Thứ Năm, Tháng 10 1, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Xuất khẩu gạo: Giấy phép phải gắn với năng lực thật



ĐNA -

Nghị định 365/2026/NĐ-CP, hiệu lực từ 1/10/2026, siết điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo theo hướng giấy phép phải gắn với năng lực thật, từ kho, cơ sở xay xát đến vùng nguyên liệu và tín nhiệm thương nhân. Với Đồng bằng sông Cửu Long, yêu cầu đặt ra là liên kết, bao tiêu phải thực chất, bảo đảm quyền lợi nông dân. Cần Thơ cần đi đầu trong hậu kiểm, kết nối dữ liệu, kiểm soát chuỗi cung ứng và hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu bền vững, để giá trị xuất khẩu trở lại với người trồng lúa.

Kiểm tra năng lực chế biến, kho chứa và hoạt động xuất hàng tại cơ sở kinh doanh lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh minh họa tạo bằng AI.

Giấy phép phải gắn với năng lực thật
Chính phủ ban hành Nghị định 365/2026/NĐ-CP ngày 23/9/2026, thay thế Nghị định 107/2018/NĐ-CP và Nghị định 01/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/10/2026. Thời gian chuyển tiếp ngắn đòi hỏi cơ quan quản lý, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các địa phương vùng lúa khẩn trương rà soát trách nhiệm, chuẩn bị dữ liệu và điều chỉnh quy trình.

Thương nhân được kinh doanh xuất khẩu gạo khi có ít nhất một kho chuyên dùng chứa thóc, gạo và một cơ sở xay xát đáp ứng quy định về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Kho và cơ sở xay xát có thể thuộc sở hữu hoặc được thuê bằng hợp đồng văn bản, với thời hạn phù hợp thời hạn giấy chứng nhận.

Điểm siết đáng chú ý là việc sử dụng tài sản đã kê khai. Thương nhân có giấy chứng nhận không được cho thương nhân khác thuê kho, cơ sở xay xát đã được Bộ Công Thương ghi trong giấy chứng nhận để làm điều kiện xin cấp giấy chứng nhận khác. Quy định này ngăn một năng lực vật chất được sử dụng cho nhiều hồ sơ, qua đó xác định doanh nghiệp thực sự có năng lực lưu kho, xay xát và thực hiện hợp đồng.

Nghị định giao UBND cấp tỉnh nơi có kho chuyên dùng chủ trì hậu kiểm kho và cơ sở xay xát trong vòng 45 ngày kể từ ngày Bộ Công Thương cấp giấy chứng nhận. Hậu kiểm cần xác định địa chỉ, quyền sử dụng, thời hạn thuê, công suất, điều kiện an toàn thực phẩm, phòng cháy, khả năng vận hành và việc tài sản có được sử dụng cho hồ sơ khác hay không.

Cần Thơ là trung tâm chế biến, thương mại, logistics và nghiên cứu lúa gạo của vùng, với nhiều doanh nghiệp xuất khẩu, hệ thống cảng và cơ sở khoa học hỗ trợ từ giống, canh tác đến chế biến. Vai trò này đòi hỏi thành phố xây dựng quy trình hậu kiểm thống nhất, tăng phối hợp giữa các ngành công thương, nông nghiệp, môi trường, thuế, phòng cháy và chính quyền cơ sở, tránh kiểm tra chồng chéo nhưng dữ liệu vẫn rời rạc.

Danh mục kho, cơ sở xay xát phục vụ điều kiện kinh doanh nên được quản lý bằng mã địa điểm, gắn với thông tin về chủ sở hữu, bên thuê, thời hạn hợp đồng, công suất, trạng thái hoạt động, kết quả kiểm tra và hồ sơ liên quan. Dữ liệu thuộc phạm vi công khai cần thuận tiện tra cứu; thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh được phân quyền. Khi Bộ Công Thương cấp, sửa đổi hoặc thu hồi giấy chứng nhận, địa phương cần được cập nhật kịp thời để hậu kiểm đúng đối tượng.

