Thứ Năm, Tháng 10 15, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Kỳ II: Người viết sách giáo khoa – đủ tầm, đủ tâm và đúng chuyên môn

Chuyên đề nhiều kỳ: Sách giáo khoa và tương lai nền giáo dục Việt Nam
Kỳ I: Sách giáo khoa – ai viết, ai thẩm định, ai chịu trách nhiệm?



ĐNA -

Sách giáo khoa chất lượng phải được viết bởi những người có tri thức, đạo đức, trách nhiệm và năng lực sư phạm, biết chuyển hóa kiến thức phù hợp với chương trình và khả năng tiếp nhận của học sinh. Bởi sách giáo khoa không chỉ truyền thụ tri thức mà còn góp phần hình thành nhân cách, lòng yêu nước và khát vọng cống hiến. Vì vậy, lựa chọn người viết cần vượt ra ngoài học hàm, học vị, đặt trọng tâm vào năng lực chuyên môn, phẩm chất nghề nghiệp và tinh thần phụng sự Tổ quốc, góp phần xây dựng Việt Nam hùng cường.

Tiêu chuẩn người viết sách giáo khoa – Nền tảng quyết định chất lượng
Sách giáo khoa là sản phẩm giáo dục đặc biệt, không chỉ truyền thụ tri thức mà còn góp phần hình thành tư duy, nhân cách và năng lực của học sinh. Vì vậy, người viết sách giáo khoa không đơn thuần là người am hiểu chuyên môn mà phải có khả năng lựa chọn, hệ thống hóa và chuyển hóa tri thức thành nội dung giáo dục phù hợp với mục tiêu chương trình, đặc điểm tâm lý và trình độ tiếp nhận của từng lứa tuổi.

Một bản thảo chất lượng phải bảo đảm tính chính xác, khoa học, cấu trúc logic, ngôn ngữ trong sáng và phương pháp trình bày dễ hiểu, có tính sư phạm. Ngay cả những kiến thức đúng cũng có thể trở nên khó tiếp nhận nếu cách giải thích thiếu mạch lạc, ví dụ không phù hợp hoặc hoạt động học tập được tổ chức chưa hợp lý. Do đó, năng lực biên soạn của tác giả là yếu tố trực tiếp quyết định chất lượng nội dung sách giáo khoa.

Về cơ sở pháp lý, Văn bản hợp nhất số 15/VBHN-BGDĐT ngày 31/12/2024 quy định các tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa và tiêu chuẩn đối với tổ chức, cá nhân tham gia biên soạn. Những yêu cầu về trình độ đào tạo, chuyên ngành phù hợp, kiến thức khoa học giáo dục, kinh nghiệm giảng dạy hoặc nghiên cứu chuyên môn là căn cứ quan trọng để lựa chọn tác giả. Việc áp dụng phải bảo đảm tuân thủ các quy định hiện hành, bao gồm những nội dung sửa đổi, bổ sung còn hiệu lực. Đây là điều kiện pháp lý bắt buộc, đồng thời là cơ sở để xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực thực chất của người viết.

Tuy nhiên, đáp ứng tiêu chuẩn pháp lý mới là điều kiện cần, chưa đủ để khẳng định năng lực biên soạn. Học hàm, học vị, chức danh khoa học hay uy tín cá nhân không đồng nghĩa với khả năng viết sách giáo khoa tốt. Một nhà khoa học có chuyên môn sâu chưa chắc đã biết diễn đạt những vấn đề phức tạp thành kiến thức dễ hiểu đối với học sinh phổ thông. Ngược lại, một giáo viên giàu kinh nghiệm giảng dạy vẫn cần có nền tảng khoa học vững chắc, tư duy hệ thống và khả năng phát triển nội dung theo yêu cầu chương trình.

