Chủ Nhật, Tháng 9 27, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Nối kết không gian kinh tế – Năng lực doanh nghiệp, xóa Khoảng cách làm  Kinh tế tư nhân “chậm lớn”, Miền Trung cất cánh



ĐNA -

(Đà Nẵng) – Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026 – Phiên bàn tròn kết nối nội lực cấp miền – khu vực Miền Trung, Tây Nguyên diễn ra ngày 26/9/2026, là phiên bàn tròn cấp miền thứ II trong khuôn khổ VPSF 2026 do Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam (YBA) tổ chức. Tại diễn đàn, cộng đồng doanh nghiệp Trung bộ – Tây Nguyên cùng nhận diện những điểm nghẽn chung từ thực tiễn từng đơn vị, tổ chức, đồng thời đề xuất chuỗi giải pháp nhằm tạo động lực để kinh tế tư nhân toàn khu vực bứt phá trong giai đoạn phát triển mới.

Tọa đàm của Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 (Phiên Kết nối nội lực cấp Miền – Khu vực Miền Trung, 26/9/2026, tại Đà Nẵng)Ảnh: Minh Tuyết.

Điểm nhấn tựu trung là phải hình thành bằng được và khai thác tối ưu các cơ hội liên kết để toàn Miền cất cánh. Các trao đổi tại Diễn đàn đã tập trung vào yêu cầu “chuyển đổi mạnh mẽ” từ “kết nối” sang “liên kết thực chất”. Hiệu quả của liên kết cần được đo bằng kết quả thực tế: thời gian và chi phí của doanh nghiệp được giảm; doanh nghiệp được nâng chuẩn; số nhà cung ứng mới được hình thành; đơn hàng và hợp đồng được ký kết; năng suất và giá trị gia tăng được cải thiện.

Phó Chủ tich Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam – Chủ tịch YBA Việt Nam, ông Đặng Hồng Anh chia sẻ tinh thần “đồng kiến tạo chính sách” của lực lượng doanh nhân Trẻ mà Diễn đàn VPSF luôn theo đuổi: “Không chỉ cùng nói về điểm nghẽn, mà cùng tổ chức nguồn lực để tháo gỡ. Không chỉ đếm số kiến nghị được tiếp nhận, mà đo bằng thời gian và chi phí được giảm; doanh nghiệp được nâng chuẩn; năng suất được cải thiện; hợp đồng được ký kết và thị trường được mở rộng”.

Miền Trung (sau điều chỉnh địa giới hành chính (tháng 7/2025) hiện gồm 11 tỉnh, thành phố, được chia thành hai không gian: Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ – Tây Nguyên). Đến thời điểm (Phiên bàn tròn cấp Miền diễn ra ở Đà Nẵng, vào ngày 26/9/2026), đã có 9/11 địa phương tổ chức Vòng đối thoại cấp tỉnh/thành phố.

Ban Tổ chức đã tổng hợp 404 ý kiến, kiến nghị và sáng kiến. Trong đó, 174 nội dung, chiếm 43,1%, được giải quyết, làm rõ hoặc định hướng xử lý ngay tại Phiên đối thoại; 172 nội dung, chiếm 42,6%, được địa phương tiếp thu để tiếp tục xử lý; 58 nội dung (14,3%), cần phối hợp liên vùng hoặc chuyển lên cấp có thẩm quyền cao hơn. Gần 400 nội dung nói trên, cho thấy các nhóm vấn đề chung được lặp lại ở hầu hết địa phương: Thể chế và thực thi; Hạ tầng và Logistics; Thị trường và chuỗi cung ứng; công nghệ và dữ liệu; chuyển đổi xanh; vốn; nhân lực và quản trị.

