Thứ Năm, Tháng 9 24, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Kinh tế biển Cần Thơ từ quy hoạch đến thực thi



ĐNA -

Chương trình phát triển Cần Thơ thành địa phương mạnh về biển mở ra dư địa tăng trưởng mới sau hợp nhất. Với 72 km bờ biển, các cửa sông lớn, vùng nuôi thủy sản, rừng phòng hộ và Khu kinh tế Trần Đề đang được định hướng đầu tư, thành phố sở hữu nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, nguồn lực này chỉ có thể phát huy khi công tác quản lý được thống nhất từ đất liền ra biển, kiểm soát chặt tài nguyên, môi trường, dự án và sinh kế người dân. Muốn kinh tế biển đi xa, trước hết phải bắt đầu từ kỷ luật quy hoạch và trách nhiệm thực thi.

Tàu đánh bắt cá tại cảng Trần Đề

Từ bờ biển đến không gian phát triển mới
Chương trình số 31-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Cần Thơ, triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW và Chương trình số 34-CTr/TW, đặt ra định hướng xây dựng không gian biển của Cần Thơ sau hợp nhất. Trọng tâm không chỉ là khai thác lợi thế ven biển, mà từng bước đưa kinh tế biển và các ngành liên quan trở thành động lực tăng trưởng mới.

Cần Thơ có 72km bờ biển, với 6 trong tổng số 103 xã, phường giáp biển. Sông Hậu và sông Mỹ Thanh đổ ra Biển Đông, hình thành hệ thống cửa sông có giá trị về giao thông, thủy sản và môi trường. Dọc bờ biển là rừng phòng hộ, bãi bồi, vùng nuôi trồng thủy sản và các cộng đồng dân cư lâu đời gắn với nghề biển.

Đến năm 2030, thành phố đặt mục tiêu đưa vào hoạt động 30 dự án điện gió, tổng công suất 2.802,2MW; khai thác hiệu quả tài nguyên cát biển khu B1, nơi đã đánh giá 680 triệu m³ tài nguyên cấp 333 và 222, trong đó cấp 222 đạt 145 triệu m³. Ngành thủy sản được định hướng phát triển theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao và từng bước mở rộng nuôi biển phù hợp điều kiện địa phương.

Trong cấu trúc phát triển mới, Khu kinh tế Trần Đề, các cụm kinh tế biển đa ngành và trung tâm kinh tế biển tại các xã, phường ven biển được xác định là những hạt nhân tổ chức sản xuất. Thành phố hướng tới hoàn thành tuyến đường bộ ven biển, kết nối Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ với Cảng biển quốc tế Trần Đề và luồng hàng hải Định An – Sông Hậu, qua đó hình thành chuỗi kết nối logistics hướng ra biển cho Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo định hướng điều chỉnh quy hoạch, Khu kinh tế Trần Đề có quy mô trên 40.000ha, tập trung vào công nghiệp chế biến, năng lượng, hậu cần cảng, logistics đa phương thức và du lịch sinh thái biển. Cần Thơ cũng kiến nghị đầu tư tuyến đường dẫn và cầu vượt biển dài 17,8km, với kinh phí dự kiến khoảng 19.000 tỷ đồng, kết nối bến cảng nước sâu ngoài khơi. Tuy nhiên, đây mới là kiến nghị của địa phương, còn phải hoàn thiện thủ tục và chờ cấp có thẩm quyền xem xét.

Không gian phát triển ấy đồng thời là nơi hàng chục nghìn hecta mặt nước đang tạo sinh kế trực tiếp cho người dân. Trong 6 tháng đầu năm 2026, diện tích thả nuôi tôm nước lợ của thành phố đạt gần 32.000ha, sản lượng thu hoạch ước trên 77.000 tấn, gồm khoảng 72.000 tấn tôm thẻ và hơn 5.000 tấn tôm sú. Diện tích thiệt hại khoảng 189,5ha, chủ yếu là tôm thẻ chân trắng.

Điểm đáng chú ý trong Chương trình số 31-CTr/TU là sự chuyển đổi về cách tiếp cận: từ khai thác đơn thuần sang quản trị biển hiện đại; từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển toàn diện kinh tế biển và không gian biển; từ quản lý theo từng ngành sang quản lý tổng hợp, thống nhất, liên ngành và liên vùng. Thách thức vì thế không chỉ nằm ở quy hoạch, mà ở khả năng kết nối dữ liệu, thẩm quyền, nguồn lực và trách nhiệm trong quá trình thực hiện.

