Thứ Bảy, Tháng 8 22, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Cần Thơ mở rộng quyền tiếp cận y tế cho đồng bào các dân tộc

Phóng sự: Cần Thơ kiến tạo trung tâm y tế vùng.
Cần Thơ thể chế hóa khát vọng thành trung tâm y tế vùng
Cần Thơ kết nối hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe miền Tây



ĐNA -

Mạng lưới chăm sóc sức khỏe đang được mở rộng, các kỹ thuật chuyên sâu tiếp tục phát triển và hoạt động quản lý sức khỏe từng bước chuyển lên nền tảng số. Tuy nhiên, với người cao tuổi, người khuyết tật, bệnh nhân mạn tính và đồng bào dân tộc thiểu số, bài toán đặt ra vẫn là khả năng tiếp cận dịch vụ phù hợp với điều kiện sống và đi lại. Bộ Y tế đang nghiên cứu đề xuất bảo hiểm y tế chi trả một số dịch vụ khám, chữa bệnh tại nhà cho nhóm người khó đến cơ sở y tế, qua đó đặt ra yêu cầu xác định rõ đối tượng thụ hưởng, phạm vi dịch vụ và cơ chế quản lý.

Khám bệnh miễn phí cho đồng bào dân tộc Khmer, gia đình chính sách, người có hoàn cảnh khó khăn tại Cần Thơ.

Quyền con người là thước đo của trung tâm y tế vùng
Sau hợp nhất, Cần Thơ có hơn 3,22 triệu dân, trong đó gần 495.000 người thuộc 27 thành phần dân tộc thiểu số, chiếm trên 15% dân số. Đông nhất là đồng bào Khmer với hơn 411.000 người, tiếp đến là người Hoa với hơn 82.000 người; ngoài ra còn có người Chăm và các dân tộc khác. Sự khác biệt về nơi cư trú, điều kiện kinh tế, ngôn ngữ, tín ngưỡng và khả năng tiếp cận dịch vụ khiến nhu cầu chăm sóc sức khỏe giữa các nhóm dân cư không hoàn toàn giống nhau.

Toàn thành phố hiện có 141 trường dạy tiếng Khmer với hơn 48.000 học sinh và 6 trường dạy tiếng Hoa với hơn 2.400 học sinh. Điều đó cho thấy truyền thông y tế không thể chỉ sử dụng một cách tiếp cận chung, mà cần được diễn đạt dễ hiểu, phù hợp với đặc điểm từng địa bàn và cộng đồng.

Năng lực của hệ thống y tế đang được thể hiện qua sự phát triển của kỹ thuật chuyên sâu, ghép tạng, hệ thống bệnh viện chuyên khoa, hồ sơ sức khỏe điện tử và sự liên thông giữa tuyến cơ sở với tuyến chuyên sâu. Tuy nhiên, một câu hỏi cần được đặt ra là: người dân đã tiếp cận và thụ hưởng những thành quả đó đến đâu?

Một người có thẻ bảo hiểm y tế nhưng không thể tự đến trạm y tế hoặc bệnh viện thì quyền lợi của họ vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Khoảng cách trong tiếp cận dịch vụ không chỉ nằm ở địa lý mà còn ở tuổi tác, tình trạng khuyết tật, khả năng vận động và sự thiếu vắng người chăm sóc.

Đề xuất mới đây của Bộ Y tế về việc quỹ bảo hiểm y tế thanh toán một số dịch vụ khám, chữa bệnh tại nhà hướng đến 7 nhóm đối tượng: người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng; người từ 75 tuổi trở lên gặp khó khăn trong đi lại; người mắc bệnh tâm thần không thể tự chăm sóc; người mắc bệnh mạn tính bị hạn chế vận động hoặc bị liệt; người cần chăm sóc giảm nhẹ; người đang sống tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở chăm sóc người có công; trẻ dưới 36 tháng tuổi và người cao tuổi không có thân nhân chăm sóc.

Tại Cần Thơ, những nhóm đối tượng này sinh sống ở khu vực đô thị, nông thôn, vùng ven biển, địa bàn đông đồng bào dân tộc thiểu số và những nơi xa các bệnh viện có năng lực chuyên sâu. Với người già yếu hoặc bệnh nhân bị liệt, mỗi lần tái khám thường cần có người thân đi cùng. Người chăm sóc phải nghỉ làm, thuê phương tiện di chuyển; nếu cần xét nghiệm, chờ kết quả hoặc chuyển tuyến, một chuyến đi có thể kéo dài cả ngày.