Bởi vậy, việc tuyển chọn tác giả cần chuyển từ coi trọng bằng cấp, danh tiếng sang đánh giá toàn diện năng lực chuyên môn, trình độ sư phạm, đạo đức học thuật, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng phối hợp trong tập thể biên soạn. Đặc biệt, cần chú trọng năng lực chuyển hóa tri thức khoa học thành nội dung học tập chính xác, dễ hiểu, có khả năng khơi gợi tư duy và phát triển năng lực người học. Đây phải là thước đo quan trọng khi xác định mức độ phù hợp của mỗi ứng viên.

Để thực hiện yêu cầu đó, cần xây dựng bộ tiêu chí tuyển chọn công khai, minh bạch, có khả năng kiểm chứng và phù hợp với đặc thù từng môn học, cấp học. Việc đánh giá không nên chỉ dựa vào hồ sơ lý lịch khoa học mà cần xem xét các công trình chuyên môn, kinh nghiệm giảng dạy, sản phẩm biên soạn mẫu và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phải có cơ chế thẩm định độc lập, trách nhiệm giải trình rõ ràng nhằm hạn chế sự chi phối của quan hệ cá nhân, uy tín hình thức hoặc những yếu tố ngoài chuyên môn.

Mục tiêu cuối cùng của tuyển chọn không phải tìm người có học hàm, học vị cao nhất hay danh tiếng lớn nhất, mà là lựa chọn những người có đủ tri thức, năng lực sư phạm, phẩm chất nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm để tạo ra sách giáo khoa chất lượng. Chỉ khi đặt chất lượng sản phẩm giáo dục và lợi ích của học sinh làm tiêu chuẩn cao nhất, việc lựa chọn đội ngũ tác giả mới thực sự trở thành nền tảng bảo đảm chất lượng sách giáo khoa.

Đủ tầm – Vững tri thức, giỏi chuyên môn, am hiểu thực tiễn
Đủ tầm trước hết là có nền tảng tri thức vững chắc, năng lực chuyên môn sâu và khả năng làm chủ nội dung được giao biên soạn. Người viết sách giáo khoa phải hiểu bản chất vấn đề, nắm vững kiến thức cốt lõi, phân biệt được những kết luận khoa học đã được xác lập với các giả thuyết hoặc quan điểm còn tranh luận. Trong bối cảnh tri thức không ngừng phát triển, năng lực cập nhật, kiểm chứng và lựa chọn nguồn thông tin đáng tin cậy trở thành yêu cầu thiết yếu. Người viết không chỉ cần biết sâu lĩnh vực của mình mà còn phải có tư duy khoa học, nhận thức rõ giới hạn chuyên môn, sẵn sàng tham khảo ý kiến chuyên gia để bảo đảm tính chính xác, khách quan của nội dung.

Tuy nhiên, giỏi chuyên môn chưa đồng nghĩa với giỏi biên soạn sách giáo khoa. Tri thức khoa học chỉ phát huy giá trị giáo dục khi được lựa chọn, hệ thống hóa và chuyển tải phù hợp với mục tiêu chương trình, đặc điểm tâm lý và năng lực tiếp nhận của học sinh. Người viết phải xác định rõ kiến thức nền tảng, nội dung mở rộng, trình tự trình bày và mối liên hệ giữa các khái niệm. Đưa quá nhiều thông tin dễ khiến bài học quá tải, thiếu trọng tâm; ngược lại, đơn giản hóa quá mức có thể làm sai lệch bản chất khoa học. Vì vậy, năng lực biên soạn thể hiện ở khả năng chọn lọc những kiến thức thiết yếu, diễn đạt chính xác, dễ hiểu, đồng thời khơi gợi tư duy và khả năng vận dụng của người học. Đây là sự kết hợp giữa trình độ chuyên môn, tư duy sư phạm và kinh nghiệm thực tiễn giáo dục.