Chủ tịch YBA Việt Nam, ông Đặng Hồng Anh đã đề nghị phiên Bàn tròn diễn ra ngày 26/9/2026, đi vào trao đổi sâu và kiến tạo chiều hướng hành động cụ thể cho 5 bài toán:  Một: Tăng tính tương thích về dữ liệu, đầu mối hỗ trợ và cơ chế theo dõi kiến nghị doanh nghiệp giữa các địa phương. Hai: Lựa chọn một số hành lang Logistics và chuỗi hàng hóa Đông – Tây thực sự có tiềm năng, phân tích đến từng mắt xích từ vùng nguyên liệu, chế biến, kho bãi đến cảng biển, cửa khẩu và thị trường. Ba: Nghiên cứu chương trình phát triển Nhà cung ứng miền Trung, kết nối dữ liệu doanh nghiệp với nhu cầu mua hàng của các tập đoàn, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp đầu chuỗi; theo dõi cho đến khi hình thành hợp đồng.

Chủ tịch YBA Việt Nam, ông Đỗ Hồng Anh (bìa phải ảnh, đang phát biểu); bên cạnh là Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng,ông Phan Thái Bình.

Bốn: Chuyển cách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ từ những chương trình riêng lẻ, sang một gói nâng cấp năng lực đồng bộ, đặt công nghệ, AI, dữ liệu, chuyển đổi xanh, tiêu chuẩn, vốn và quản trị trong cùng một bài toán. Công nghệ chỉ có ý nghĩa khi làm tăng năng suất; chuyển đổi xanh chỉ bền vững khi giúp doanh nghiệp giữ được hoặc mở thêm thị trường.

Và Năm: Tổ chức lại liên kết về nguồn nhân lực và kỹ năng theo nhu cầu của từng chuỗi ngành. Doanh nghiệp có thể mua được máy móc nhưng chưa chắc có người vận hành; có thị trường nhưng chưa chắc có đội ngũ đáp ứng tiêu chuẩn; có vốn nhưng chưa chắc có năng lực quản trị để hấp thụ vốn hiệu quả.

3 khoảng cách lớn đã và đang “làm chậm lại” năng lực tự lớn lên của doanh nghiệp
Khái quát 3 khoảng cách lớn của tình hình, mà vòng đối thoại cấp địa phương đã chỉ ra, Chủ tịch YBA Việt Nam, ông Đỗ Hồng Anh nhấn mạnh: Trước hết từ chủ trương đến thực thi. Doanh nghiệp chia sẻ rằng, họ không chỉ cần biết chính sách có hay không, mà cần biết cụ thể: Hồ sơ đang ở đâu, ai là người chịu trách nhiệm, bao lâu có kết quả, dữ liệu nào phải cung cấp và khi có nhiều sở, ngành cùng tham gia thì ai là đầu mối cuối cùng ?

Một doanh nghiệp tại Khánh Hòa phản ánh: Dự án phải mất từ 1 đến 5 năm để hoàn tất các thủ tục pháp lý. Trong khi đó, mô hình của Huế cho thấy cùng một vấn đề, nếu phân loại trước, giao đúng đầu mối và theo dõi đến cùng, thì kết quả có thể khác hẳn. Vì vậy, cải cách thể chế không chỉ là sửa thêm quy định; rất nhiều vấn đề có thể cải thiện ngay bằng chất lượng thực thi. Thời gian của doanh nghiệp là chi phí; sự không chắc chắn về thời gian cũng là một loại chi phí. Một phiên, một lần đối thoại hiệu quả, không chỉ phụ thuộc vào chính sách, mà còn ở cách tổ chức thực thi: Vấn đề có được phân loại đúng, đến đúng người có thẩm quyền, có đầu mối theo dõi và đi đến kết quả cuối cùng hay không.

Vấn đề hạ tầng đến hành lang kinh tế. Miền Trung không thiếu những công trình hạ tầng lớn. Nhưng một tuyến cao tốc chưa tự nó tạo ra chuỗi giá trị; một cảng nước sâu chưa tự nó tạo ra nguồn hàng; một vùng nguyên liệu lớn chưa tự nó đi tới được thị trường quốc tế. Bắc Trung Bộ có các cực công nghiệp, khu kinh tế và cảng biển gắn với hành lang Đông – Tây. Duyên hải Nam Trung Bộ – Tây Nguyên lại bổ trợ rõ nét giữa vùng nguyên liệu phía Tây với chế biến, cảng biển và thị trường phía Đông.

