Thứ Ba, Tháng 10 6, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Làng cổ Thúy Lĩnh – Một miền di sản đất Thăng Long



ĐNA -

Thúy Lĩnh là vùng đất cổ trọng yếu, án ngữ đường thủy phía nam kinh thành Thăng Long xưa, nay thuộc phường Lĩnh Nam, thành phố Hà Nội. Nằm ven sông Hồng, vùng đất này có cảnh quan “sông nước hữu tình”, đất bãi màu mỡ, trù phú và bề dày lịch sử với quá trình khai phá, lập nghiệp từ sớm[1]. Thúy Lĩnh còn có tên cổ là Thúy Ái Châu, Thúy Ái; văn hóa cư dân mang đậm đặc trưng của nền nông nghiệp lúa nước.

Đình làng Thúy Lĩnh.

Địa giới làng Thúy Lĩnh từ xưa đến nay không có nhiều thay đổi, vẫn nằm trọn ngoài bờ bãi đê sông Hồng, tiếp giáp với các làng, xã cổ như Đông Dư, Thổ Khối, Bát Tràng, Kim Quan[2], Nam Dư, Thanh Trì. Thúy Ái từng là một làng quê “trên bến dưới thuyền” tấp nập, kết nối kinh tế và giao lưu văn hóa với các vùng quê lân cận.

Tên gọi Thúy Ái Châu phần nào khái quát đặc trưng thiên nhiên và đời sống sản xuất nông nghiệp của cư dân nơi đây. Làng nằm trọn ngoài bờ bãi sông Hồng, tạo nên một không gian xanh bạt ngàn, đẹp mắt. “Thúy Ái” nghĩa là “màu xanh đáng yêu”. Chữ “Châu” trong tiếng Hán (州) là kiểu chữ tượng hình, mô phỏng một dòng sông (bộ Xuyên 巛) với các hòn đảo ở giữa. Bởi thế, chữ “Châu” (州) ban đầu có nghĩa là cồn đất nổi lên giữa dòng nước, tức bãi, cù lao.

Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, làng đổi tên thành Thúy Lĩnh (翠嶺), nghĩa là “núi xanh”. Sở dĩ có tên gọi này bởi vùng bãi rộng mênh mông giữa sông nước quanh năm phủ một màu xanh tươi của các loại cây, trải dài, điệp trùng như những ngọn núi.

Thăng Long – Hà Nội là vùng đất kinh kỳ, nơi hội tụ những nét đẹp tinh hoa của dân tộc. Đây cũng là vùng đất cổ, lưu giữ nhiều dấu ấn tín ngưỡng qua các thời kỳ lịch sử, thể hiện trong tâm thức và tục lệ thờ cúng của người dân. Một trong những vị thần thuộc “Tứ trấn” Thăng Long, có vai trò bảo hộ và giữ vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của cư dân vùng đất kinh kỳ, là Đức Thánh Linh Lang. Theo cách phân loại các vị thần, Linh Lang Đại Vương là vị thần chiến đấu[3].

Không chỉ vậy, khi bóc tách các lớp văn hóa, theo nhiều nhà nghiên cứu, việc thờ Thánh Linh Lang thực chất bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Thủy thần của người Việt cổ – một nét văn hóa đặc trưng của cư dân trồng lúa nước. Linh Lang và tín ngưỡng thờ Đức Linh Lang được xem là một dạng tín ngưỡng thờ thần linh nguyên thủy bản địa của người Việt, sau đó được lịch sử hóa, nhân thần hóa và nhân vật hóa, rồi được thờ với tư cách Thành hoàng làng có công chiến đấu. Xét về phát tích, Linh Lang có nguồn gốc từ tín ngưỡng Thủy thần, cụ thể là thần rắn trong không gian văn hóa sông nước[4].

Người dân Thúy Lĩnh bao đời bền bỉ, dẻo dai, bám đất, bám làng, cần cù lao động, xây dựng cuộc sống vật chất ngày càng ấm no, đầy đủ, đồng thời gìn giữ những thuần phong mỹ tục tốt đẹp.