Một yêu cầu quan trọng khác là am hiểu sâu sắc thực tiễn Việt Nam. Nội dung sách giáo khoa phải gắn với đời sống, phản ánh phù hợp điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc điểm của học sinh ở các vùng miền. Những ví dụ, tình huống, tư liệu được lựa chọn không chỉ bảo đảm tính khoa học mà còn cần gần gũi, có tính đại diện và giá trị giáo dục. Việc tiếp thu thành tựu, kinh nghiệm quốc tế là cần thiết nhưng phải được chọn lọc, kiểm chứng và vận dụng sáng tạo, tránh sao chép máy móc những mô hình không phù hợp với chương trình, điều kiện dạy học và bối cảnh Việt Nam. Am hiểu thực tiễn giúp người viết kết nối tri thức với cuộc sống, đồng thời hạn chế sự chênh lệch về khả năng tiếp cận nội dung học tập giữa các nhóm học sinh.

Bên cạnh năng lực cá nhân, người viết cần có khả năng hợp tác chuyên môn và tiếp nhận phản biện khoa học. Biên soạn sách giáo khoa là công việc có tính tổng hợp, đòi hỏi sự phối hợp giữa nhà khoa học, giáo viên giàu kinh nghiệm, chuyên gia giáo dục học và các lĩnh vực liên quan. Mỗi thành viên đóng góp thế mạnh riêng nhằm bảo đảm sự chính xác về kiến thức, tính phù hợp về phương pháp và khả năng triển khai trong thực tiễn dạy học. Tuy nhiên, hiệu quả phối hợp phải được đặt trên cơ sở phân công nhiệm vụ rõ ràng, kiểm chứng nguồn tư liệu, tôn trọng ý kiến phản biện và xác định trách nhiệm đối với sản phẩm cuối cùng.

Đủ tầm không có nghĩa là am hiểu mọi lĩnh vực, mà là làm chủ chuyên môn, có tư duy khoa học, năng lực sư phạm, hiểu biết thực tiễn và biết huy động trí tuệ tập thể để tạo ra những trang sách chính xác, thiết thực, phù hợp với học sinh Việt Nam. Đó là thước đo năng lực thực chất của người viết sách giáo khoa, vượt lên trên bằng cấp, chức danh hay danh tiếng cá nhân.

Đủ tâm – Trung thực học thuật, trách nhiệm với thế hệ trẻ
Đủ tâm trước hết là sự trung thực, liêm chính trong hoạt động học thuật và ý thức sâu sắc về trách nhiệm đối với thế hệ trẻ. Người viết sách giáo khoa phải tôn trọng sự thật, sử dụng tư liệu có nguồn gốc rõ ràng, trích dẫn đúng quy định và tuyệt đối không chiếm dụng thành quả trí tuệ của người khác. Mọi số liệu, hình ảnh, trích đoạn và nhận định đưa vào sách phải được kiểm chứng về độ chính xác, tính khách quan và giá trị giáo dục. Đối với những vấn đề còn tồn tại các cách lý giải khác nhau, người viết cần căn cứ vào bằng chứng khoa học, yêu cầu của chương trình và mức độ phù hợp với học sinh, không áp đặt quan điểm cá nhân thành kết luận mang tính chân lý. Đạo đức học thuật vì thế không chỉ thể hiện ở phẩm chất cá nhân mà phải được chứng minh bằng sự nghiêm túc, cẩn trọng trong từng nội dung biên soạn.

Trách nhiệm ấy càng trở nên quan trọng khi học sinh là đối tượng tiếp nhận tri thức, chưa có đầy đủ khả năng và điều kiện để tự kiểm chứng thông tin. Với vai trò là tài liệu học tập quan trọng, sách giáo khoa có ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, tư duy, tình cảm và sự hình thành nhân cách của các em. Một sai sót về dữ kiện, khái niệm hoặc cách diễn đạt có thể dẫn đến nhận thức lệch lạc, thậm chí để lại ảnh hưởng lâu dài. Vì vậy, người viết phải đặc biệt thận trọng trong lựa chọn ngôn ngữ, dẫn chứng và cách khái quát vấn đề, nhất là đối với những nội dung liên quan đến lịch sử, văn hóa, truyền thống dân tộc và đời sống xã hội. Mỗi trang sách cần bảo đảm tính chính xác, khách quan, công bằng và phù hợp với quá trình phát triển nhận thức của học sinh.