Khoảng cách thứ ba là từ tăng trưởng của địa phương đến năng lực lớn lên của doanh nghiệp. Đây có lẽ là vấn đề cần được đặt mạnh nhất. Một địa phương có thể thu hút thêm nhiều tỷ USD đầu tư, xây dựng thêm khu công nghiệp, đón những tập đoàn lớn. Nhưng nếu doanh nghiệp địa phương vẫn chỉ cung ứng những sản phẩm, dịch vụ giá trị thấp, hoặc thậm chí đứng ngoài chuỗi cung ứng, thì hiệu ứng lan tỏa sẽ thấp hơn nhiều so với tiềm năng.

Doanh nghiệp Miền Trung Việt Nam đứng ở đâu trong chuỗi tạo ra giá trị?
Một số liệu được đưa ra tại Diễn đàn rất đáng đáng suy ngẫm: Tỷ lệ đến 80,1% kim ngạch xuất khẩu thuộc khu vực FDI. Vậy Doanh nghiệp Miền Trung-Tây Nguyên nói riêng, doanh nghiệp Việt Nam nói chung, đang đứng ở đâu trong chuỗi tạo ra giá trị ?

Phải chăng doanh nghiệp Việt chúng ta chưa hề biết người mua cần tiêu chuẩn gì; mình đang thiếu năng lực nào ? Ai sẽ giúp nâng chuẩn ? ; Vốn để nâng cấp sẽ đến từ đâu ?. Và khi đạt chuẩn thì có được thử nghiệm đơn hàng hay không ? . Sau cùng, có đi tới hợp đồng hay không ?.

Chúng ta xúc tiến thương mại rất nhiều, kết nối B2B cũng nhiều. Nhưng thước đo cuối cùng của xúc tiến thương mại phải là đơn hàng. Thước đo của chương trình phát triển nhà cung ứng phải là Số doanh nghiệp thực sự hiện diện trong chuỗi cung ứng. Đây không là bài học mới mà bài học sẵn có từ thực tế. Câu chuyện có lẽ không thể dừng lại ở tổ chức hội nghị (xúc tiến, liên kết) và gặp gỡ chỉ để làm quen và trao danh thiếp.

Chuyên gia Kinh tế đề xuất: Làm ngay yêu cầu thiết lập một cơ chế điều phối vùng và liên vùng; phân vai hệ thống cảng biển, Logistics; hình thành thiết chế Thường trực (đại diện) của doanh nghiệp miền Trung-Tây Nguyên đặt tại Đà Nẵng. Ảnh minh họa: T.Ngọc.

Loay hoay chuyển hóa nguồn lực thành năng suất
Lợi thế cạnh tranh ngày nay không còn chỉ ở tài nguyên, lao động hay vị trí địa lý, mà ở năng lực thích ứng, kết nối và.

Nền kinh tế đang có những động lực mạnh mẽ, nhưng chính bức tranh ấy đặt ra cho khu vực kinh tế tư nhân một vấn đề cần nhìn nhận thẳng thắn: Quy mô kinh tế có thể tăng nhanh, đầu tư có thể tăng mạnh, xuất khẩu có thể lập kỷ lục; nhưng doanh nghiệp Việt Nam đứng ở đâu trong chuỗi tạo ra giá trị ấy, giữ lại được bao nhiêu và có lớn lên cùng tăng trưởng hay không? Với miền Trung – vùng đất giàu tiềm năng nhưng còn nhiều trăn trở – câu hỏi ấy càng mang tính thời sự.

Trên thực tế toàn Vùng đang sở hữu một cấu trúc kinh tế rất đặc biệt. Một bên là biển, cảng nước sâu, khu kinh tế, công nghiệp, du lịch và các đô thị ven biển; một bên là Tây Nguyên, vùng nguyên liệu, nông nghiệp, năng lượng, cửa khẩu và hành lang kết nối sang Lào, Campuchia. Ở giữa là hệ thống cao tốc, quốc lộ, sân bay, đường sắt, các khu công nghiệp và một cộng đồng doanh nghiệp đang lớn lên từng ngày.

