Trải qua nhiều biến thiên lịch sử, vùng đất Phương Liệt (Vọng) vốn có nguồn gốc từ vùng Cổ Liệt (Kẻ Sét) xưa, nơi từng gồm chín giáp trước khi Giáp Cửu tách ra lập làng riêng. Cùng với quá trình hình thành và phát triển của làng, nhân dân Phương Liệt đã xây dựng đình, chùa để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa cộng đồng. Trong đó, chùa làng Phương Liệt, tên chữ là Linh Quang tự, còn được người dân quen gọi là chùa Vọng, là một dấu ấn gắn bó với lịch sử hình thành và đời sống tâm linh của cộng đồng cư dân nơi đây.

Lịch sử hình thành làng Phương Liệt
Làng Phương Liệt (芳烈), tên Nôm là làng Vọng, nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long xưa. Theo địa giới hành chính trước đây, làng thuộc tổng Hoàng Mai, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng.
Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), triều Nguyễn đổi trấn Sơn Nam Thượng thành tỉnh Hà Nội. Đến năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), Phương Liệt vẫn thuộc tổng Hoàng Mai nhưng chuyển sang huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Nội.
Vào khoảng giữa thế kỷ XX, Phương Liệt đã hình thành một cụm dân cư tương đối tập trung, nằm ngay phía dưới Ngã tư Vọng, gần hai tuyến giao thông quan trọng là đường Tàu Bay và quốc lộ 1A.
Không gian làng được giới hạn bởi hệ thống sông ngòi và các khu vực dân cư, công trình lân cận. Phía Đông và phía Nam có hai nhánh sông Sét, tạo ranh giới tự nhiên với làng Tương Mai và Giáp Bát; phía Tây là sông Lừ, ngăn cách khu vực làng với sân bay Bạch Mai.
Trục đường chính trong làng được lát gạch, chạy men theo bờ đầm Ao Bô, qua trước cửa đình, tiếp đến cổng chùa rồi nối ra phố Vọng. Tuyến đường này không chỉ phục vụ việc đi lại mà còn kết nối những không gian sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng quan trọng của cộng đồng cư dân.
Trước đây, làng Phương Liệt có hai lối ra vào chính. Lối thứ nhất từ phố Vọng rẽ về phía Tây, men theo bên ngoài lũy tre chùa Linh Quang, về sau trở thành ngõ 377 đường Giải Phóng. Lối thứ hai nằm ở phía Bắc, tại khu vực cổng Ngang, đối diện Nhà Trâu (nay là Viện Thú y), phía bên kia đường Tàu Bay, tức đường Trường Chinh ngày nay.
Từ hai lối vào này, hệ thống đường ngõ trong làng tỏa đi, kết nối bốn xóm dân cư chính, gồm: xóm Vườn Cúc ở phía Tây, xóm Đình ở phía Nam, xóm Cổng Ngang ở phía Bắc và xóm Chùa ở phía Đông.
Cách tổ chức không gian cư trú với các xóm quần tụ quanh những tuyến đường làng, cùng sự hiện diện của đình, chùa và các công trình tín ngưỡng, đã tạo nên diện mạo đặc trưng của một làng quê truyền thống trong quá trình đô thị hóa ven đô Thăng Long – Hà Nội.
Cùng với quá trình mở rộng và phát triển đô thị Hà Nội, địa giới hành chính của Phương Liệt có nhiều thay đổi. Cuối thế kỷ XX, làng Phương Liệt trở thành tiểu khu Phương Liệt, thuộc quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Năm 1997, Phương Liệt được thành lập thành phường thuộc quận Thanh Xuân. Từ ngày 1/7/2025, sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, địa giới khu vực làng Phương Liệt tiếp tục có sự điều chỉnh. Trong đó, khu vực bên đường Giải Phóng, từ đoạn đầu tiếp giáp phố Vọng đến đầu cầu vượt Ngã tư Vọng, nơi có chùa Linh Quang tại ngõ 377 Giải Phóng, thuộc địa giới hành chính phường Tương Mai.

Phương Liệt – vùng đất có truyền thống văn hiến
Tên gọi Phương Liệt (芳烈) không chỉ là danh xưng của một làng quê mà còn hàm chứa ý nghĩa về danh tiếng tốt đẹp, sự nghiệp vẻ vang và những giá trị được lưu truyền qua các thế hệ. Tên làng gắn với niềm tự hào về truyền thống văn hóa, đạo đức và tinh thần kiên cường của cộng đồng cư dân địa phương.
