa và bằng thiện chí hòa bình, đồng thời kiên quyết giữ vững nguyên tắc độc lập dân tộc.

Trước nguy cơ chiến tranh ngày càng hiện hữu, ngày 14/9/1946, Hồ Chí Minh đã ký Tạm ước Việt – Pháp 14/9/1946 với mục tiêu kéo dài thêm thời gian hòa bình cho đất nước. Đây là một quyết định vô cùng khó khăn nhưng thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc của Người. Hồ Chí Minh hiểu rằng Việt Nam cần thêm thời gian để củng cố lực lượng và chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh có thể không tránh khỏi. Vì vậy, việc ký Tạm ước không phải là sự nhân nhượng về nguyên tắc, mà là một bước lùi chiến lược nhằm bảo vệ lợi ích lâu dài của dân tộc.

Những nỗ lực ngoại giao trong năm 1946 cho thấy Hồ Chí Minh là hiện thân tiêu biểu của tư tưởng yêu chuộng hòa bình nhưng tuyệt đối không khuất phục. Việt Nam mong muốn hòa bình để xây dựng đất nước, nhưng không bao giờ chấp nhận đánh đổi độc lập dân tộc. Khi mọi khả năng hòa hoãn không còn, Người đã ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến với ý chí sắt đá: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó chính là sự thống nhất sâu sắc giữa “cái bất biến” và “ứng vạn biến” trong tư duy chính trị và nghệ thuật lãnh đạo của Hồ Chí Minh.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng và Nhà tưởng niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, Quảng Nam (cũ).

Giá trị thời đại của tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”
Trải qua gần 80 năm, tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị thời đại và tiếp tục soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Đó không chỉ là một phương châm ứng xử chính trị mà còn là kết tinh rực rỡ của trí tuệ, bản lĩnh và nghệ thuật lãnh đạo thiên tài của Người. Trong những thời khắc cam go nhất của lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh luôn biết kết hợp hài hòa giữa sự kiên định về nguyên tắc với sự linh hoạt về sách lược, giữa mục tiêu chiến lược lâu dài với những quyết định mềm dẻo, sáng tạo phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Chính điều đó đã giúp cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn thử thách để bảo vệ nền độc lập non trẻ của dân tộc.

Tầm vóc thiên tài trong nghệ thuật lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở khả năng nhìn xa trông rộng và nắm bắt chính xác xu thế vận động của thời đại. Người luôn đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết nhưng không rơi vào tư duy cứng nhắc hay đối đầu cực đoan. Hồ Chí Minh hiểu rằng sức mạnh của một dân tộc không chỉ nằm ở ý chí chiến đấu mà còn ở khả năng tranh thủ hòa bình, tập hợp lực lượng và tạo dựng sự đồng thuận trong nước cũng như quốc tế. Vì vậy, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn thể hiện bản lĩnh của một nhà lãnh đạo kiên cường nhưng giàu tính nhân văn, quyết đoán nhưng vô cùng mềm dẻo và linh hoạt.

Ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng ấy trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Trường phái “Ngoại giao cây tre Việt Nam” chính là sự vận dụng sinh động tinh thần “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong điều kiện mới: gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển; kiên định lợi ích quốc gia – dân tộc nhưng linh hoạt trong phương thức ứng xử với thế giới. Điều đó cho thấy giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ đối với lịch sử mà còn đối với hiện tại và tương lai của đất nước.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, tư tưởng ấy tiếp tục là kim chỉ nam để Việt Nam giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữa bản lĩnh kiên định với nghệ thuật ứng xử mềm dẻo đã giúp đất nước giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững.

Nhìn lại năm 1946 càng thấy rõ tầm vóc vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà yêu nước vĩ đại, lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc Việt Nam. Tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” không chỉ giúp cách mạng Việt Nam vượt qua thời khắc hiểm nghèo nhất của buổi đầu lập nước mà còn trở thành di sản chiến lược vô giá cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đó chính là ánh sáng trí tuệ Hồ Chí Minh, một trí tuệ lớn của dân tộc và thời đại mãi mãi soi đường cho Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng đất nước phồn vinh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và hội nhập quốc tế trong thời đại mới.

Quyết định chiến lược ngày 27/5/1946 và tầm nhìn lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời khắc hiểm nghèo của dân tộc

Thế Nguyễn – Minh Văn