Đủ tâm còn thể hiện ở tinh thần cầu thị, tôn trọng phản biện và sẵn sàng sửa chữa sai sót. Không một cá nhân hay tập thể nào có thể bảo đảm bản thảo hoàn toàn không có hạn chế. Điều quan trọng là thái độ tiếp nhận góp ý, khả năng đánh giá chứng cứ và trách nhiệm điều chỉnh khi phát hiện những vấn đề chưa phù hợp. Phản biện khoa học không làm giảm uy tín của người viết mà góp phần hoàn thiện chất lượng sách giáo khoa. Tuy nhiên, việc tiếp thu phải có chọn lọc, dựa trên căn cứ chuyên môn, tránh chạy theo những nhận xét cảm tính hoặc sức ép dư luận nhất thời. Những điều chỉnh quan trọng cần được ghi nhận, giải trình minh bạch và chịu trách nhiệm đến cùng.

Một biểu hiện không thể thiếu của đạo đức nghề nghiệp là giữ vững sự độc lập chuyên môn, không để lợi ích cá nhân, quan hệ nghề nghiệp hoặc sức ép thương mại chi phối nội dung sách giáo khoa. Các hoạt động tài trợ, hợp tác nghiên cứu, khai thác tư liệu trong nước và quốc tế cần được thực hiện minh bạch, bảo đảm quyền quyết định chuyên môn và cơ chế kiểm chứng độc lập. Giá trị của một nguồn tư liệu phải được xác định bằng tính khoa học, độ tin cậy và sự phù hợp, không phụ thuộc đơn thuần vào xuất xứ hay danh tiếng của tổ chức cung cấp.

Đủ tâm, xét đến cùng, là đặt sự thật khoa học, lợi ích của học sinh và trách nhiệm với tương lai đất nước lên trên lợi ích cá nhân. Người viết sách giáo khoa không chỉ chịu trách nhiệm về những điều mình viết mà còn phải ý thức sâu sắc về tác động của từng nội dung đối với nhận thức, nhân cách và những giá trị mà thế hệ trẻ sẽ mang theo trong cuộc sống.

Đúng chuyên môn – Hiểu chương trình, hiểu người học
Biên soạn sách giáo khoa là hoạt động chuyên môn đặc thù, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa tri thức khoa học, hiểu biết chương trình giáo dục và năng lực sư phạm. Một nhà khoa học giỏi chưa chắc đã viết được sách giáo khoa tốt, bởi mục tiêu, đối tượng và phương pháp trình bày của công trình nghiên cứu chuyên sâu khác căn bản với tài liệu dành cho học sinh phổ thông. Người viết phải có khả năng chuyển hóa tri thức khoa học thành nội dung học tập chính xác, dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức, đồng thời tổ chức các hoạt động giúp học sinh từng bước hình thành kiến thức, kỹ năng và năng lực vận dụng. Vì vậy, năng lực sư phạm không phải yếu tố bổ trợ mà là yêu cầu cốt lõi của hoạt động biên soạn.

Trước hết, người viết phải am hiểu sâu sắc chương trình giáo dục phổ thông, đặc biệt là mục tiêu, yêu cầu cần đạt và định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của từng môn học. Nội dung sách giáo khoa phải bám sát chương trình, bảo đảm tính khoa học, tính hệ thống và sự liên thông giữa các bài học, lớp học, cấp học. Việc lựa chọn kiến thức cần có trọng tâm, phân định rõ nội dung cơ bản và nội dung mở rộng, tránh trùng lặp, quá tải hoặc đưa vào những khái niệm vượt quá khả năng tiếp nhận của học sinh. Đồng thời, cấu trúc bài học phải tạo điều kiện để giáo viên tổ chức dạy học hiệu quả, giúp học sinh từng bước khám phá, lĩnh hội và vận dụng tri thức.