Linh Lang Đại Vương được nhân dân làng cổ Thúy Lĩnh tôn thờ là Thành hoàng làng và được phụng thờ tại đình. Nằm bên hữu ngạn sông Hồng, ngôi đình tọa lạc trên một khu đất cao ráo giữa làng. Đình hiện còn lưu giữ khá phong phú các hiện vật, gồm một cuốn ngọc phả, 06 sắc phong, trong đó sắc phong sớm nhất có niên hiệu Cảnh Hưng thứ 43 (1782); một quả chuông đồng có niên hiệu Tự Đức thứ 35 (1882); cùng một số hoành phi, câu đối, cỗ kiệu, ngai thờ và các đồ thờ có giá trị khác.

Hậu cung Đình Thúy Lĩnh.

Đôi câu đối chữ Hán trên trụ chính nghi môn, nhìn từ ngoài đường vào sân đình, ca ngợi quê hương Thúy Lĩnh:

Trụ chính giữa bên phải:
柱表江山明君明臣明民明世事. Phiên âm: Trụ biểu giang sơn minh quân minh thần minh dân minh thế sự. Dịch nghĩa: Cột mốc (cột biểu trưng) định rõ giang sơn với vua sáng, tôi hiền, dân minh triết và việc đời trong sáng.

Trụ chính giữa bên trái:
榮光領土翠村翠木翠水翠人心. Phiên âm: Vinh quang lãnh thổ thúy thôn thúy mộc thúy thủy thúy nhân tâm. Dịch nghĩa: Vinh quang thay đất đai, bờ cõi; xóm làng xanh tươi, cây cỏ xanh tươi, nước biếc xanh tươi và lòng người cũng chan hòa, rạng rỡ một màu xuân sắc, nghĩa tình.

Xét về mặt ngôn ngữ, nghệ thuật chơi chữ tài tình khi đặt “giang sơn” đối với “lãnh thổ” đã phản ánh thực tế làng xã vốn được coi như một “đất nước thu nhỏ”. Nơi đây có đầy đủ các thiết chế xã hội riêng biệt như hương ước, bộ máy quản lý, cơ chế thu thuế, địa giới, dân cư, tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố văn hóa, xã hội.

Trong chỉnh thể ấy, ngôi đình làng chính là hình ảnh phản chiếu của một triều đình thu nhỏ. Quan niệm “dân có giàu, nước mới mạnh” cho thấy người Việt từ bao đời vẫn nhìn nhận mối quan hệ gắn bó giữa “làng” và “nước”. Vì vậy, việc thờ phụng Thành hoàng làng có thể được hiểu ở tầng nghĩa sâu xa hơn, gắn với vương quyền, triều đình, chính trị, lễ nghi và phép tắc, chứ không đơn thuần chỉ là việc thờ một vị thần linh địa phương.

Tương tự, trong thời kỳ Phật giáo hưng thịnh ở Việt Nam, ngôi chùa thờ Phật không chỉ là nơi gửi gắm đời sống tâm linh mà còn mang ý nghĩa tôn vinh những giá trị định hướng và cai quản đời sống tinh thần của cư dân. Đức Phật vốn được tôn vinh là Pháp Vương – vị vua của muôn pháp. Ở góc độ quản lý xã hội, “Pháp” còn được hiểu theo nghĩa hẹp là pháp luật và phép tắc.

Chính vì vậy, các làng xã xưa, dù được hình thành sớm hay muộn, đều coi việc xây dựng đình, chùa là một trong những điều kiện quan trọng để khẳng định vị thế của cộng đồng, đồng thời góp phần ổn định đời sống cư dân và duy trì trật tự xã hội tại địa phương.

Các quả cầu dùng trong lễ hội.

Thành hoàng làng được thờ trong đình Thúy Lĩnh là Đức Linh Lang Đại Vương (Đức Thánh Cả).
Theo bản Ngọc Phả lưu lại, Linh Lang Đại Vương sinh ngày 13 tháng Chạp năm thứ 6, niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh, đời vua Lý Thánh Tông (1054–1072). Chàng chính là hiện thân của Hoàng tử Hoằng Chân[5], con trai thứ tư của vua Lý Thánh Tông và cung phi Nguyễn Hạo Nương[6] ở Bồng Lai, hương Từ Liêm.

Từ nhỏ, Hoàng tử đã am hiểu binh thư, chiến trận, theo vua cha đánh giặc, lập nhiều chiến công lớn trong cuộc phá Tống, bình Chiêm. Khi Ngài ra trận thường có đội voi chiến đi theo. Mỗi khi ra lệnh, đoàn voi đều quỳ xuống nghe lời.