Truyền thống ấy được ghi dấu qua cuộc đời và sự nghiệp của Trạng nguyên Lưu Danh Công (1644–1676), nhân vật có mối gắn bó đặc biệt với làng Phương Liệt vào thế kỷ XVII. Theo tư liệu địa phương, ông vốn là người làng Đan Nhiễm. Sau khi đỗ Trạng nguyên, ông được vua ban hôn với bà Trịnh Thị Ngọc, người làng Phương Liệt. Ông về sinh sống tại quê vợ và được nhà vua ban cấp ruộng đất, khu vực này về sau được gọi là “cánh đồng bà Chúa”.
Lưu Danh Công từng làm quan trong triều đình sáu năm, nổi tiếng là người học rộng, hiểu nhiều. Tên tuổi của ông được ghi trên văn bia tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám vào năm 1670, dưới triều vua Lê Huyền Tông. Đặc biệt, những nhận định của ông về vùng đất Phương Liệt còn được lưu giữ trên văn bia tại đình làng, thể hiện sự trân trọng đối với cảnh quan, phong tục và truyền thống hiếu học của địa phương: “Ngắm nhìn về địa lý, Phương Liệt có địa hình đẹp. Đất có truyền thống về thuần phong mỹ tục, đất linh, ắt phải có nhân kiệt”.
Dấu ấn về Trạng nguyên Lưu Danh Công còn được lưu giữ trong đời sống tín ngưỡng của người dân Phương Liệt qua di tích miếu thờ được dân làng quen gọi là miếu ông Trạng. Miếu tọa lạc tại khu đất số 41 phố Phương Liệt, hiện thuộc khu vực do Công ty Cổ phần Cơ điện Trần Phú quản lý. Trải qua thời gian, ngôi miếu cổ đã xuống cấp và hư hỏng; nhân dân địa phương đã dựng lại miếu trên nền đất cũ để tiếp tục việc thờ phụng.
Sự hiện diện của miếu ông Trạng cùng những tư liệu liên quan đến Trạng nguyên Lưu Danh Công là những dấu tích góp phần phản ánh truyền thống văn hiến và ý thức gìn giữ di sản lịch sử, văn hóa của cộng đồng cư dân Phương Liệt.

Chùa Linh Quang và truyền thống cách mạng, kháng chiến của làng Phương Liệt
Cùng với quá trình hình thành làng Phương Liệt, nhân dân địa phương đã xây dựng đình và chùa làm nơi sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa của cộng đồng. Chùa làng có tên chữ là Linh Quang tự, tên gọi dân gian là chùa Vọng, gắn với tên Nôm của làng Phương Liệt. Trước đây, di tích thuộc phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội; hiện nay nằm tại ngõ 377 đường Giải Phóng, thuộc phường Tương Mai, thành phố Hà Nội.
Theo tư liệu hiện có, chùa được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 43 (1782). Quần thể kiến trúc gồm các hạng mục: Tam quan, Tiền đường, Thượng điện, nhà Tổ, nhà Mẫu, Lầu chúa và hệ thống sân vườn.
Từ cổng Tam quan hai tầng mái đi vào là khu chùa chính, gồm Tiền đường và Thượng điện được bố trí theo kiểu chữ Đinh (丁). Tòa Tiền đường gồm 5 gian; Thượng điện được xây dựng theo chiều dọc, nối với gian giữa Tiền đường. Phía sau là dãy nhà thờ Tổ và thờ Mẫu. Bên phải chùa có một công trình thờ các cô, được nhân dân địa phương quen gọi là Lầu chúa.
Trải qua thời gian và những biến động của lịch sử, các hạng mục kiến trúc của chùa đã được trùng tu, sửa chữa lớn vào hai năm 1954 và 1990, góp phần duy trì diện mạo và hoạt động tín ngưỡng của di tích.
Không chỉ có giá trị về kiến trúc, chùa Linh Quang còn lưu giữ nhiều di vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật. Đáng chú ý là hệ thống tượng tròn được chế tác bằng đất luyện, có niên đại từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, thể hiện kỹ thuật tạo tác và đặc trưng nghệ thuật điêu khắc Phật giáo truyền thống.