Quyền kinh doanh đi cùng nghĩa vụ báo cáo và dự trữ. Nghị định quy định các trường hợp Bộ Công Thương xem xét thu hồi giấy chứng nhận như kê khai sai về kho hoặc cơ sở xay xát; không duy trì điều kiện kinh doanh, mức dự trữ; không thực hiện chỉ đạo điều hành của cơ quan có thẩm quyền; hoặc quá 45 ngày kể từ khi có văn bản đôn đốc vẫn không gửi báo cáo theo quy định. Chế tài này tăng trách nhiệm đối với thông tin doanh nghiệp kê khai.

Quản lý nhập khẩu gạo cũng được quy định rõ hơn. Thương nhân nhập khẩu phải thông báo kế hoạch với Bộ Công Thương; trong vòng 45 ngày kể từ ngày Nghị định có hiệu lực, doanh nghiệp đang hoạt động phải đăng ký kế hoạch theo quy định. Đây là cơ sở để cơ quan điều hành nắm lượng, chủng loại, thời điểm và mục đích nhập khẩu, phục vụ theo dõi cung cầu trong nước.

Nghị định tiếp tục dành cơ chế riêng cho sản phẩm chuyên biệt. Thương nhân xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ, gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng không phải đáp ứng điều kiện kinh doanh tại khoản 1 Điều 4, không phải có giấy chứng nhận, thực hiện dự trữ lưu thông và chế độ báo cáo như thương nhân xuất khẩu thông thường. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải tuân thủ pháp luật liên quan và chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm đã công bố.

Thu hoạch lúa trên cánh đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Chấm điểm doanh nghiệp phải nâng được giá trị hạt lúa
Một thay đổi có tác động dài hạn là đánh giá mức độ tín nhiệm thương nhân xuất khẩu gạo, áp dụng từ ngày 1/1/2028. Nghị định đưa ra 10 nhóm tiêu chí, từ tín dụng, thuế, hải quan đến liên kết sản xuất, bao tiêu, thương hiệu, kết quả xuất khẩu, báo cáo, dự trữ, kho và cơ sở xay xát, thu mua lúa của nông dân, logistics, an toàn lao động, phòng cháy và phòng, chống thiên tai.

Thang điểm từ 0 đến 100, chia thành năm mức tín nhiệm. Các bộ, ngành và UBND cấp tỉnh đánh giá theo chức năng, gửi kết quả về Bộ Công Thương chậm nhất ngày 30/6 hằng năm. Bộ Công Thương thành lập hội đồng tổng hợp, đánh giá và công bố mức độ tín nhiệm. Khoảng thời gian chuẩn bị đến năm 2028 cần được tận dụng để xây dựng dữ liệu đủ tin cậy.

Điểm tín nhiệm chỉ có ý nghĩa khi phản ánh đúng hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp có kho lớn nhưng chậm thanh toán tiền lúa, không thực hiện đúng hợp đồng hoặc thu mua ngoài vùng đã cam kết cần được phân biệt với doanh nghiệp giữ đúng thỏa thuận. Ngược lại, doanh nghiệp tổ chức giống, kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc, thu mua đúng tiêu chuẩn và chia sẻ lợi ích với nông dân cần được ghi nhận bằng dữ liệu có thể kiểm chứng.

Hợp tác xã và nông dân cần có kênh cung cấp dữ liệu phục vụ đánh giá liên kết. Hợp đồng phải làm rõ diện tích, giống, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, cách xác định giá, thời điểm giao nhận, tỷ lệ hao hụt, trách nhiệm khi xảy ra thiên tai và phương thức giải quyết tranh chấp. Biên bản giao nhận, phiếu cân, kết quả kiểm tra chất lượng và chứng từ thanh toán là những căn cứ quan trọng để xác thực việc thực hiện hợp đồng.