Khi Ngài hóa, được nhân dân 269 làng lập đền thờ và tôn vinh là Linh Lang Đại Vương. Đền chính thờ Ngài ở làng Thủ Lệ và Bồng Lai. Đền Thủ Lệ đắp hai ông voi quỳ ở cửa, nhân dân gọi là đền Voi Phục, tưởng nhớ đến tài chỉ huy voi chiến của Ngài.

Ấp Thúy Ái cũng là nơi lập đền thờ, xây dựng vào khoảng năm 1497–1504. Ngôi đền này về sau trở thành đình làng Thúy Lĩnh, tới nay đã được gần 600 năm[7].

Để tưởng nhớ công lao hộ quốc của Ngài, nhân dân Thúy Lĩnh gìn giữ ngôi đình và quanh năm hương khói, phụng thờ Đức Thánh Linh Lang Đại Vương.

Đình Thúy Lĩnh
Ngài đã có công lao to lớn khu trừ giặc Tống, như đôi câu đối ở trước cửa tiền đình đã ghi:

力散李朝功第一
Phiên âm: Lực tán Lý triều công đệ nhất.
Dốc sức phò giúp nhà Lý, công lao bậc nhất.

驅除宋賊是無雙
Phiên âm: Khu trừ Tống tặc thị vô song.
Quét sạch giặc Tống, tài năng và sự nghiệp là vô song.

Để ghi danh công lao to lớn hộ quốc của Hoàng tử Hoàng Chân, vua đã phong Thánh hiệu:

靈郎大王 – 上等福神
Linh Lang Đại Vương – Thượng đẳng Phúc thần.

Ở tiền đình có đôi câu đối:

生爲將化爲神威武南邦第一
Phiên âm: Sinh vi tướng hóa vi thần uy vũ Nam Bang đệ nhất.
Sống làm tướng, hóa thành Thần, uy danh và võ công đứng đầu nước Nam.

功在朝名在史流傳北海無雙
Phiên âm: Công tại triều danh tại sử lưu truyền Bắc hải vô song.
Công lao để lại nơi triều đình, tên tuổi ghi rõ trong sử sách, danh tiếng lưu truyền khắp vùng biển Bắc, không ai sánh bằng.

Đây là đôi câu đối thường dùng để ca ngợi, tôn vinh công đức và uy danh kiệt xuất của các vị đại tướng, anh hùng dân tộc vĩ đại trong lịch sử Việt Nam đương thời đánh giặc cứu nước hiển hách; khi mất đi trở thành bậc Thần Linh bảo vệ xóm làng, tiếng thơm và công lao còn lưu danh vĩnh viễn muôn đời.

Nếu Đức Thánh Linh Lang tượng trưng cho thần sông nước thì Ngài Bạch Hổ (Đức Thánh Hai) tượng trưng cho thần núi non.

Gian hậu cung đình có thêm ban Thanh Long đối với ban Ngài Bạch Hổ, theo quan niệm phong thủy Á Đông: “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ”. Cách bố trí này khá phổ biến, như tại cổng đền Ngọc Sơn, đền Quan Đế số 28 Hàng Buồm[8]…

Tế lễ và Đoàn tế lễ nữ tại đình Thúy Lĩnh.

Hậu cung đình Thúy Lĩnh
Ban đầu, khi có chùa Diên Khánh, trong khuôn viên chùa có ngôi miếu Bản thờ Bạch Hổ Đại Vương[9], một trợ thủ đắc lực của Linh Lang Đại Vương. Trải qua nhiều năm tháng, do tác động của mưa gió và sự phong hóa của thiên nhiên, ngôi miếu bị đổ. Vì vậy, ngai thờ và đồ thờ Ngài Bạch Hổ đã được nhân dân rước về thờ tại đình Thúy Lĩnh.

Năm 2010, nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Nhà nước đã tiến hành trùng tu Di tích cấp quốc gia đình Thúy Lĩnh, đồng thời thực hiện một số điều chỉnh trong việc bài trí thờ tự tại đây.