Chi phí điều trị vì thế không chỉ là tiền khám và thuốc. Người bệnh và gia đình còn phải tính đến chi phí đi lại, ăn uống cùng những ngày người thân phải nghỉ việc để chăm sóc. Với bệnh nhân mạn tính cần tái khám thường xuyên, những khoản phát sinh này kéo dài qua nhiều đợt điều trị, tạo thêm áp lực cho gia đình, nhất là khi người chăm sóc cũng đã lớn tuổi.

Quyền được chăm sóc sức khỏe được Hiến pháp ghi nhận và được cụ thể hóa trong pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 đặt ra yêu cầu tôn trọng người bệnh và bảo đảm hoạt động chuyên môn trong phạm vi phù hợp. Quyền được chăm sóc sức khỏe không phụ thuộc vào dân tộc, tín ngưỡng, hoàn cảnh kinh tế hay nơi cư trú.

Vì vậy, bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe không thể chỉ được hiểu là mọi người đều có cùng một dịch vụ, mà phải tính đến khả năng tiếp cận thực tế của từng người. Người có thể tự đi lại có thể đến cơ sở y tế, nhưng với người bị liệt, người khuyết tật nặng hoặc người đang cần chăm sóc giảm nhẹ, cách tổ chức dịch vụ phải khác. Khám bệnh tại nhà, bác sĩ gia đình và tư vấn từ xa là những hướng có thể giúp giảm trở ngại về đi lại, đồng thời duy trì việc theo dõi và chăm sóc phù hợp hơn.

Từ năm 2026, việc khám sức khỏe định kỳ hoặc sàng lọc miễn phí được triển khai theo nhóm đối tượng và lộ trình ưu tiên, trong đó có người cao tuổi, hộ nghèo, hộ cận nghèo và người sinh sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn. Kết quả khám được gắn với việc tạo lập và cập nhật sổ sức khỏe điện tử, phục vụ mục tiêu quản lý sức khỏe lâu dài.

Kế hoạch chuyển đổi số ngành y tế Cần Thơ giai đoạn 2026-2030 cũng đặt mục tiêu chuyển từ quản lý theo cơ sở khám, chữa bệnh sang quản lý sức khỏe từng người dân. Tuy nhiên, dữ liệu chỉ thực sự có giá trị khi phản ánh đúng tình trạng sức khỏe và điều kiện tiếp cận dịch vụ của mỗi người để phục vụ việc tổ chức chăm sóc. Một hồ sơ điện tử không phản ánh tình trạng sống một mình, hạn chế vận động hoặc nguy cơ bỏ tái khám thì vẫn chưa đủ cơ sở để hệ thống đưa ra sự hỗ trợ phù hợp.

Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, khả năng tiếp cận y tế cũng không thể được nhìn nhận bằng một mô hình chung. Không phải mọi người Khmer, Hoa, Chăm hay các dân tộc khác đều gặp khó khăn; ngôn ngữ cũng không phải lúc nào là rào cản. Việc tổ chức dịch vụ cần dựa trên đặc điểm từng địa bàn, từng hộ gia đình và từng người bệnh. Ở những nơi người cao tuổi gặp khó khăn khi tiếp nhận thuật ngữ chuyên môn, cán bộ y tế cần có cách giải thích phù hợp hoặc phối hợp với những người am hiểu cộng đồng.

Thước đo của một trung tâm y tế vùng, vì thế, không chỉ nằm ở số ca kỹ thuật cao hay quy mô của các cơ sở chuyên sâu. Hệ thống còn phải nhận diện được những người đang đứng ngoài hoặc chưa thể tiếp cận đầy đủ dịch vụ, dù họ đã có thẻ bảo hiểm y tế. Khi một bệnh nhân mạn tính bị gián đoạn điều trị chỉ vì không có người đưa đi khám, khoảng trống đó thuộc về khâu tổ chức dịch vụ và không thể quy hoàn toàn cho hoàn cảnh cá nhân.

Một trung tâm y tế vùng chỉ thực sự phát huy vai trò khi năng lực chuyên môn đi cùng khả năng đưa dịch vụ đến gần hơn với những người cần nó nhất. Đó không chỉ là yêu cầu về tổ chức hệ thống, mà còn là cách quyền được chăm sóc sức khỏe được thực hiện trong đời sống hằng ngày.

