Thứ Bảy, Tháng 11 7, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

9 nhiệm vụ, giải pháp phát triển đô thị thông minh quốc gia đến năm 2035



ĐNA -

Ngày 5/11/2026, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc ký Quyết định số 2116/QĐ-TTg phê duyệt Định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035. Đây được xem là cơ sở định hướng cho quá trình thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành đô thị tại Việt Nam trong giai đoạn tới.

Đến năm 2030, tạo chuyển biến căn bản trong quản trị và phát triển đô thị dựa trên dữ liệu
Mục tiêu đến năm 2030 là tạo chuyển biến căn bản trong phương thức quản trị và phát triển đô thị theo hướng dựa trên dữ liệu. Theo đó, chuyển từ phương thức quản lý, xử lý sự vụ và ứng dụng công nghệ riêng lẻ sang quản trị theo mục tiêu, có khả năng phân tích, dự báo, điều phối và đánh giá hiệu quả dựa trên kết quả, tác động cũng như năng lực giải quyết các vấn đề đô thị. Qua đó, nâng cao chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

Từng bước hình thành nền tảng thể chế, kiến trúc, dữ liệu, hệ sinh thái ứng dụng, dịch vụ và năng lực quản trị đô thị thông minh thống nhất, liên thông từ trung ương đến địa phương. Phát triển đô thị thông minh được tích hợp vào các khâu quy hoạch, đầu tư, xây dựng và vận hành đô thị; đồng thời hình thành các đô thị dẫn dắt và mô hình đô thị thông minh có khả năng đánh giá, nhân rộng. Các mục tiêu phát triển xanh, phát thải carbon thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu cũng được lồng ghép, góp phần nâng cao chất lượng sống, hiệu quả quản trị, khả năng chống chịu và năng lực cạnh tranh của hệ thống đô thị Việt Nam.

Đến năm 2030, 100% thành phố xây dựng và thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, Định hướng đặt ra một số chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030. Trong đó, 100% thành phố tổ chức xây dựng và thực hiện đề án phát triển đô thị thông minh, từng bước lồng ghép chuyển đổi số với chuyển đổi xanh. Đối với cấp tỉnh, việc xây dựng và thực hiện đề án được triển khai theo nhu cầu.

Về dữ liệu đô thị, 100% thành phố xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung theo kế hoạch; ưu tiên chuẩn hóa, làm sạch dữ liệu nền địa lý, đất đai, dân cư, quy hoạch và hạ tầng đô thị trước khi kết nối, chia sẻ theo quy định. Đồng thời, thí điểm nền tảng quản lý tích hợp không gian đô thị dựa trên dữ liệu. Các tỉnh lựa chọn đô thị thuộc tỉnh để triển khai theo nhu cầu.

Đối với dữ liệu quy hoạch và hạ tầng, 100% thành phố hình thành cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị, hạ tầng và không gian đô thị trên nền tảng GIS theo kế hoạch và danh mục ưu tiên trong đề án của địa phương. Các cơ sở dữ liệu này được cập nhật, kết nối; đồng thời thí điểm bản sao số nhằm giải quyết các bài toán cụ thể trong quản lý và phát triển đô thị. Các tỉnh cũng lựa chọn đô thị thuộc tỉnh để triển khai theo nhu cầu.

Tầm nhìn đến năm 2035: Hình thành hệ sinh thái dữ liệu đô thị liên thông, an toàn
Đến năm 2035, định hướng đặt mục tiêu cơ bản hình thành phương thức quản trị và phát triển đô thị dựa trên dữ liệu tại các đô thị lớn, đô thị trung tâm. Dữ liệu được kết nối, chia sẻ và khai thác như một nguồn lực phục vụ toàn diện các hoạt động quy hoạch, đầu tư, xây dựng, vận hành và phát triển đô thị. Các quyết định quản trị từng bước được hỗ trợ bởi hoạt động phân tích, dự báo, mô phỏng và ứng dụng công nghệ số tiên tiến.

Hình thành hệ sinh thái dữ liệu đô thị liên thông, an toàn và được khai thác hiệu quả; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm, điều phối liên ngành, phản ứng chính sách, duy trì hoạt động khi xảy ra sự cố và phục hồi nhanh.