Vốn dĩ, Linh Lang Đại Vương là vị Phúc đức Chính thần duy nhất được sắc phong làm Thành hoàng làng. Tuy nhiên, theo quan niệm văn hóa Á Đông, số lượng ban thờ phải tuân theo số lẻ (một hoặc ba vị). Do đó, tại tòa hậu cung, ban thờ Đức Thánh Linh Lang được tôn trí ở gian giữa, kết hợp phối thờ Ngài Thanh Long[10] ở gian bên phải và Ngài Bạch Hổ ở gian bên trái (nhìn từ ngoài vào) làm các vị thần phù trợ.

Thần Thanh Long cũng là vị thần sông nước, hóa thân của Đức Thánh Linh Lang. Linh Lang Đại Vương là con của Long Cung, vâng lệnh Hoàng Thiên đầu thai làm con của Hoàng gia để giúp nước trừ giặc loạn. Sau khi bốn biển thanh bình, Ngài lại trở về Thủy quốc[11].

Khi xưa, Đức Vua Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La nhờ tầm nhìn xa trông rộng, sớm nhận ra thế đất linh thiêng và trọng yếu của nơi này: “ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi; đã đúng ngôi nam, bắc, đông, tây, lại tiện hướng nhìn sông, dựa núi; địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng, dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú, tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa; thật là nơi tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là chốn kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.

Sau khi dời đô, Đức Vua Lý Thái Tổ đã đổi tên thành Đại La thành Thăng Long, khai sinh một kinh đô, tiền thân của Thủ đô Hà Nội ngày nay với khát vọng non sông sẽ luôn phồn thịnh và cất cánh như thế rồng bay lên.

Việc thờ Ngài Linh Lang bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Thủy Thần.

Như vậy, nhân dịp trùng tu đình Thúy Lĩnh hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, việc phối thờ Đức Thánh Linh Lang (Hoàng tử nhà Lý – Thành hoàng làng) cùng tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ tại ngôi đình đã được các chuyên gia văn hóa khảo cứu một cách thấu đáo dựa trên cơ sở khoa học.

“Rồng chầu, Hổ phục” là thế đất phong thủy quý hiếm, tượng trưng cho uy quyền tối thượng, nơi hội tụ linh khí đất trời để sinh ra bậc đế vương. Việc ngự trị trên vùng đất này được cho là thuận theo thiên mệnh, có đủ uy quyền thu phục quần thần, giang sơn bền vững, quốc thái dân an.

Làng cổ Thúy Lĩnh như một hình bóng quốc gia thu nhỏ, nơi hội tụ trọn vẹn giang sơn đất nước. Sự giao hòa độc đáo này được phản ánh ngay qua những danh xưng lịch sử: khi thì là Thúy Ái Châu, gợi bóng dáng vùng châu thổ bãi bồi ven sông; khi lại là Thúy Lĩnh, mang tầm vóc của những ngọn núi xanh vững chãi.

Khác với phần lớn các làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ vốn chỉ sử dụng chuông và trống trong nghi thức tế lễ, ngôi làng ven sông này lại ngân vang cả tiếng “chiêng”, nhạc cụ đặc trưng của đại ngàn núi non. Không chỉ vậy, nét bề thế của văn hóa núi rừng còn hiện hữu ngay tại cổng đình qua hình ảnh hai ông Voi chầu, được phục dựng theo nguyên mẫu tại đền Voi Phục Thủ Lệ lẫy lừng[12].

Tương truyền, lễ hội vật cầu có nguồn gốc từ thời Lý, liên quan mật thiết đến các vị được thờ phụng tại làng Thúy Lĩnh là Linh Lang Đại Vương và Bạch Hổ Tướng Quân. Trong quá trình luyện binh đánh giặc, Linh Lang Đại Vương cùng Bạch Hổ Tướng Quân thường đưa ra nhiều hình thức thể thao khác nhau để rèn luyện quân lính.

Mỗi dịp Tết đến, Xuân về, Ngài Linh Lang thường tổ chức lễ hội vật cầu để quân sĩ vui chơi. Môn vật cầu được binh sĩ đặc biệt ưa thích vì không chỉ giúp rèn luyện cơ thể, nâng cao sức khỏe mà còn tạo cho người lính ý thức chiến thuật, tinh thần đồng đội, niềm đam mê, sự phấn khởi và ý chí quyết tâm; qua đó, khi ra trận có thể thích ứng với mọi điều kiện, hoàn cảnh của chiến trường.