Với Khu kinh tế Trần Đề, bài toán trước mắt là làm rõ phạm vi, tiến độ, nguồn vốn và các dự án tạo động lực. Một cảng biển chỉ có thể phát huy công suất khi đồng bộ với đường kết nối, luồng tàu, kho bãi, dịch vụ hậu cần và nguồn hàng. Nếu các cấu phần triển khai lệch nhịp, nguy cơ vốn đầu tư bị dàn trải, công trình chậm phát huy hiệu quả, trong khi sinh kế của người dân có thể bị tác động trước khi việc làm mới hình thành.

Tương tự, mục tiêu 2.802,2MW điện gió đặt ra yêu cầu phối hợp chặt chẽ giữa quy hoạch năng lượng, giao khu vực biển, khảo sát, đấu nối, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Quy mô đầu tư lớn cũng đòi hỏi thành phố nâng năng lực thẩm định, theo dõi tiến độ và giám sát cam kết của nhà đầu tư; những dự án chiếm giữ không gian biển nhưng kéo dài thủ tục hoặc chậm triển khai cần được rà soát theo quy định.

Với cát biển, con số tài nguyên đã được đánh giá không đồng nghĩa toàn bộ khối lượng có thể đưa ngay vào khai thác. Việc sử dụng nguồn tài nguyên này phải dựa trên đánh giá chất lượng vật liệu, điều kiện địa chất, dòng chảy và tác động tới bờ biển, ngư trường, hệ sinh thái cũng như sinh kế cộng đồng. Quá trình cấp phép cần đi cùng cơ chế giám sát tọa độ, độ sâu, sản lượng khai thác, phương tiện vận chuyển và điểm sử dụng cuối cùng.

Từ 72km bờ biển đến một không gian kinh tế biển quy mô lớn là khoảng cách không chỉ được đo bằng vốn đầu tư hay số lượng dự án. Khả năng biến lợi thế địa lý thành động lực phát triển sẽ phụ thuộc vào mức độ đồng bộ của hạ tầng, năng lực quản trị tài nguyên và cách thành phố xử lý mối quan hệ giữa đầu tư mới với môi trường, sinh kế của cộng đồng ven biển.

Quản lý chặt để kinh tế biển phát triển bền vững
Để một không gian biển ngày càng có nhiều hoạt động kinh tế không trở thành nơi chồng lấn quy hoạch và lợi ích, yêu cầu trước hết là xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung. Ranh giới quy hoạch, hiện trạng sử dụng, khu bảo tồn, luồng hàng hải, vùng nuôi trồng thủy sản, khu vực khai thác khoáng sản, dự án năng lượng và các điểm sạt lở cần được tích hợp trên cùng hệ thống, cập nhật thường xuyên từ sở, ngành và chính quyền cơ sở. Đây sẽ là nền tảng để thẩm định dự án, kiểm tra hiện trạng và phát hiện sớm những khu vực có nguy cơ xung đột trong sử dụng không gian biển.

Dữ liệu thống nhất cần đi cùng một cơ chế điều phối rõ ràng. Với những dự án đồng thời sử dụng đất, mặt nước, khu vực biển và hạ tầng kết nối, việc từng cơ quan xử lý riêng phần việc của mình có thể dẫn đến hồ sơ kéo dài nhưng không xác định được đầu mối chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng. Ý kiến chuyên ngành vì vậy cần được tổng hợp trước khi chấp thuận địa điểm; những vấn đề vượt thẩm quyền phải được báo cáo, xử lý đúng thời hạn.

Quản lý cũng cần dịch chuyển từ kiểm tra hồ sơ sang giám sát hoạt động thực tế. Những thông số đã được xác định trong giấy phép như tọa độ, diện tích, công suất và yêu cầu về môi trường phải trở thành căn cứ kiểm tra ngoài thực địa. Ảnh vệ tinh, thiết bị định vị, nhật ký khai thác và dữ liệu quan trắc môi trường có thể hỗ trợ phát hiện hoạt động sai vị trí, vượt công suất hoặc những biến động bất thường. Kết quả kiểm tra cần được công khai theo quy định, qua đó tăng trách nhiệm của cả cơ quan quản lý và chủ đầu tư.