“Nhưng câu chuyện của miền Trung hôm nay không còn là “Chúng ta có nguồn lực gì?”. Câu hỏi quan trọng hơn là: Những nguồn lực đó đang được kết nối với nhau như thế nào; một đồng vốn đầu tư tạo ra bao nhiêu năng lực mới cho doanh nghiệp địa phương; một tuyến cao tốc tạo ra bao nhiêu dòng hàng mới; một dự án FDI tạo ra bao nhiêu nhà cung ứng Việt Nam; và cuối cùng, tăng trưởng của địa phương chuyển hóa thành sự lớn lên của doanh nghiệp bản địa đến đâu ?

Có bao nhiêu giá trị từ nguồn lực toàn Vùng, Doanh nghiệp “tại chỗ” hấp thụ và giữ lại
Một câu hỏi cũng cần thay đổi từ “Còn thiếu công trình nào?” sang “Mắt xích nào đang làm tăng chi phí của cả chuỗi?”. Có nơi thiếu kho lạnh, có nơi thiếu trung tâm sơ chế, có nơi thiếu dữ liệu luồng hàng, có nơi cảng đã có nhưng nguồn hàng và doanh nghiệp phía sau chưa đủ mạnh. Liên kết vùng, vì thế, không chỉ là nối những địa danh trên bản đồ, mà phải nối được dòng hàng, dòng vốn, dữ liệu, doanh nghiệp và thị trường”. – Chủ tịch YBA Việt Nam, ông Đặng Hồng Anh phân tích.

Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, hiện là thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính – Tiền tệ Quốc gia, PGS.TS Trần Đình Thiên phát biểu tại bàn tròn, phiên diễn ra 26/9/2026 (tại Đà Nẵng). Ảnh: Minh Tuyết.

Chung tầm nhìn, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, Chủ tịch YBA Gia Lai, ông Vũ Hồng Quân,phân tích thêm: Với cộng đồng doanh nghiệp, điều đáng quan tâm không chỉ là bao nhiêu nguồn lực sẽ đến với vùng. Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị (ban hành ngày 28/8/2026) xác định rõ “tổ chức lại không gian phát triển vượt khỏi địa giới hành chính, coi cơ chế liên kết vùng là khâu đột phá”. Với cộng đồng doanh nghiệp, yêu cầu ấy đã chuyển thành một câu hỏi rất cụ thể: Làm sao để một cơ hội tại Đà Nẵng có thể trở thành cơ hội của doanh nghiệp Gia Lai, và nguồn lực Tây Nguyên có thể trở thành đầu vào cho doanh nghiệp ven biển.

Câu trả lời hiện nay vẫn còn một khoảng cách khá lớn so với kỳ vọng. Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME/ Small and Medium-sized Enterprises) chiếm hơn 98% số doanh nghiệp, nhưng mới tiếp cận khoảng 19–20% tổng dư nợ tín dụng.

Nguồn lực hỗ trợ không phải không có, song hiệu quả tiếp cận còn hạn chế: sau 13 năm hoạt động, Quỹ Phát triển doanh nghiệp SME mới giải ngân khoảng 1.400 tỷ đồng; các quỹ bảo lãnh tín dụng đạt doanh số bảo lãnh 43.000 tỷ đồng nhưng chỉ khoảng 1.000 SME được thụ hưởng. Thực tế đó cho thấy một vấn đề căn bản rằng thị trường có nhu cầu, nguồn lực có, doanh nghiệp cũng có năng lực, nhưng giữa các yếu tố ấy vẫn thiếu những điểm nối đủ hiệu quả.

