Thứ Ba, Tháng 10 20, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Đồng bằng sông Cửu Long: Từ chuyển giao đến làm chủ kỹ thuật ghép tạng



ĐNA -

Bộ Y tế ban hành Công văn 1548/BYT-KCB và 4893/BYT-KCB, yêu cầu các cơ sở ghép tạng rà soát, chấn chỉnh quy trình điều phối, tiếp nhận, thẩm định trong hoạt động ghép mô, bộ phận cơ thể người. Trong bối cảnh Cần Thơ từng bước phát triển năng lực ghép thận, hướng tới các kỹ thuật ghép tạng cao hơn, yêu cầu đặt ra là không chỉ nâng số ca ghép mà còn phải kiểm soát chặt chẽ quy trình chuyên môn, nhân lực, hậu kiểm và chất lượng sau ghép, bảo đảm đúng quy định.

GS.TS.BS Phạm Như Hiệp, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế, trực tiếp theo dõi ê-kíp thực hiện ca ghép thận. Ảnh: SYT Cần Thơ.

Làm chủ kỹ thuật phải đi cùng làm chủ quy trình
Ghép tạng là kỹ thuật khó, đòi hỏi năng lực không chỉ trong phòng mổ mà xuyên suốt quá trình từ lựa chọn người hiến, đánh giá người nhận, xét nghiệm tương hợp, hội chẩn đến gây mê, hồi sức và theo dõi sau ghép. Sau phẫu thuật, người bệnh tiếp tục cần dùng thuốc chống thải ghép, kiểm soát nguy cơ nhiễm trùng và tái khám định kỳ. Vì vậy, năng lực ghép tạng không thể chỉ đo bằng số ca phẫu thuật mà còn phải được đánh giá qua khả năng vận hành đồng bộ, an toàn và đúng quy định của toàn bộ quy trình.

Năm 2026, Bộ Y tế liên tiếp yêu cầu các cơ sở ghép tạng rà soát, chấn chỉnh quy trình chuyên môn, đặc biệt trong khâu tiếp nhận, thẩm định và xác minh thông tin người hiến, người nhận. Hồ sơ phải đầy đủ, hợp pháp, minh bạch; các trường hợp chưa hoàn chỉnh hoặc có dấu hiệu nghi vấn liên quan đến môi giới, mua bán trái phép mô, tạng không được thực hiện ghép.

Bộ Y tế cũng nhấn mạnh việc tuân thủ quy định về điều phối mô, tạng. Trung tâm Điều phối Quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người là đơn vị có chức năng điều phối việc lấy, ghép, bảo quản, lưu giữ và vận chuyển mô, bộ phận cơ thể người. Các cơ sở y tế phải rà soát quy trình, tránh tình trạng tự ý kết nối, điều phối không đúng quy định.

Những yêu cầu này cho thấy việc quản lý ghép tạng không dừng ở thời điểm một bệnh viện được công nhận đủ điều kiện. Các điều kiện về nhân lực, trang thiết bị và quy trình chuyên môn phải được duy trì, cập nhật trong suốt quá trình hoạt động. Đặc biệt, với các kỹ thuật được chuyển giao, đội ngũ tiếp nhận cần từng bước nâng cao khả năng tự vận hành khi sự hỗ trợ của chuyên gia tuyến trên giảm dần.

Với vai trò là bệnh viện tuyến cuối chủ chốt tại Đồng bằng sông Cửu Long, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kỹ thuật ghép thận tại khu vực. Bệnh viện nằm trong danh sách các cơ sở được Bộ Y tế công nhận đủ điều kiện lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người.

Sau thời gian được Bệnh viện Chợ Rẫy hỗ trợ chuyên môn trong quá trình triển khai ghép thận, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ đang tiếp tục thực hiện các quy trình và điều kiện chuyên môn để hướng tới khả năng tự chủ kỹ thuật. Tuy nhiên, mức độ hoàn tất chuyển giao cần được xác định trên cơ sở hồ sơ, biên bản nghiệm thu và các tài liệu chuyên môn liên quan giữa hai đơn vị.