Bên cạnh đó, di tích còn bảo tồn hệ thống bia hậu ghi nhận công đức của những người có đóng góp trong việc xây dựng, tu bổ và duy trì hoạt động của chùa. Trong số các tư liệu được ghi nhận có tấm bia liên quan đến việc xây dựng chùa, mang niên đại năm 1725, dưới triều vua Lê Dụ Tông. Chính giữa bia khắc ba chữ Hán “Bát Nhã Thiền” (般若禪), phía dưới có hình phù điêu một vị quan ngồi khoanh chân. Ngoài khu vực cổng chùa còn có đôi hổ đá thời Lê Trung Hưng, được nhận định có phong cách tạo tác tương đồng với tượng hổ tại hành cung Cổ Bi.
Những di vật, cổ vật còn lưu giữ tại chùa là nguồn tư liệu quan trọng, góp phần phản ánh lịch sử hình thành, quá trình phát triển và những giá trị nghệ thuật của di tích qua các thời kỳ.
Bên cạnh giá trị lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật, đình, chùa Phương Liệt còn gắn với những sự kiện cách mạng và kháng chiến quan trọng của địa phương, đặc biệt trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị, quân sự tại địa phương là sự hiện diện của sân bay Bạch Mai. Khu vực sân bay có diện tích khoảng 180 ha, nằm trên địa bàn các làng Phương Liệt, Khương Thượng, Khương Trung, Khương Hạ và Định Công Thượng. Công trình được thực dân Pháp khởi công xây dựng năm 1931, cơ bản hoàn thành năm 1935, trở thành một căn cứ quân sự quan trọng, phục vụ hoạt động vận chuyển quân, trinh sát và oanh tạc. Trong kháng chiến chống Mỹ, khu vực này cũng nằm trong địa bàn chịu ảnh hưởng của các hoạt động quân sự và những trận đánh phá bằng không quân.
Trong thời kỳ vận động cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, đình Phương Liệt là một cơ sở hoạt động của lực lượng cách mạng tại địa phương. Tại đây, một tổ chức Việt Minh được xây dựng và phát triển; đình đồng thời là địa điểm liên lạc, tiếp nhận tài liệu phục vụ công tác tuyên truyền, vận động quần chúng của Mặt trận Việt Minh.
Ngày 19/8/1945, tại sân đình Phương Liệt, lực lượng Việt Minh đã tập hợp quần chúng, tổ chức mít tinh và tuyên bố giành chính quyền. Hai nhà Tả mạc và Hữu mạc của đình được sử dụng làm nơi làm việc của Ủy ban Cách mạng lâm thời, sau đó là Ủy ban Kháng chiến lâm thời.
Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954), đình Phương Liệt tiếp tục là địa điểm phục vụ hoạt động cách mạng. Di tích được sử dụng làm nơi liên lạc, cất giấu vũ khí và tài liệu, tổ chức huấn luyện, hội họp, đồng thời là điểm trung chuyển cán bộ vào nội thành hoạt động.

Những dấu tích chiến tranh trong kháng chiến chống Mỹ
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, khu vực Phương Liệt tiếp tục chịu tác động nặng nề của chiến tranh do nằm gần sân bay Bạch Mai, một mục tiêu quân sự quan trọng. Theo tư liệu địa phương, hậu cung đình Phương Liệt bị bom Mỹ đánh sập trong giai đoạn 1965–1972.
Đặc biệt, vào cuối tháng 12/1972, trong chiến dịch không kích Hà Nội, máy bay B-52 của Mỹ ném bom khu vực sân bay Bạch Mai. Theo ghi chép của địa phương, một số quả bom đã rơi xuống hồ Phương Liệt.
Những sự kiện trên cho thấy đình Phương Liệt không chỉ là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng mà còn là địa điểm gắn bó với phong trào cách mạng và cuộc đấu tranh bảo vệ quê hương qua hai cuộc kháng chiến. Đây là những dấu ấn lịch sử góp phần làm phong phú thêm giá trị của hệ thống di tích làng Phương Liệt.

Các vị sư trụ trì và đóng góp đối với phong trào cách mạng
Trong lịch sử hình thành và phát triển của chùa Linh Quang, hai vị sư trụ trì là Thích Đàm Chỉnh và Thích Đàm Khánh có những đóng góp quan trọng, không chỉ trong hoạt động Phật sự mà còn trong phong trào cách mạng tại địa phương.