Hướng tới năm 2035, các đô thị Việt Nam phấn đấu nâng cao chất lượng sống, khả năng chống chịu và năng lực cạnh tranh, đồng thời tham gia sâu hơn vào mạng lưới đổi mới sáng tạo và đô thị thông minh khu vực, quốc tế. Đặc biệt, định hướng phát triển các đô thị thông minh có khả năng duy trì hoạt động của hạ tầng và dịch vụ thiết yếu trong tình huống khẩn cấp, tình huống quốc phòng; đáp ứng yêu cầu phòng thủ dân sự, quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.

Phát triển đô thị thông minh theo đặc thù và mức độ sẵn sàng của từng đô thị
Định hướng phát triển đô thị thông minh được triển khai theo cấp độ trưởng thành và vai trò của từng đô thị. Trong đó, các thành phố, đô thị trung tâm vùng giữ vai trò dẫn dắt; các đô thị còn lại chủ động lựa chọn nội dung ưu tiên phù hợp với nhu cầu, mức độ sẵn sàng và nguồn lực thực tế.

Việc phát triển cũng được xác định trên cơ sở đặc thù không gian và chức năng của từng đô thị, bao gồm đô thị công nghiệp, logistics – cảng biển, du lịch, ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu, vùng sông nước, khu vực đô thị hiện hữu, khu vực phát triển mới, khu đô thị quy mô lớn và các loại hình đô thị đặc thù khác.

Một trong những yêu cầu trọng tâm là tích hợp các giải pháp thông minh xuyên suốt vòng đời quy hoạch, đầu tư, xây dựng và vận hành đô thị. Đối với các khu vực phát triển mới, giải pháp thông minh cần được tính toán ngay từ khâu quy hoạch, thiết kế. Trong khi đó, tại các khu vực đô thị hiện hữu, cần ưu tiên giải quyết những điểm nghẽn và vấn đề cấp thiết.

Định hướng cũng nhấn mạnh việc ưu tiên dữ liệu và khả năng liên thông, với các công nghệ như hệ thống thông tin địa lý (GIS), mô hình thông tin công trình (BIM/CIM), mô hình 3D, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và bản sao số. Việc ứng dụng cần căn cứ vào từng bài toán cụ thể, mức độ sẵn sàng của dữ liệu và hiệu quả dự kiến. Riêng với bản sao số, cần xác định rõ phạm vi, kịch bản vận hành và trách nhiệm cập nhật dữ liệu; không đồng nhất phát triển đô thị thông minh với việc ứng dụng một công nghệ hay triển khai một hệ thống cụ thể.

Đáng chú ý, quá trình triển khai phải lấy kết quả làm thước đo. Theo đó, mỗi chương trình, dự án và bài toán đô thị cần xác định rõ số liệu nền, mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, dữ liệu đầu vào, chỉ số kết quả đầu ra, chi phí vòng đời, cơ chế vận hành và trách nhiệm cập nhật dữ liệu. Đây là cơ sở để đánh giá hiệu quả thực chất, bảo đảm các giải pháp đô thị thông minh đáp ứng đúng nhu cầu và mang lại giá trị thiết thực.

9 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển đô thị thông minh
Quyết định xác định 9 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm triển khai Định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035. Cụ thể gồm:

Hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn và mô hình quản trị; Hoàn thiện dữ liệu đô thị và nền tảng số dùng chung; Quản lý quy hoạch đô thị thông minh; Phát triển hạ tầng số, hạ tầng kỹ thuật thông minh và thử nghiệm có kiểm soát; Phát triển khu đô thị thông minh, dịch vụ và tiện ích đô thị thông minh; Đổi mới điều hành đô thị thông minh; Giải quyết bài toán lớn, đổi mới sáng tạo và huy động nguồn lực; Giám sát, đánh giá và nhân rộng; Phát triển nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế.

Hoàn thiện dữ liệu đô thị và nền tảng số dùng chung
Đối với nhiệm vụ hoàn thiện dữ liệu đô thị và nền tảng số dùng chung, yêu cầu đặt ra là xây dựng, chuẩn hóa, làm sạch, cập nhật và kết nối dữ liệu theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Đồng thời, xác định rõ dữ liệu chủ, tiêu chuẩn kết nối, chất lượng dữ liệu, tần suất cập nhật và trách nhiệm quản trị.