Tăng trưởng cao và bền vững phải đến từ việc sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, năng suất cao hơn, doanh nghiệp nội địa mạnh hơn và các địa phương liên kết với nhau thực chất hơn. Giá trị của Phiên Bàn tròn hôm nay, vì vậy, không nằm ở số lượng kiến nghị, mà ở việc lựa chọn được một số vấn đề đủ lớn và đủ cụ thể để xử lý đến cùng: Vấn đề nào địa phương tự giải quyết, vấn đề nào cần liên vùng phối hợp, vấn đề nào cần kiến nghị Trung ương (TƯ) ; Ai là đầu mối, thời hạn bao lâu và kết quả đo bằng gì ?

Diễn đàn đồng thuận với quan diểm: Nhà nước (chính quyền cấp Tỉnh/Thành phố và TƯ) tiếp tục hoàn thiện thể chế, hạ tầng và môi trường kinh doanh; Doanh nghiệp chủ động đầu tư, đổi mới, nâng cao năng lực quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị; các tổ chức đại diện doanh nghiệp làm cầu nối, tập hợp và chuyển tải những vấn đề từ thực tiễn tới cơ quan quản lý.

“Câu chuyện vẫn “Nóng” là cần tiếp tục nâng cao chất lượng thực thi chính sách, bảo đảm quy định được triển khai thống nhất, rõ ràng và tăng cường sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách. Khơi thông cho được nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn, tăng cường chia sẻ thông tin về dự án, nhu cầu cung ứng và năng lực sản xuất để thúc đẩy liên kết doanh nghiệp trong khu vực.

Phát huy cả thế mạnh của hợp lực Công – Tư trong phát triển hạ tầng, Logistics, chuỗi cung ứng, đào tạo nhân lực và đổi mới sáng tạo, qua đó tăng cường liên kết vùng và tạo động lực phát triển bền vững”- ông Nguyễn Văn Tuấn, Ủy viên Ủy ban Trung ương Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Thanh Hóa đề xuất.

Tại diễn đàn, nhiều ý kiến gặp nhau ở đề xuất: Thế mạnh của hợp lực Công – Tư trong phát triển hạ tầng, Logistics, chuỗi cung ứng, đào tạo nhân lực và đổi mới sáng tạo, tăng cường liên kết vùng để tạo động lực phát triển bền vững cho Vùng. Ảnh minh họa: T.Ngọc.

Liên kết vùng trên không gian số: Nối kết dữ liệu năng lực doanh nghiệp Miền Trung-Tây Nguyên
Phó Chủ tịch Hội YBA Việt Nam, Chủ tịch YBA Gia Lai, ông Vũ Hồng Quân, nhìn nhận và đề xuất: Một vùng kinh tế mạnh, không chỉ bởi có nhiều dự án lớn đi qua. Mà mạnh lên bởi sau mỗi dự án lớn, có thêm những doanh nghiệp địa phương đủ sức bước vào chuỗi giá trị; sau mỗi đồng vốn đầu tư, có thêm được năng lực sản xuất, công nghệ và thị trường được tích lũy ở lại. Đó là phần giá trị bền vững nhất mà một chu kỳ đầu tư có thể để lại cho Miền Trung – Tây Nguyên.

Muốn vậy, chúng ta cần bắt đầu từ những việc rất cụ thể như làm cho năng lực doanh nghiệp được nhìn thấy, lấy nhu cầu thị trường dẫn dắt nguồn lực hỗ trợ và xây dựng một hệ thống Hội đủ năng lực đồng hành với doanh nghiệp từ khi còn nhỏ đến khi có thể đứng vững trong những chuỗi cung ứng lớn hơn.

Khi đường nối được thị trường, dữ liệu nối được doanh nghiệp và các Hội nối được nguồn lực giữa các địa phương, đoạn giữa của chiếc đòn gánh mới thực sự trở thành một phần xương sống của nền kinh tế. Khi ấy, những cơ hội đang mở ra trên miền Trung – Tây Nguyên sẽ không chỉ tạo nên những công trình mới, mà còn tạo nên một thế hệ doanh nghiệp mới, minh bạch hơn, đủ chuẩn hơn và có khả năng giữ lại nhiều hơn giá trị cho chính vùng đất mình này.