Cần Thơ có thể chọn các vùng tham gia Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp để chuẩn hóa dữ liệu chuỗi. Mã vùng trồng, nhật ký canh tác, lượng vật tư, kết quả đo phát thải, sản lượng, hợp đồng và giao nhận cần được liên thông theo quyền truy cập, hạn chế việc doanh nghiệp phải nhập lại cùng một dữ liệu trên nhiều hệ thống. Hợp tác xã cần được đào tạo, hỗ trợ thiết bị để ghi nhận dữ liệu ngay từ vụ sản xuất.

Năm 2024, xuất khẩu gạo Việt Nam đạt kỷ lục 9,03 triệu tấn, trị giá 5,6 tỷ USD. Hết tháng 5/2026, lượng xuất khẩu đạt khoảng 4,5 triệu tấn, trị giá 2,09 tỷ USD; lượng tăng 6,6% nhưng giá trị giảm 3,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Với Đồng bằng sông Cửu Long, cần chuyển mạnh từ bán khối lượng sang nâng giá trị bằng chất lượng, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải. Cần Thơ từng xuất khẩu lô gạo carbon thấp sang Nhật Bản, tạo tiền đề phát triển phân khúc có tiêu chuẩn rõ ràng. Chính quyền cần hỗ trợ đo đạc, chứng nhận, bảo hộ thương hiệu và xúc tiến thị trường; doanh nghiệp cần chia sẻ phần giá trị tăng thêm với vùng nguyên liệu theo thỏa thuận minh bạch.

Quản lý nhà nước cần dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro, tập trung vào các trường hợp kê khai bất nhất, sử dụng trùng kho, chậm báo cáo, thiếu dự trữ hoặc thường xuyên xảy ra tranh chấp liên kết. Doanh nghiệp tuân thủ tốt cần hạn chế kiểm tra trùng lặp và được tiếp cận các chính sách hỗ trợ theo quy định.

Địa phương đồng thời phải theo dõi tác động đến nông dân thông qua các chỉ tiêu như tỷ lệ diện tích thực hiện đúng hợp đồng, thời gian thanh toán, chênh lệch giá theo chất lượng, tỷ lệ lúa bị từ chối và nguyên nhân, số tranh chấp được giải quyết. Điểm tín nhiệm chỉ thực sự có giá trị khi đi cùng liên kết ổn định và lợi ích thực tế của người trồng lúa.

Nghị định 365 mở rộng hành lang quản lý đối với cả xuất khẩu và nhập khẩu gạo, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực, trách nhiệm và mức độ tín nhiệm của thương nhân. Với Cần Thơ và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, điều quan trọng là đưa quy định vào thực tế bằng năng lực thật, dữ liệu minh bạch, hợp đồng được thực hiện đúng cam kết và liên kết vùng nguyên liệu bền vững.

Giấy chứng nhận xác lập điều kiện kinh doanh, điểm tín nhiệm phản ánh mức độ tuân thủ, còn hiệu quả chính sách phải được đo bằng chuyển biến của cả chuỗi giá trị. Hậu kiểm chặt chẽ cần đi cùng hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn hóa vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, nâng chất lượng và mở rộng thị trường. Khi doanh nghiệp có trách nhiệm hơn với vùng nguyên liệu, hợp tác xã tham gia thực chất và nông dân có vị thế rõ hơn trong hợp đồng, giá trị xuất khẩu mới có thể trở lại nhiều hơn với người sản xuất.

Đích đến không chỉ là quản lý tốt hơn hoạt động kinh doanh gạo, mà còn là nâng giá trị hạt lúa Đồng bằng sông Cửu Long: doanh nghiệp giữ vững thị trường, chuỗi cung ứng phát triển bền vững và người trồng lúa được hưởng lợi xứng đáng từ giá trị mình tạo ra.

Trọng Nguyễn