Cùng với quản lý các dự án kinh tế, rừng phòng hộ ven biển cần được nhìn nhận như một phần của hạ tầng bảo vệ tự nhiên, thay vì quỹ đất dự phòng cho phát triển. Bảo vệ và phục hồi rừng phải gắn với chống sạt lở, giữ bãi bồi, bảo tồn nguồn lợi thủy sản và sinh kế của cộng đồng ven biển. Các dự án nằm gần khu vực rừng phòng hộ cần có biện pháp cụ thể để bảo vệ hệ sinh thái, kiểm soát nước thải, chất thải cũng như tác động từ đường tiếp cận và quá trình thi công.

Nghề cá vẫn giữ vai trò quan trọng tại Trần Đề và các địa bàn ven biển. Vì vậy, quản lý tàu cá, xuất nhập bến, nhật ký khai thác, truy xuất nguồn gốc thủy sản và phòng, chống khai thác bất hợp pháp cần được duy trì thường xuyên. Chống khai thác IUU không chỉ gắn với yêu cầu của thị trường xuất khẩu, mà còn liên quan trực tiếp đến bảo vệ nguồn lợi biển và khả năng duy trì sinh kế lâu dài của cộng đồng ngư dân.

Khi cảng biển, năng lượng, khoáng sản, nuôi trồng và khai thác thủy sản cùng mở rộng trên một không gian hữu hạn, quản lý biển không thể chạy sau các dự án. Cơ sở dữ liệu thống nhất, cơ chế điều phối rõ trách nhiệm và giám sát thực địa bằng công nghệ cần được hình thành song song với quá trình thu hút đầu tư. Đó là điều kiện để nguồn lực từ biển tạo thêm dư địa tăng trưởng mà không đánh đổi hệ sinh thái và sinh kế lâu dài của người dân ven biển.

Phát triển kinh tế biển trước hết phải tính đến những người trực tiếp chịu tác động từ thu hồi đất, thay đổi ngư trường và chuyển đổi sinh kế. Quy hoạch cần được công bố sớm, dễ tiếp cận, kèm bản đồ và tiến độ cụ thể; phương án bồi thường, tái định cư, đào tạo nghề phải đi trước một bước. Những việc làm mới tại cảng biển, khu công nghiệp và các dự án năng lượng cũng cần gắn với chương trình đào tạo của các trường nghề, đại học trên địa bàn, để người dân địa phương có khả năng tham gia vào quá trình chuyển dịch kinh tế.

Cùng với đó là yêu cầu sàng lọc nhà đầu tư ngay từ đầu. Năng lực tài chính, kinh nghiệm, tiến độ góp vốn, nghĩa vụ ký quỹ, bảo vệ môi trường và hoàn trả mặt bằng cần được thẩm định thực chất. Những dự án sử dụng nhiều đất, chiếm giữ không gian biển dài hạn nhưng tạo giá trị gia tăng thấp cần được cân nhắc kỹ; chính sách ưu đãi nên tập trung vào dự án phù hợp định hướng phát triển, có công nghệ đáp ứng yêu cầu và cam kết rõ ràng về việc làm, đóng góp ngân sách, môi trường.

Không gian biển đồng thời gắn với quốc phòng, an ninh, an toàn hàng hải và trật tự trên biển. Vì vậy, từ tuyến giao thông, khu neo đậu đến cảng cá, cảng hàng hóa và các dự án lớn đều phải tính đến yêu cầu phòng thủ dân sự, cứu hộ, cứu nạn và kiểm soát xuất nhập cảnh. Cơ chế phối hợp giữa lực lượng chức năng, chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng cần được thiết lập ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thay vì xử lý khi dự án đã đi vào vận hành.

Hướng ra biển mở thêm không gian tăng trưởng cho Cần Thơ và tạo dư địa kết nối cho cả Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng cũng đặt ra yêu cầu quản trị cao hơn. Phát triển cảng biển, năng lượng hay khai thác tài nguyên chỉ thực sự tạo giá trị lâu dài khi thành phố đồng thời giữ được rừng, bảo vệ ngư trường, kiểm soát tài nguyên, lựa chọn đúng nhà đầu tư và bảo đảm sinh kế của người dân.

Với 72km bờ biển, vấn đề không chỉ là Cần Thơ có thể khai thác được bao nhiêu nguồn lực từ biển, mà là quản trị nguồn lực ấy như thế nào. Quản lý chặt từ hôm nay sẽ quyết định không gian biển trở thành động lực tăng trưởng bền vững hay để lại những chi phí phải xử lý trong tương lai.

Trọng Nguyễn