Lễ hội vật cầu cổ truyền được tổ chức với ba thành, bốn phiên, tám ông mãnh hổ. Cả làng chia làm ba thành: thành Thượng, thành Trung và thành Cải Lương. Mỗi thành cử bốn phiên, mỗi phiên hai người. Đô vật là những trai tráng mặc quần trắng, thắt lưng đỏ, mình trần. Tám đô vật trên sân tượng trưng cho tám ông mãnh hổ cướp cầu.

Trong tổng Thanh Trì xưa còn lưu truyền câu: “Trai Thúy Ái, gái Thanh Trì” – trai làng Thúy Lĩnh thì hùng dũng, còn gái làng Thanh Trì đảm đang.

Lễ hội vật cầu tại làng cổ Thúy Lĩnh mang trọn vẹn tầm vóc của một “quốc gia thu nhỏ”, nơi kết tinh tinh thần thượng võ, ý chí chống ngoại xâm để bảo vệ giang sơn:

 Hội xuân lưu giữ nét ngàn năm
Thượng võ tinh thần, dạ sắc son
Vật cầu Thúy Lĩnh còn vang mãi|
Hồn thiêng sông núi mãi vuông tròn.

Bản sắc ấy được hun đúc qua bao đời, khi cư dân nơi đây phải trải qua biết bao nhọc nhằn để vừa chế ngự thiên nhiên dữ dội, vừa kiên cường đấu tranh giữ đất, từ đó bồi đắp, gây dựng nên những xóm làng bên dải phù sa trù phú. Vật cầu là một di sản văn hóa dân gian phi vật thể cần được bảo tồn, phát huy và tôn vinh, hướng tới tầm vóc di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Hằng năm, hội vật cầu truyền thống thường được khai mạc từ ngày mùng 4 và kéo dài đến hết ngày mùng 6 Tết Nguyên đán.

Bên cạnh hội vật cầu, trò chơi lội ao bắt vịt không chỉ tôn vinh một sản vật đặc trưng của vùng sông nước mà còn tái hiện sinh động thuở khai hoang, lập ấp cũng như những cuộc chiến đấu anh dũng chống giặc ngoại xâm của cha ông.

Tranh gốm Bát Tràng trang trí tại đình Thúy Lĩnh đề tài lễ hội vật cầu.

Lễ hội bắt vịt truyền thống tại làng cổ Thúy Lĩnh (phường Lĩnh Nam, Hà Nội) là một nét đẹp văn hóa dân gian độc đáo, có lịch sử lâu đời, gắn liền với tiến trình hình thành và phát triển của vùng đất Kinh kỳ. Nguồn gốc của lễ hội bắt nguồn từ thuở cha ông khai hoang bờ bãi, lập xóm, định cư ven sông Hồng và gắn liền với những cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm.

Xuất phát từ thực tế vịt là sản vật quý của vùng sông nước, hội bắt vịt ban đầu được tổ chức như một hình thức sinh hoạt nhằm rèn luyện sự dẻo dai, nhanh nhẹn cho quân sĩ và nhân dân dưới sự dẫn dắt của Linh Lang Đại Vương, vị Phúc đức Chính thần, Thành hoàng làng Thúy Lĩnh.

Trải qua bao thăng trầm, đặc biệt sau đợt đại trùng tu đình Thúy Lĩnh nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, lễ hội càng được đầu tư tổ chức quy mô, bài bản dựa trên các cơ sở khảo cứu khoa học. Hằng năm, sau các nghi lễ trang nghiêm tại đình làng, nơi tôn kính thờ phụng Đức Thánh Linh Lang cùng tả Thanh Long và hữu Bạch Hổ, phần hội lại được mở ra trong không khí náo nhiệt.

Dưới làn nước mát của hồ thủy đình, những thanh niên trai tráng khỏe mạnh cùng nhau tranh tài trong tiếng reo hò và tiếng trống giục vang dội, rượt đuổi, bắt những chú vịt đang bơi lội. Không chỉ đơn thuần là một trò chơi giải trí, tục lệ này còn là tấm gương phản chiếu sinh động lịch sử lao động kiên cường của cư dân vùng bãi bồi sông nước.

