Rừng chỉ thực sự được giữ vững khi quyền lợi của đồng bào dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng được bảo đảm và gắn chặt với trách nhiệm giữ rừng. Việc giao, khoán 100% diện tích rừng do lực lượng chuyên trách bảo vệ cho cộng đồng dân cư không chỉ để rừng có người nhận, có chủ thể chịu trách nhiệm, mà còn để người dân trực tiếp được hưởng lợi từ chính công sức bảo vệ rừng. Khi rừng được giao đúng người, đúng chủ, mỗi bước chân tuần rừng của đồng bào cũng góp phần gìn giữ biên cương, khẳng định chủ quyền quốc gia, để mỗi cánh rừng trở thành một “cột mốc xanh” chủ quyền nơi biên giới.

“Chủ thể trung tâm” gắn liền với “quyền, lợi ích và niềm tin”
Hiện nay, tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là 857.007,56 ha, song tiến độ giao rừng vẫn còn chậm. Đáng chú ý, một diện tích lớn rừng chưa được giao cho các chủ thể cụ thể mà vẫn do UBND cấp xã quản lý. Trong khi đó, đời sống của đồng bào tại các xã miền núi còn nhiều khó khăn, sinh kế thiếu ổn định, nhu cầu về đất sản xuất và vật liệu làm nhà tại chỗ rất lớn. Áp lực mưu sinh cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng và khai thác lâm sản trái phép.
Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải đẩy nhanh giao, khoán rừng, gắn với cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để từng diện tích rừng có chủ thể quản lý và chịu trách nhiệm cụ thể. Khi được giao rừng, trực tiếp tham gia bảo vệ rừng và được hưởng lợi từ rừng, người dân có thêm điều kiện ổn định cuộc sống, phát triển sinh kế hợp pháp và gắn bó lâu dài với đất, với rừng. Đây cũng là cách cụ thể hóa phương châm “dân là gốc – rừng là nền tảng – an ninh là trụ cột”, đưa nhiệm vụ bảo vệ rừng gắn chặt với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội.
Đà Nẵng đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành 100% việc giao rừng, phân định ranh giới và số hóa toàn bộ diện tích rừng. Khi rừng tự nhiên được giao đến cộng đồng dân cư, hộ gia đình, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã khu vực biên giới, người dân không chỉ là lực lượng tham gia bảo vệ mà thực sự trở thành chủ thể giữ rừng và hưởng lợi từ rừng. Cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước về sinh kế, việc giao rừng sẽ tạo điều kiện để đồng bào yên tâm bám đất, bám làng, giữ rừng; qua đó củng cố “phên dậu” tự nhiên, góp phần bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và giữ vững an ninh biên giới quốc gia.
Nếu sinh kế của người dân vẫn phụ thuộc chủ yếu vào khai thác tài nguyên rừng, áp lực lên rừng sẽ khó được giải quyết một cách bền vững. Đói nghèo, thiếu đất sản xuất và thiếu sinh kế ổn định là những nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng nguy cơ lấn chiếm đất rừng, khai thác tài nguyên và phá rừng. Vì vậy, mục tiêu đến năm 2035, phần lớn hộ gia đình, cá nhân tại khu vực miền núi tham gia bảo vệ rừng có thu nhập đạt khoảng 40 triệu đồng/người/năm, tương đương gấp 1,5 lần mức chuẩn nghèo nông thôn, mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi muốn người dân gắn bó lâu dài với rừng, trước hết phải tạo được sinh kế để họ có thể sống và từng bước nâng cao thu nhập từ chính việc tham gia bảo vệ, phát triển rừng.