Theo nội dung văn bia chữ Quốc ngữ dựng tại chùa năm 2005, chùa Linh Quang làng Phương Liệt trước đây thuộc Sơn môn Thọ Ngãi, từng là địa điểm hội họp bí mật của các chiến sĩ cách mạng địa phương, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ngày 19/8/1945. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đình và chùa Phương Liệt trở thành địa điểm đi lại, liên lạc của các chiến sĩ biệt động giữa hậu phương và vùng địch kiểm soát.
Đặc biệt, hai vị sư trụ trì đã tham gia nuôi dưỡng, che giấu cán bộ, cất giấu tài liệu và vũ khí phục vụ hoạt động của lực lượng biệt động. Dù bị địch bắt giữ và tra tấn, các vị vẫn kiên quyết giữ bí mật, không khai báo. Với những đóng góp đó, hai vị sư đã được Nhà nước trao tặng Huy chương Kháng chiến.
Những hoạt động và cống hiến của các vị sư trụ trì là minh chứng cho tinh thần yêu nước, sự gắn bó giữa Phật giáo với phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Phương Liệt trong những năm tháng kháng chiến.

Dấu tích thờ tự và sự gắn kết với Sơn môn Thọ Ngãi
Do khuôn viên chùa Linh Quang có diện tích hạn chế, bảo tháp của các vị sư Tổ được an trí tại một số ngôi chùa khác thuộc Sơn môn Thọ Ngãi. Hiện nay, tại chùa làng Vọng và chùa làng Thúy Lĩnh (phường Lĩnh Nam, Hà Nội) còn lưu giữ tượng thờ hai vị sư Tổ của chùa Vọng là sư cụ Thích Đàm Chỉnh và sư cụ Thích Đàm Khánh.
Đáng chú ý, trong khu vườn tháp chùa làng Thúy Lĩnh hiện còn tòa tháp của sư cụ Thích Đàm Khánh. Những dấu tích thờ tự này không chỉ thể hiện sự tôn kính, tưởng nhớ của các thế hệ tăng ni, Phật tử đối với những vị tiền bối mà còn phản ánh mối quan hệ gắn bó giữa chùa Linh Quang với hệ thống chùa thuộc Sơn môn Thọ Ngãi.
Việc bảo tồn tượng thờ và bảo tháp các vị sư Tổ tại những địa điểm khác nhau góp phần lưu giữ ký ức lịch sử, truyền thống tu hành và những đóng góp của các vị cao tăng đối với chùa Linh Quang cũng như cộng đồng Phật giáo địa phương.

Giá trị lịch sử và việc xếp hạng di tích
Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, kiến trúc và truyền thống cách mạng, cụm di tích đình Phương Liệt – chùa Linh Quang – miếu ông Trạng đã được Bộ Văn hóa và Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia năm 1993.
Đây là sự ghi nhận đối với những giá trị lịch sử, văn hóa của cụm di tích, đồng thời khẳng định vai trò của các công trình tín ngưỡng truyền thống trong đời sống cộng đồng và lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Phương Liệt.
Trải qua bao biến thiên của lịch sử, vùng đất Phương Liệt vẫn bền bỉ lưu giữ những giá trị văn hóa, lịch sử và truyền thống tốt đẹp được các thế hệ cư dân vun đắp, trao truyền. Tên chữ Phương Liệt (芳烈) hàm chứa niềm tự hào và ước vọng của cha ông về một vùng đất có danh tiếng tốt đẹp, nơi hội tụ những con người tài đức, có khí tiết và sự nghiệp lưu danh hậu thế. Truyền thống ấy được bồi đắp qua các thế hệ, in dấu trong lịch sử hình thành làng quê, trong những nhân vật tiêu biểu, những công trình tín ngưỡng và cả những trang sử đấu tranh cách mạng kiên cường của nhân dân địa phương.
Trong dòng chảy văn hóa ấy, chùa Linh Quang (chùa Vọng) là một di sản tiêu biểu, gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân Phương Liệt. Không chỉ là chốn thiền môn thanh tịnh, nơi gửi gắm niềm tin tâm linh và thực hành tín ngưỡng Phật giáo, ngôi chùa còn lưu giữ hệ thống di vật, cổ vật có giá trị như tượng thờ, văn bia, hoành phi, câu đối cùng những dấu tích kiến trúc mang đậm dấu ấn nghệ thuật truyền thống. Mỗi hiện vật, mỗi hạng mục kiến trúc đều góp phần kể lại câu chuyện về lịch sử hình thành, quá trình tồn tại và sự tiếp nối văn hóa của một làng quê vùng ven kinh thành Thăng Long xưa.