Quản lý nhà nước gắn với công tác dân tộc và miền núi
UBND TP Cần Thơ đã ban hành Kế hoạch số 270/KH-UBND triển khai Chỉ thị số 19/CT-TTg về thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Kế hoạch đặt mục tiêu nâng cao chất lượng y tế, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, thu hẹp khoảng cách phát triển và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Cần Thơ không phải địa bàn miền núi, nhưng chính sách dân tộc và miền núi là một chỉnh thể trong hệ thống các chương trình, chính sách quốc gia. Khi cụ thể hóa tại thành phố, trọng tâm cần hướng vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực nông thôn, các xã, ấp còn khó khăn thay vì sao chép mô hình của các tỉnh miền núi. Kế hoạch số 193/KH-UBND cũng xác định ưu tiên đối với các xã, ấp đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế.

Nếu đề xuất thanh toán bảo hiểm y tế đối với một số dịch vụ khám, chữa bệnh tại nhà được thông qua, việc đầu tiên Cần Thơ cần làm là xác định đúng người thực sự cần dịch vụ. Không phải mọi người từ 75 tuổi trở lên đều gặp khó khăn trong việc đi lại, trong khi một bệnh nhân trẻ tuổi nhưng bị liệt có thể phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình. Vì vậy, việc xác định đối tượng cần dựa trên tình trạng sức khỏe, khả năng vận động và điều kiện chăm sóc thực tế.

Chính quyền cơ sở, trạm y tế, cơ quan bảo hiểm xã hội và đơn vị phụ trách công tác dân tộc cần phối hợp rà soát. Quá trình này không nên chờ người dân tự tìm hiểu chính sách rồi nộp đơn. Hồ sơ sức khỏe điện tử, danh sách người khuyết tật, đối tượng bảo trợ xã hội và người cao tuổi cần được đối chiếu, đồng thời xác minh thực tế để hạn chế bỏ sót hoặc xác định không đúng đối tượng.

Khám, chữa bệnh tại nhà cũng không thể thay thế vai trò của bệnh viện. Nhân viên y tế có thể kiểm tra tình trạng chung, theo dõi bệnh mạn tính, đánh giá việc sử dụng thuốc, thay băng, chăm sóc giảm nhẹ hoặc tư vấn dinh dưỡng. Những trường hợp cần chụp chiếu, xét nghiệm phức tạp, phẫu thuật hoặc cấp cứu phải được chuyển đến cơ sở y tế phù hợp. Quy trình vì vậy cần xác định rõ dấu hiệu chuyển viện, đầu mối tiếp nhận và phương án vận chuyển người bệnh.

Trạm y tế có thể là đầu mối quản lý tại địa bàn, nhưng không thể tiếp nhận thêm nhiệm vụ nếu thiếu bác sĩ, điều dưỡng và phương tiện cần thiết. Thành phố cần tính đến việc tổ chức các đội y tế lưu động, kết nối với bác sĩ gia đình, bệnh viện khu vực và các bệnh viện chuyên sâu.

Tại những nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số, có thể huy động người có uy tín, chức sắc tôn giáo, nhân viên y tế hoặc cộng tác viên am hiểu địa bàn tham gia truyền thông và hỗ trợ hướng dẫn thủ tục. Họ không thay thế bác sĩ trong việc giải thích chuyên môn, nhưng có thể hỗ trợ chuyển tải chính sách, nhận diện những trường hợp cần giúp đỡ và kết nối cơ sở y tế với cộng đồng.

Một vấn đề khác là cơ chế thanh toán và kiểm soát dịch vụ. Giá dịch vụ cần tính đến thời gian, nhân lực, phương tiện và vật tư sử dụng, đồng thời phải có tiêu chí rõ ràng để kiểm soát chỉ định. Nếu thiếu cơ chế quản lý chặt chẽ, nguy cơ lạm dụng quỹ hoặc ghi nhận dịch vụ không đúng thực tế có thể phát sinh. Hồ sơ cần thể hiện lý do khám tại nhà, tình trạng người bệnh, nội dung chuyên môn đã thực hiện, thuốc đã cấp và kết quả theo dõi.