Nhìn rộng hơn, chính sách giao, khoán rừng không chỉ nhằm xác lập rõ chủ thể quản lý, bảo vệ rừng mà còn phát huy vai trò của cộng đồng dân tộc thiểu số như những “chiến sĩ của rừng”. Công nghệ, trang thiết bị hay nguồn lực đầu tư dù hiện đại đến đâu cũng khó thay thế được vai trò của những người am hiểu từng cánh rừng, từng địa bàn và gắn bó với rừng qua nhiều thế hệ. Bởi vậy, điều quan trọng của chính sách giao, khoán rừng tại Đà Nẵng là gắn trách nhiệm với quyền lợi một cách thực chất, để đồng bào vừa có sinh kế ổn định, vừa trở thành lực lượng trực tiếp và bền bỉ gìn giữ màu xanh của quê hương.
Chính sách giao khoán, rừng phải “trao quyền thực chất”
Đẩy mạnh giao rừng để tạo sinh kế, phát triển kinh tế, đồng thời duy trì khoán bảo vệ rừng đối với những diện tích cần quản lý nghiêm ngặt, là hướng đi nhằm chuyển từ tư duy người dân chỉ “tham gia bảo vệ rừng” sang “được trao quyền và hưởng lợi từ rừng” một cách thực chất.
Với giao rừng, việc trao quyền cần được thể hiện trên ba phương diện. Trước hết là xác lập quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định, thay cho tình trạng giao rừng nhưng quyền lợi chưa được xác định đầy đủ. Tiếp đến là mở rộng quyền hưởng lợi, để người dân không chỉ nhận tiền bảo vệ rừng mà có thể tạo thu nhập từ kinh tế dưới tán rừng, dịch vụ môi trường rừng, tín chỉ các-bon và các giá trị hợp pháp khác từ rừng. Quan trọng hơn là nâng cao quyền tham gia quản lý, để đồng bào thực sự trở thành chủ thể trong xây dựng phương án bảo vệ rừng, tổ chức sản xuất và phát triển sinh kế phù hợp với từng địa bàn. Khi quyền lợi gắn chặt với trách nhiệm, người dân mới có thêm động lực để giữ rừng lâu dài.
Tuy nhiên, không phải diện tích rừng nào cũng có thể giao cho hộ gia đình, cá nhân. Đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và những khu vực có yêu cầu quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt, việc khoán bảo vệ rừng vẫn cần được duy trì phù hợp với quy định pháp luật và yêu cầu quản lý. Đây là những cánh rừng giữ vai trò quan trọng đối với bảo tồn hệ sinh thái, điều tiết nguồn nước, phòng, chống thiên tai cũng như bảo đảm quốc phòng, an ninh. Vì vậy, giao rừng và khoán bảo vệ rừng không phải hai cách làm đối lập mà là hai công cụ cần được triển khai phù hợp với từng loại rừng, từng đối tượng và mục tiêu quản lý.
Điều đáng quan tâm là giao, khoán rừng sẽ khó đạt hiệu quả nếu quyền lợi của người dân không đi cùng một sinh kế đủ bền vững. Bảo vệ rừng là trách nhiệm của toàn xã hội, nhưng tại các địa bàn miền núi, biên giới, đồng bào dân tộc thiểu số là lực lượng trực tiếp gắn bó với rừng và có vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi vậy, nếu chính sách chỉ giao thêm trách nhiệm bảo vệ mà chưa tạo đủ điều kiện để người dân sống được từ rừng, việc giao, khoán rất dễ dừng lại ở thủ tục, trong khi động lực giữ rừng chưa thực sự được hình thành.
Bài toán này càng rõ khi người dân đã được giao đất, giao rừng nhưng thiếu vốn, kỹ thuật và thị trường để chuyển đổi phương thức sản xuất. Nếu phần lớn diện tích vẫn tập trung vào cây keo chu kỳ ngắn, giá trị gia tăng thấp, thì quyền sử dụng đất được xác lập nhưng khả năng cải thiện sinh kế từ đất rừng vẫn hạn chế. Vì vậy, định hướng hạn chế hỗ trợ đối với trồng keo, bạch đàn và khuyến khích chuyển sang những mô hình có giá trị cao hơn cho thấy sự thay đổi trong cách tiếp cận: không chỉ giao đất, giao rừng mà phải tạo điều kiện để người dân khai thác giá trị kinh tế của rừng theo hướng bền vững.