Ngày nay, hội bắt vịt vẫn giữ nguyên những giá trị cốt lõi, là dịp để người dân sum họp, thắt chặt tình làng nghĩa xóm và cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no.

Như đã đề cập ở trên, bến Thúy Ái có nhiều lợi thế đối với nhân dân ta trong các thế trận thủy chiến với quân thù, từ thời Lý, Trần, Hậu Lê đến triều đại Tây Sơn và cả trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ sau này. Nhiều sự kiện trọng đại diễn ra tại vùng đất này đã đi vào sử sách.

Hội bắt vịt là một trong ba lễ hội chính của làng Thúy Lĩnh, được duy trì qua nhiều thế hệ và gắn chặt với đời sống của cư dân vùng bãi, nơi từ bao đời nay, việc quen con nước, biết bơi lội là điều cần thiết để thích nghi với những mùa nước lên, mùa mưa lũ.

“Hội” thường có mối quan hệ chặt chẽ với “Lễ”. Các làng xã ven sông Hồng có lịch sử hàng trăm năm thường có hai dịp tế Thành hoàng rất long trọng, gọi là “xuân thu nhị kỳ”, gồm Xuân tế và Thu tế. Người dân địa phương và khách thập phương, ngoài việc tham gia các nghi thức tế lễ Thành hoàng làng mang ý nghĩa tâm linh, cầu cho quốc thái dân an, mưa hòa gió thuận, mùa màng bội thu, còn cùng tham gia nhiều trò chơi dân gian đặc sắc.

Tại Thúy Lĩnh, nếu hội vật cầu gắn với dịp Xuân tế đầu năm mới thì vào mùa thu, gần dịp Tết Trung thu, có hội bắt vịt. Hai trò chơi dân gian này, theo truyền tích, xưa kia là những hình thức được Ngài Linh Lang Đại Vương sử dụng để rèn luyện quân sĩ, khích lệ tinh thần thượng võ của dân tộc; đồng thời, qua thời gian, trở thành những nét văn hóa độc đáo trong bức tranh đa sắc màu của đất Thủ đô nghìn năm văn hiến.

Nếu như trong hội vật cầu, thanh niên trai tráng tham gia rèn luyện sức khỏe trên đất liền thì hội bắt vịt lại đòi hỏi người tham gia phải có sức khỏe, sự bền bỉ, dẻo dai và khả năng thích ứng với môi trường sông nước.

Nhân dịp trùng tu đình Thúy Lĩnh hướng tới Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, không gian di tích đã được tô điểm bằng hai bức tranh gốm sứ Bát Tràng tráng lệ, tái hiện sinh động hai lễ hội dân gian trứ danh của địa phương là vật cầu và bắt vịt. Cùng với phần sân đình được lát gạch Bát Tràng đồng bộ, công trình đã trở thành một điểm nhấn kiến trúc đặc sắc, góp thêm một nét son vào kho tàng di sản nghệ thuật kiến trúc của dân tộc.

Tại Thúy Lĩnh, từ khi lập làng, người dân đã phát triển nghề trồng lúa nước và trồng dâu, chăn tằm trên những vùng bờ bãi, góp phần vun đắp nền văn minh sông Hồng và văn hiến Thăng Long – Hà Nội.

Với lợi thế nằm ven sông Hồng, cận kề kinh thành Thăng Long, vùng đất Thúy Ái từng sở hữu một thương cảng sầm uất, “trên bến dưới thuyền”, đóng vai trò quan trọng trong việc giao thương, kết nối kinh tế giữa các vùng miền.

Những kết quả khảo cổ học như việc phát hiện tiền đồng Khai Nguyên Thông Bảo thời Đường (thế kỷ VIII), tiền Chí Hòa Nguyên Bảo thời Tống (thế kỷ XI), cùng dấu tích đường lát gạch cổ và nhiều hiện vật khác là những minh chứng quan trọng, góp phần khẳng định Thúy Ái là một làng Việt cổ có lịch sử lâu đời trong tiến trình phát triển của vùng đất Thăng Long – Hà Nội; đồng thời là một đầu mối giao lưu kinh tế, truyền bá văn hóa, tôn giáo và tri thức trong nước cũng như quốc tế.