Kết quả khám tại nhà cũng cần được cập nhật vào hồ sơ sức khỏe điện tử để trạm y tế và bệnh viện có thể theo dõi quá trình điều trị. Khi cần chuyển tuyến, bác sĩ tiếp nhận phải có đủ thông tin về những xử trí trước đó. Cùng với yêu cầu kết nối dữ liệu là trách nhiệm bảo vệ thông tin liên quan đến dân tộc, tình trạng khuyết tật, bệnh tật và hoàn cảnh gia đình; quyền truy cập chỉ nên phục vụ cho hoạt động chăm sóc sức khỏe và thực hiện chính sách.

Hiệu quả của mô hình không nên chỉ được đo bằng số lượt khám tại nhà. Điều quan trọng hơn là số bệnh nhân tăng huyết áp được kiểm soát, số người sau xuất viện được chăm sóc đúng kế hoạch, số trường hợp được chuyển cấp cứu kịp thời và số người từng bỏ tái khám nay được theo dõi thường xuyên.

Chiến lược công tác dân tộc đặt trọng tâm vào việc giải quyết các vấn đề về sức khỏe, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ có chất lượng và giảm gánh nặng chi phí đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số. Vì vậy, hiệu quả của chính sách cần được kiểm chứng tại từng xã, phường, ấp và khu dân cư, thay vì chỉ thể hiện qua những chỉ tiêu chung.

Một đầu của hệ thống là năng lực xử lý các ca bệnh phức tạp; đầu còn lại là bảo đảm người dân không bị đứng ngoài quá trình chăm sóc chỉ vì tuổi cao, khuyết tật, hoàn cảnh gia đình hoặc nơi cư trú. Khi hai đầu được kết nối bằng dữ liệu, nhân lực và trách nhiệm quản lý, quyền được chăm sóc sức khỏe mới được chuyển hóa thành những dịch vụ cụ thể.

Cần Thơ đã có nền tảng về mạng lưới y tế, dữ liệu sức khỏe, chiến lược công tác dân tộc và các chính sách ưu tiên đối với nhóm yếu thế. Vai trò của một trung tâm y tế vùng vì thế không chỉ là giữ người bệnh ở lại Đồng bằng sông Cửu Long để tiếp cận kỹ thuật chuyên sâu, mà còn phải tổ chức để dịch vụ đến đúng với những người chưa thể tự bước vào bệnh viện.

Trở thành trung tâm y tế của vùng không chỉ được đo bằng số bệnh viện, kỹ thuật chuyên sâu hay những ca điều trị phức tạp được thực hiện thành công. Thước đo quan trọng hơn là khả năng của hệ thống trong việc bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của mình.

Với Cần Thơ, điều đó đòi hỏi sự kết nối chặt chẽ giữa y tế cơ sở và y tế chuyên sâu, giữa dữ liệu số và hoạt động chăm sóc trực tiếp, giữa chính sách dân tộc, an sinh xã hội và năng lực tổ chức dịch vụ. Khi một người cao tuổi, người khuyết tật, bệnh nhân mạn tính hay người sống ở khu vực còn nhiều khó khăn không thể tự đến bệnh viện, trách nhiệm của hệ thống không thể dừng lại ở việc chờ họ tìm đến.

Đề xuất mở rộng một số dịch vụ khám, chữa bệnh tại nhà, nếu được triển khai, sẽ là phép thử đối với năng lực tổ chức của ngành y tế và chính quyền địa phương: xác định đúng người cần hỗ trợ, cung cấp đúng dịch vụ, kết nối kịp thời với tuyến điều trị phù hợp và sử dụng hiệu quả nguồn lực bảo hiểm y tế. Quan trọng hơn, chính sách phải được đo bằng những thay đổi cụ thể trong đời sống người bệnh: ít bỏ tái khám hơn, được theo dõi liên tục hơn và được tiếp cận dịch vụ kịp thời hơn.

Một trung tâm y tế vùng không chỉ là nơi có thể tiếp nhận những ca bệnh khó. Đó còn phải là một hệ thống đủ năng lực nhận diện và tìm đến những người đang có nguy cơ bị bỏ lại phía sau. Khi khoảng cách từ chính sách đến người bệnh được thu hẹp bằng dữ liệu, nhân lực và trách nhiệm quản lý, quyền được chăm sóc sức khỏe mới thực sự trở thành một quyền có thể được thực hiện trong đời sống hằng ngày.

Trọng Nguyễn