Tuy nhiên, chuyển sang trồng rừng gỗ lớn cần thời gian dài mới tạo ra nguồn thu. Khoảng trống sinh kế trong thời gian chờ đợi vì thế phải được giải quyết bằng phương châm “lấy ngắn nuôi dài”. Theo định hướng của thành phố, người dân sẽ được hỗ trợ về giống, kỹ thuật và vốn để phát triển sản xuất dưới tán rừng, đồng thời hình thành các vùng dược liệu tập trung, trong đó có khoảng 15.000 ha sâm Ngọc Linh và 64.195 ha các loại dược liệu khác. Cùng với đó là mục tiêu thu hút từ 3 đến 5 doanh nghiệp lớn đầu tư nhà máy chế biến sâm Ngọc Linh tại địa phương, từng bước hình thành chuỗi liên kết từ trồng, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.
Nếu chuỗi giá trị này được hình thành, giá trị của giao rừng sẽ không chỉ nằm ở một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay khoản tiền nhận khoán bảo vệ rừng. Quan trọng hơn, rừng trở thành không gian sinh kế, người dân trở thành chủ thể hưởng lợi và chính lợi ích bền vững từ rừng tạo động lực để giữ rừng. Đây mới là mối liên kết cần thiết giữa phát triển kinh tế miền núi với mục tiêu bảo vệ tài nguyên và giữ vững địa bàn biên giới.
Mệnh lệnh hành chính khó có thể giải quyết tận gốc sức ép mưu sinh lên tài nguyên rừng nếu người dân chưa có một sinh kế ổn định. Vì vậy, rừng sau khi được giao không chỉ cần có người chịu trách nhiệm bảo vệ mà còn phải tạo ra giá trị kinh tế bền vững cho người dân. Bên cạnh nguồn kinh phí khoán bảo vệ rừng, thành phố đang hướng đến mở rộng sinh kế thông qua hỗ trợ chuyển đổi sang cây trồng có giá trị cao, phát triển kinh tế dưới tán rừng, du lịch sinh thái, tín chỉ các-bon rừng và các nguồn thu hợp pháp khác. Điều quan trọng là hình thành được cơ chế chia sẻ lợi ích công khai, minh bạch, cùng sự đồng hành của Nhà nước và doanh nghiệp trong hỗ trợ vốn, kỹ thuật, tổ chức sản xuất và kết nối thị trường. Khi lợi ích từ rừng được bảo đảm lâu dài, người dân sẽ có thêm động lực để giữ rừng như giữ chính sinh kế và tài sản gắn bó với cuộc sống của mình.
Bởi vậy, giao, khoán rừng không phải đích đến mà là điểm khởi đầu của một quá trình dài hơn: trao quyền, tạo sinh kế và xác lập trách nhiệm giữ rừng. Với đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi, biên giới, giao rừng đúng đối tượng, khoán bảo vệ rừng phù hợp và tạo điều kiện để người dân sống được từ rừng chính là nền tảng để họ gắn bó lâu dài với đất, với làng và với rừng. Khi quyền lợi và trách nhiệm cùng được đặt vào tay những người sống gần rừng, hiểu rừng và gắn bó với rừng qua nhiều thế hệ, mỗi người dân sẽ trở thành một “chiến sĩ của rừng” theo cách tự nhiên và bền vững nhất. Từ sinh kế của mỗi gia đình, sự bình yên của mỗi bản làng đến màu xanh của những cánh rừng biên giới, tất cả cùng góp phần tạo nên những “cột mốc xanh”, vừa giữ rừng, giữ đất, vừa góp phần bảo vệ chủ quyền và bình yên nơi biên cương Tổ quốc.
Nguyễn Thị Minh Hạnh – Lê Công Hùng/Trường Chính trị TP Đà Nẵng – Sở Nông nghiệp và Môi trường.