Liên kết vùng – Liên kết doanh nghiệp – Liên kết lợi thế mỗi địa phương, một lần nữa được PGS.TS Trần Đình Thiên, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính – tiền tệ Quốc gia nhắc lại. Ông tiếp tục khẳng định: Miền Trung – nơi được coi là “Đòn gánh, gánh cả non sông” – không thiếu lợi thế, mà thiếu cách liên kết để cộng hưởng lợi thế. Vùng có 14/34 cảng biển, 12 cảng hàng không, 11 khu kinh tế ven biển, nhưng với 26,79% dân số mới đóng góp 19,26% GDP cả nước; hạ tầng còn dàn trải theo kỳ vọng của từng địa phương, chưa có trục ngang cao tốc hoàn chỉnh nối duyên hải với Tây Nguyên,….

Hàng hóa dồi dào từ khu vực Tây Nguyên còn hạn chế khả năng tham gia chuỗi cung ứng do hạ tầng giao thông còn khoảng cách. PGS.TS Trần Đình Thiên đặc biệt lưu ý hạn chế này.Ảnh minh họa: T.Ngọc.

PGS.TS Trần Đình Thiên đưa ra thêm hình ảnh so sánh: Các “Cực tăng trưởng” hiện mới là “những hòn đảo công nghiệp”, chưa phải “một Quần đảo có cầu nối”. Ông đề xuất chuyển từ liên kết theo địa giới, sang liên kết theo chuỗi giá trị, lấy doanh nghiệp làm chủ thể và Đà Nẵng là điểm hội tụ dịch vụ của vùng. Có 3 việc cần làm ngay: Thiết lập cơ chế điều phối vùng và liên vùng; phân vai hệ thống cảng biển, Logistics; và hình thành thiết chế Thường trực (đại diện) của doanh nghiệp miền Trung-Tây Nguyên đặt tại Đà Nẵng.

Đi vào cụ thể hơn, ông Mai Minh Vương, Chủ tịch YBA Đà Nẵng, cho rằng phải đưa liên kết Vùng và cả hợp lực Công – Tư, trở thành những cơ chế phối hợp thực chất, tạo động lực phát triển mới cho khu vực. Muốn vậy, liên kết phải đi vào từng lĩnh vực, từng không gian kinh tế của miền Trung và Tây Nguyên, như chuỗi cung ứng, thị trường, Logistics, công nghệ, dữ liệu, nguồn nhân lực và đầu tư. Liên kết với quy trình: Xác định rõ đầu mối – Có tiêu chí rất cụ thể để đánh giá kết quả liên kết, không chung chung.

Diễn đàn VPSF cấp Miền tại Đà Nẵng, cũng nhìn rất thẳng vào cục diện và chính mình, không ngại đưa ra những quan điểm “không thể làm theo cách cũ, theo lối mòn”, đưa tuân thủ pháp luật trở thành một nội dung của Quản trị doanh nghiệp:

“Doanh nghiệp chúng ta phải thay đổi ngay tư duy về kế toán – thuế, trong bối cảnh quản lý nhà nước ngày càng dựa trên dữ liệu và phân tích rủi ro. Doanh nghiệp cần chuyển từ “Chờ kiểm tra rồi giải trình” sang chủ động kiểm soát, chuẩn hóa và minh bạch dữ liệu ngay từ đầu. Bên cạnh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, doanh nghiệp cần chủ động cập nhật, tận dụng đúng các chính sách ưu đãi thuế và tối ưu chi phí trong khuôn khổ pháp luật. 5 nhóm hành động, gồm minh bạch dữ liệu, nâng cao năng lực tuân thủ, cập nhật chính sách, quản trị thuế và tăng chất lượng kiến nghị chính sách bằng dữ liệu, giải pháp cụ thể, chắc chắn là một trong những biện pháp giúp năng lực mỗi doanh nghiệp không ngừng lớn lên” – ông Nguyễn Trọng Hiếu, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Kiểm toán Afa, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Đà Nẵng, phân tích./.

Trần Ngọc