Sự hiện diện của chất liệu gốm sứ hoa lệ trong nghệ thuật trang trí tại đình, chùa Thúy Lĩnh còn gợi nhắc về một thế đối sánh văn hóa độc đáo trên trục văn minh sông Hồng: nếu bên tả ngạn có làng gốm Bát Tràng lừng danh thì phía hữu ngạn sông Hồng lại có làng cổ Thúy Ái với nghề trồng dâu, chăn tằm hưng thịnh một thời.

Làng Thúy Lĩnh, phường Lĩnh Nam, Hà Nội, là một vùng đất cổ ven sông Hồng, nơi những lớp trầm tích lịch sử, văn hóa và đời sống cộng đồng được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Trong dòng chảy ấy, có thể nhận diện hai mạch di sản tiêu biểu làm nên bản sắc riêng của vùng đất Thúy Lĩnh: truyền thống thượng võ được kết tinh qua lễ hội vật cầu và truyền thống canh nông được lưu dấu qua nghề trồng dâu, nuôi tằm trên những bãi bồi phù sa màu mỡ. Một bên biểu trưng cho sức mạnh, ý chí và tinh thần bảo vệ quê hương; một bên biểu trưng cho sự cần cù, khéo léo và khát vọng dựng xây cuộc sống no ấm. Hai mạch nguồn tưởng như khác biệt ấy lại hòa quyện, bổ trợ cho nhau, tạo nên diện mạo văn hóa đặc sắc của làng cổ Thúy Lĩnh.

Biểu tượng nổi bật của tinh thần thượng võ nơi đây chính là quả cầu gỗ mít, một khối gỗ tròn nặng hơn 20 kg, được đục đẽo từ gốc mít cổ thụ. Theo truyền tích địa phương, trò vật cầu tại đình Thúy Lĩnh mô phỏng hình thức luyện quân của Hoàng tử Linh Lang thời Lý. Trải qua thời gian, từ một trò chơi rèn luyện sức khỏe, sự nhanh nhẹn, sức bền và tinh thần đồng đội, vật cầu đã trở thành một sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang nhiều tầng ý nghĩa. Trong tiếng trống hội rộn ràng và những cuộc tranh cầu quyết liệt còn gửi gắm tinh thần thượng võ, ý chí đoàn kết, đồng thời thể hiện ước vọng ngàn đời của cư dân nông nghiệp về mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống bình an.

Song hành với biểu tượng hào hùng ấy là hình ảnh lá dâu, con tằm, những hình ảnh bình dị nhưng gắn bó sâu sắc với đời sống của cư dân Thúy Lĩnh từ bao đời. Trên dải đất bãi bồi màu mỡ ven sông Hồng, nghề trồng dâu, nuôi tằm không chỉ góp phần tạo dựng sinh kế mà còn phản ánh một phương thức ứng xử hài hòa giữa con người với điều kiện tự nhiên của vùng sông nước. Công lao khai khẩn đất đai, gây dựng nghề nghiệp và chăm lo đời sống dân sinh được cộng đồng tưởng nhớ qua hình tượng các “Bà Chúa”, trở thành một phần trong đời sống tín ngưỡng và ký ức văn hóa của làng.

Nếu quả cầu gỗ mít gợi nhắc sức mạnh và tinh thần thượng võ thì lá dâu, con tằm lại tượng trưng cho đức tính cần cù, bền bỉ và bàn tay lao động khéo léo. Đó cũng chính là hai phương diện làm nên sức sống của một cộng đồng cư dân ven sông: vừa biết giữ đất, giữ làng, vừa biết khai phá, dựng xây và làm cho đất đai sinh sôi, trù phú. Từ đó, những giá trị văn hóa của Thúy Lĩnh không tồn tại riêng lẻ mà gắn bó mật thiết với lịch sử hình thành làng xã, với tín ngưỡng Thành hoàng, đình – chùa, lễ hội và đời sống lao động thường nhật của người dân.

Trải qua bao biến thiên của lịch sử, quần thể đình chùa Thúy Lĩnh được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia năm 1993, trở thành một dấu mốc quan trọng trong việc ghi nhận và bảo tồn những giá trị lịch sử, kiến trúc, tín ngưỡng và văn hóa của vùng đất này. Nhưng giá trị của di sản Thúy Lĩnh không chỉ nằm ở những công trình kiến trúc cổ kính hay những hiện vật được lưu giữ, mà còn hiện diện trong ký ức cộng đồng, trong lễ hội, phong tục, nghề nghiệp truyền thống và trong chính sự tiếp nối giữa các thế hệ.