Đặc biệt, những đóng góp của hai vị sư Tổ Thích Đàm Chỉnh và Thích Đàm Khánh trong hoạt động cách mạng đã làm sáng thêm giá trị lịch sử của ngôi cổ tự. Hình ảnh các vị sư kiên trung, một lòng bảo vệ cán bộ, nuôi dưỡng và che chở lực lượng cách mạng giữa những năm tháng chiến tranh gian khổ là minh chứng sinh động cho tinh thần yêu nước, sự gắn bó giữa đạo pháp với dân tộc. Qua đó, chùa Linh Quang không chỉ hiện diện trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng mà còn trở thành một phần ký ức lịch sử đáng trân trọng của quê hương Phương Liệt.
Ngày nay, trong quá trình đô thị hóa và những thay đổi về địa giới hành chính, các giá trị truyền thống của vùng đất Phương Liệt vẫn được lưu giữ qua những di tích, di vật và ký ức cộng đồng. Chùa Linh Quang cùng đình Phương Liệt, miếu ông Trạng là những chứng tích quý báu kết nối quá khứ với hiện tại, góp phần bồi đắp bản sắc văn hóa và niềm tự hào của các thế hệ người dân địa phương.
Bảo tồn và phát huy giá trị cụm di tích không chỉ là gìn giữ những công trình kiến trúc cổ hay các di vật lịch sử, mà còn là gìn giữ cội nguồn văn hóa, đạo lý và truyền thống tốt đẹp của quê hương. Đó cũng là trách nhiệm của các thế hệ hôm nay trong việc trân trọng di sản cha ông, tiếp nối mạch nguồn văn hiến và trao truyền những giá trị lịch sử, văn hóa quý báu cho mai sau. Chùa Linh Quang mãi là biểu tượng của đời sống tâm linh, lòng yêu nước và sức sống văn hóa bền bỉ trên vùng đất Phương Liệt, một miền quê giàu truyền thống, nơi quá khứ luôn hiện diện và tỏa sáng trong đời sống hôm nay.
Bùi Thế Cường
Tài liệu tham khảo
[1] Bùi Xuân Đính (2004). Làng Sét. Truy cập tại: https://hanoimoi.vn/lang-set-29005.html
[2] Truy cập tại: https://yootek.vn/tin-tuc-su-kien/cong-nghe-tri-thuc/van-hoa/chua-phuong-liet-linh-quang-tu/
[3] Phương (芳): Có nghĩa là mùi thơm, hương thơm tinh khiết. Liệt (烈): Có nghĩa là sáng oanh liệt, rạng rỡ, rực rỡ, đồng thời, “liệt” cũng chỉ sự chí khí, sức mạnh, sự kiên trung hoặc sự nghiệp lớn lao mà tiền nhân để lại.
[4] Truy cập tại: https://baodautu.vn/co-dien-tran-phu-giu-truyen-thong-vuon-minh-bay-xa-d113574.html
[5]Truy cập tại: https://nguoihanoi.vn/dinh-phuong-liet-chua-linh-quang-va-mieu-ong-trang-quan-thanh-xuan-71923.html
[6] Truy cập tại: http://vietlandmarks.com/module/groups/action/view/id/1504
[7] Năm 2001, quận Thanh Xuân đã đầu tư kinh phí để phục hồi lại. Đình còn được UBND thành phố Hà Nội gắn biển Di tích cách mạng – kháng chiến vào năm 2010.
Bài viết cùng chuyên mục
Từ Hải Vân quan đến Hoành Sơn quan: một kỳ vọng về sự chung tay giữ gìn di sản
Côn Đảo – Bản hùng ca giữa biển trời Đông Nam Tổ quốc
Giồng Bốm trong mạch nguồn Nam Bộ kháng chiến
Lộ Vòng Cung Cần Thơ: Từ “vành đai lửa” đến biểu tượng của thế trận lòng dân
Mấy suy nghĩ về Kim Long – một phường giàu tiềm năng của xứ Huế
Ưng Bình Thúc Giạ Thị và Châu Hương Viên: Từ một nhân cách văn hóa đến không gian di sản sống của Huế