Điều cần quan tâm không chỉ là bệnh viện đã thực hiện được bao nhiêu ca ghép mà còn là khả năng duy trì đầy đủ các điều kiện cần thiết, từ nhân lực, thiết bị, quy trình đến năng lực xử trí tình huống phát sinh. Làm chủ kỹ thuật chỉ thực sự bền vững khi đi cùng khả năng tự vận hành và kiểm soát chất lượng toàn bộ quá trình ghép.

Cuối tháng 9/2026, Bộ Y tế tiếp tục rà soát hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn ngành, đồng thời chấn chỉnh hoạt động đào tạo và cấp chứng chỉ kỹ thuật chuyên môn theo hướng tăng cường hậu kiểm năng lực thực tế. Đối với ghép tạng, chứng nhận đào tạo không thể thay thế khả năng thực hành và xử trí các tình huống chuyên môn.

Hậu kiểm cần trở thành khâu quan trọng nhằm bảo đảm các cơ sở ghép tạng duy trì năng lực thực chất. Cơ quan quản lý cần theo dõi những thay đổi về nhân sự chủ chốt, trang thiết bị, quy trình chuyên môn, hồ sơ người hiến và người nhận, hoạt động điều phối cũng như kết quả điều trị sau ghép. Công văn 1548/BYT-KCB cũng yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát và kịp thời xử lý vi phạm.

Việc đánh giá chất lượng không nên chỉ căn cứ vào giấy phép hoặc danh sách nhân sự mà cần xem xét các chỉ số chuyên môn như chức năng tạng ghép, tình trạng thải ghép, nhiễm trùng, biến chứng phẫu thuật, trường hợp phải can thiệp lại và sức khỏe của cả người hiến lẫn người nhận sau xuất viện. Một biến chứng riêng lẻ không đồng nghĩa với sai sót chuyên môn, nhưng những bất thường lặp lại cần được đánh giá trên cơ sở hồ sơ, dữ liệu và ý kiến chuyên môn.

Thông tin công bố ra xã hội cũng cần phản ánh đầy đủ hơn kết quả ghép tạng. Một ca được ghi nhận thành công ngay sau phẫu thuật mới phản ánh kết quả tại thời điểm đó; với ghép thận, chất lượng còn phụ thuộc vào chức năng thận ghép, nguy cơ thải ghép, nhiễm trùng và khả năng tuân thủ điều trị lâu dài.

Do đó, cần thống nhất tiêu chí báo cáo, theo dõi người bệnh tại các mốc sau ghép như ba tháng, sáu tháng và một năm. Cơ sở dữ liệu liên thông giữa bệnh viện ghép, Trung tâm Điều phối Quốc gia và cơ quan quản lý sẽ giúp giám sát quá trình từ nguồn tạng, người hiến, người nhận, đội ngũ thực hiện đến kết quả điều trị. Việc công khai thông tin cần dựa trên các chỉ số đã được kiểm chứng, đồng thời bảo đảm quyền riêng tư và dữ liệu cá nhân của người bệnh.

Phát triển kỹ thuật ghép thận tại Cần Thơ vì thế không chỉ là mở rộng danh mục kỹ thuật hay tăng số ca phẫu thuật. Yêu cầu cốt lõi là xây dựng được năng lực tự chủ đi đôi với quy trình minh bạch, cơ chế hậu kiểm hiệu quả và chất lượng điều trị được theo dõi lâu dài. Đây cũng là nền tảng để các cơ sở y tế tiến tới những kỹ thuật ghép tạng phức tạp hơn một cách an toàn và bền vững.

Toàn cảnh buổi hội chẩn ghép thận giữa ê-kíp Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ. Ảnh: SYT Cần Thơ

Từ ghép thận mở đường cho kỹ thuật cao của vùng
Với nhiều bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối ở Đồng bằng sông Cửu Long, điều trị chuyên sâu trước đây thường gắn với những chuyến đi lên Thành phố Hồ Chí Minh, kéo theo chi phí đi lại, ăn ở, mất ngày công và thời gian tái khám. Việc triển khai ghép thận tại Cần Thơ vì vậy mang ý nghĩa thiết thực, giúp người bệnh trong vùng có thêm cơ hội tiếp cận kỹ thuật cao gần nơi sinh sống.

Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ là đơn vị đầu tiên tại khu vực triển khai ghép thận sau quá trình chuẩn bị và tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật từ Bệnh viện Chợ Rẫy từ năm 2024. Đến năm 2026, bệnh viện tiếp tục duy trì kỹ thuật với sự hỗ trợ chuyên môn từ Bệnh viện Chợ Rẫy, đồng thời hướng tới phát triển các kỹ thuật ghép tạng cao hơn. Đây là bước đi phù hợp với định hướng xây dựng Cần Thơ thành trung tâm y tế chuyên sâu của vùng.

Năng lực ghép thận tại thành phố cũng đang từng bước mở rộng. Trong năm 2026, Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ tiếp tục tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật từ Bệnh viện Trung ương Huế. Ngày 8/10/2026, bệnh viện thực hiện thêm hai ca ghép thận từ người hiến sống, nâng tổng số ca trong quá trình tiếp nhận chuyển giao lên ba. Việc có thêm cơ sở triển khai kỹ thuật này cho thấy năng lực chuyên môn của thành phố đang được phát triển theo hướng mở rộng.

Tuy nhiên, một trung tâm y tế vùng không thể chỉ được đánh giá bằng số kỹ thuật cao được triển khai hay số ca phẫu thuật đã thực hiện. Ghép tạng đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa cấp cứu, hồi sức, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, lọc máu, kiểm soát nhiễm khuẩn và chăm sóc lâu dài sau ghép.

Năm 2026, hệ thống y tế Cần Thơ có nhiều thay đổi về tổ chức. Hai mươi trung tâm y tế khu vực được tổ chức lại thành các bệnh viện đa khoa khu vực; chức năng y tế dự phòng tiếp tục được sắp xếp theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Cùng với đó là các định hướng đầu tư bệnh án điện tử, cấp cứu ngoại viện, ung bướu, tim mạch và phát triển kỹ thuật chuyên sâu.

Những thay đổi này chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi gắn với khả năng chăm sóc liên tục cho người bệnh. Sau ghép thận, người bệnh cần xét nghiệm định kỳ, theo dõi chức năng thận, sử dụng thuốc chống thải ghép và được phát hiện sớm các dấu hiệu nhiễm trùng, biến chứng. Nếu bệnh viện khu vực đủ năng lực theo dõi và xử trí những vấn đề thường gặp, người bệnh có thể giảm số lần phải đến tuyến cuối; những trường hợp diễn biến phức tạp vẫn cần được chuyển tuyến kịp thời.

Ở chiều ngược lại, bệnh viện tuyến chuyên sâu cần tiếp tục đào tạo, chuyển giao kỹ thuật phù hợp và hỗ trợ chuyên môn cho tuyến dưới. Sự kết nối này vừa góp phần giảm tải cho bệnh viện tuyến cuối, vừa giúp người bệnh được chăm sóc gần nơi sinh sống mà vẫn bảo đảm an toàn.

Trong bối cảnh số cơ sở tham gia ghép tạng ngày càng tăng, yêu cầu quản lý của Bộ Y tế càng có ý nghĩa quan trọng. Các công văn ban hành trong năm 2026 nhấn mạnh việc rà soát quy trình chuyên môn, bảo đảm hồ sơ người hiến và người nhận minh bạch, thực hiện điều phối đúng thẩm quyền và tăng cường kiểm tra, giám sát. Đây không chỉ là yêu cầu chấn chỉnh mà còn là cơ sở để các cơ sở ghép tạng duy trì hoạt động đúng quy định, với chất lượng có thể kiểm chứng.

Cần Thơ đang từng bước tạo dựng nền tảng phát triển kỹ thuật cao, từ ghép thận đến định hướng tiếp cận những kỹ thuật ghép tạng phức tạp hơn. Tuy nhiên, chặng đường từ tiếp nhận chuyển giao đến làm chủ kỹ thuật không chỉ phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ phẫu thuật mà còn đòi hỏi quản trị bệnh viện hiệu quả, dữ liệu chất lượng đầy đủ, trách nhiệm giám sát của cơ quan quản lý và mạng lưới chăm sóc liên tục phía sau người bệnh.

Khi các mắt xích này vận hành đồng bộ, ghép thận mới có thể trở thành năng lực chuyên môn bền vững, tạo nền tảng để Cần Thơ nâng cao vai trò trung tâm y tế chuyên sâu của Đồng bằng sông Cửu Long.

Trọng Nguyễn

Bài viết cùng chuyên mục