Bởi vậy, lễ hội vật cầu cùng sắc xanh của những nương dâu, vườn ruộng không chỉ là những dấu ấn văn hóa đặc trưng mà còn là những biểu tượng cô đọng về cội nguồn và bản sắc của cộng đồng Thúy Lĩnh giữa đất Kinh kỳ Thăng Long – Hà Nội. Đó là sợi dây nối quá khứ với hiện tại, nối truyền thống thượng võ với đời sống canh nông, nối công cuộc giữ làng với hành trình dựng làng; để mỗi thế hệ hôm nay khi tìm về di sản cũng là một lần nhận diện sâu sắc hơn cội nguồn của quê hương mình.

Ngày nay, giữa nhịp sống đô thị hóa của Thủ đô, những giá trị ấy càng cần được trân trọng, gìn giữ và trao truyền như một mạch nguồn văn hóa không ngừng tiếp nối. Để rồi, nhắc đến Thúy Lĩnh, người ta không chỉ nhớ đến một làng cổ bên sông Hồng, một ngôi đình cổ hay những mùa lễ hội tưng bừng, mà còn nhớ đến một miền quê đã được bồi đắp bằng phù sa của dòng sông, bằng mồ hôi lao động, bằng tinh thần thượng võ và bằng tình yêu quê hương của biết bao thế hệ.

Làng Thúy Lĩnh sẽ mãi “bạt ngàn một màu xanh”, màu xanh của bãi bồi, nương dâu, vườn ruộng; màu xanh của sự sống, của niềm tin và sức sống bền bỉ của một vùng đất cổ. Từ màu xanh của một làng quê ven sông Hồng, những giá trị văn hóa được gìn giữ hôm nay sẽ góp thêm một sắc xanh vào giang sơn gấm vóc, để di sản của cha ông tiếp tục được trao truyền, sinh sôi và phát triển bền vững cùng các thế hệ mai sau.

Bùi Cường

Tài liệu tham khảo
[1] Đảng ủy – HĐND – UBND xã Lĩnh Nam (2000). Lịch sử truyền thống xã Lĩnh Nam. NXB Văn hóa Dân tộc.
[2] Đến cuối thế kỷ XIX, làng Kim Quan được đổi tên thành Kim Lan.
[3] Nguyễn Vinh Phúc và Nguyễn Duy Hinh (2009). Các Thành hoàng và tín ngưỡng Thăng Long – Hà Nội. NXB Lao Động
[4] UBND tỉnh Hà Tĩnh. Những điều ít biết về Đức thánh Linh Lang của “Tứ trấn” Thăng Long xưa. Truy cập ngày 11.09.2026 tại https://dhtn.hatinh.gov.vn.
[5] Nhân dân Thúy Lĩnh kiêng húy, gọi “khoai lang” là “khoai dây”, “chân” gọi là “cẳng”.
[6] Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội (2010), đình Thúy Lĩnh được trùng tu, dân làng Thúy Lĩnh lên Bồng Lai lễ và xin dị hiệu Thánh Mẫu rước về lập ban thờ bên phải đình trung để phụng thờ.
[7] UBND phường Lĩnh Nam (2026). Báo cáo số: 345/BC-UBND Rà soát, đánh giá hiện trạng và đề xuất phương án bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phục vụ Dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, ngày 13 tháng 7 năm 2026.
[8] https://redsvn.net/chum-anh-den-quan-de-ngoi-den-tho-quan-vu-giua-pho-co-ha-noi/
[9] Chùa xưa được xây dựng từ thời vua Lê Thần Tông 1619 – 1643 niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 3 (1622). Nhân dân Thúy Lĩnh kiêng húy, gọi “hổ” là “hể”.
[10] Ngài được nhân dân rước từ miếu Nghè về đình.
[11] Đinh Khắc Thuân (2011). Bản dịch Ngọc phả về Hoàng tử Linh Lang Đại Vương triều Lý. Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
[12] Với người miền núi tế lễ và các nghi thức quan trọng thì lại phổ biến dùng cồng chiêng.