Trên cơ sở nhu cầu quản trị, các địa phương hình thành cơ sở dữ liệu đô thị dùng chung, ưu tiên dữ liệu về quy hoạch, xây dựng và hạ tầng đô thị. Việc kết nối, khai thác dữ liệu chuyên ngành được thực hiện từ các cơ quan quản lý dữ liệu nguồn theo thẩm quyền, tránh hình thành các kho dữ liệu trùng lặp. Danh mục dữ liệu được địa phương lựa chọn căn cứ vào bài toán thực tế, mức độ sẵn sàng và nguồn lực.

Cùng với đó, tổ chức kho dữ liệu và các công cụ phân tích phục vụ công tác dự báo, hỗ trợ ra quyết định. Hoạt động kết nối, chia sẻ dữ liệu phải tuân thủ Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu và các quy định pháp luật, tránh xây dựng những cơ chế kết nối riêng biệt dẫn đến tình trạng cát cứ dữ liệu.

Giải quyết bài toán lớn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và huy động nguồn lực
Đối với nhiệm vụ giải quyết các bài toán lớn, đổi mới sáng tạo và huy động nguồn lực, mỗi địa phương cần lựa chọn những vấn đề ưu tiên, đồng thời xác định rõ số liệu nền, mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, dữ liệu đầu vào, chỉ số kết quả, chi phí vòng đời và cơ chế vận hành.

Định hướng cũng đặt ra yêu cầu thúc đẩy phát triển, làm chủ các nền tảng dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), bản sao số, an ninh mạng và các sản phẩm công nghệ chiến lược phù hợp. Đồng thời, khuyến khích nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ lưỡng dụng; phát huy hợp tác ba Nhà, mô hình đối tác công tư, thuê dịch vụ, vốn xanh và cơ chế đặt hàng, mua sắm theo kết quả.

Bên cạnh đó, tăng cường tìm kiếm, kết nối, tuyển chọn, thử nghiệm, đánh giá và nhân rộng các giải pháp đổi mới sáng tạo nhằm giải quyết những bài toán trong phát triển đô thị thông minh. Quá trình này cần phát huy sự tham gia của doanh nghiệp, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo và các tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo.

Triển khai định hướng theo 3 giai đoạn, hoàn thành mục tiêu vào năm 2030
Lộ trình thực hiện Định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia được chia thành 3 giai đoạn, từ năm 2026 đến năm 2030, với các nhiệm vụ cụ thể theo từng mốc thời gian.

Giai đoạn 2026-2027: Tập trung hoàn thiện các hướng dẫn, kiến trúc tham chiếu, bộ chỉ số và số liệu nền; đồng thời đưa Cổng thông tin đô thị thông minh quốc gia vào vận hành. Các địa phương rà soát hệ thống hiện có, xác định kế hoạch, bài toán ưu tiên và nguồn lực thực hiện.

Đối với các đề án đô thị thông minh đã được UBND cấp tỉnh phê duyệt, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm rà soát, cập nhật nội dung định hướng phát triển đô thị thông minh theo Quyết định này.

Giai đoạn 2028-2029: Đẩy mạnh chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu theo lộ trình; triển khai, đánh giá các mô hình thí điểm và nâng cấp những nền tảng điều hành đáp ứng đủ điều kiện. Trên cơ sở kết quả thực hiện, tiến hành sơ kết và nhân rộng các mô hình đã được kiểm chứng.

Năm 2030: Tổ chức đánh giá cấp độ trưởng thành, kiểm đếm các chỉ tiêu và tổng kết quá trình thực hiện Định hướng. Đồng thời, công bố các mô hình điển hình, đề xuất nhiệm vụ cho giai đoạn tiếp theo, hướng tới hiện thực hóa tầm nhìn phát triển đô thị thông minh đến năm 2035.

Với mục tiêu tạo chuyển biến căn bản trong phương thức quản trị và phát triển đô thị dựa trên dữ liệu, Định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035 đặt nền móng cho quá trình chuyển đổi đồng bộ từ thể chế, hạ tầng, dữ liệu đến mô hình quản trị và cung cấp dịch vụ đô thị. Việc triển khai theo lộ trình, gắn với các chỉ tiêu cụ thể và cơ chế giám sát, đánh giá sẽ góp phần bảo đảm hiệu quả thực chất, phù hợp với đặc thù và điều kiện của từng địa phương. Qua đó, hướng tới xây dựng hệ thống đô thị Việt Nam hiện đại, xanh, thông minh, có khả năng chống chịu cao, nâng cao chất lượng sống của người dân và năng lực cạnh tranh trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển bền vững.

Thế Nguyễn

Bài viết cùng chuyên mục