Bên cạnh hiểu chương trình, người viết phải thực sự hiểu người học. Điều này đòi hỏi kiến thức về tâm lý lứa tuổi, đặc điểm phát triển nhận thức, khả năng đọc hiểu, vốn sống và điều kiện học tập của học sinh. Cách diễn đạt, hệ thống ví dụ, hình ảnh, sơ đồ, câu hỏi và bài tập phải được thiết kế phù hợp với từng cấp học, có khả năng hỗ trợ quá trình tiếp nhận và phát triển tư duy. Những yếu tố trực quan không chỉ nhằm làm sinh động trang sách mà phải phục vụ mục tiêu học tập cụ thể. Nội dung cũng cần tôn trọng sự đa dạng về hoàn cảnh, văn hóa và điều kiện sống, tránh định kiến hoặc những cách thể hiện có thể tạo ra rào cản tiếp cận tri thức đối với một bộ phận học sinh.

Đặc biệt, sách giáo khoa phải hướng đến phát huy tính chủ động, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo và vận dụng kiến thức vào thực tiễn, thay vì chỉ yêu cầu ghi nhớ, tái hiện thông tin. Người viết cần biết thiết kế các tình huống học tập có ý nghĩa, xây dựng câu hỏi và nhiệm vụ phù hợp với mức độ nhận thức, khuyến khích học sinh quan sát, phân tích, đặt vấn đề, trao đổi và tìm cách giải quyết. Đây là yêu cầu quan trọng để chuyển mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực của chương trình thành những hoạt động học tập cụ thể, khả thi trong lớp học.

Năng lực chuyên môn và sư phạm của người viết còn phải được kiểm chứng thông qua thực tiễn dạy học. Việc lấy ý kiến giáo viên, tổ chức thử nghiệm bài học trong những điều kiện phù hợp và phân tích phản hồi từ quá trình sử dụng có thể giúp phát hiện những nội dung khó hiểu, hoạt động thiếu khả thi hoặc yêu cầu đánh giá chưa hợp lý. Các phản hồi cần được thu thập có hệ thống, xem xét trên cơ sở bằng chứng và sử dụng để điều chỉnh bản thảo. Sau chỉnh sửa, phải tiếp tục đánh giá mức độ khắc phục hạn chế, tránh tình trạng giải quyết vấn đề này nhưng lại phát sinh bất cập khác. Thử nghiệm vì thế không nên được xem là thủ tục hoàn thiện hồ sơ, mà phải là khâu kiểm chứng thực chất chất lượng và tính khả thi của sách giáo khoa.

Đúng chuyên môn không chỉ là viết đúng kiến thức, mà còn phải viết đúng chương trình, đúng đối tượng và đúng yêu cầu giáo dục. Thước đo cuối cùng của năng lực biên soạn là khả năng tạo ra những bài học khoa học, dễ hiểu, thiết thực, giúp giáo viên dạy học hiệu quả và học sinh phát triển toàn diện.

Vững lý tưởng, sáng trách nhiệm – Vì một Việt Nam hùng cường
Viết sách giáo khoa không chỉ là hoạt động chuyên môn mà còn là công việc gắn trực tiếp với sự nghiệp trồng người và tương lai đất nước. Vì vậy, bên cạnh tri thức, năng lực sư phạm và đạo đức nghề nghiệp, người viết phải có lý tưởng phụng sự Tổ quốc, ý thức trách nhiệm sâu sắc với nhân dân và thế hệ trẻ. Lý tưởng ấy không dừng ở nhận thức hay lời tuyên bố, mà phải được thể hiện bằng thái độ làm việc nghiêm túc, tinh thần tận tụy, tôn trọng sự thật và đặt lợi ích của học sinh lên hàng đầu. Mỗi bài học được biên soạn có chất lượng không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn góp phần bồi dưỡng nhân cách, bản lĩnh và năng lực của những công dân tương lai.

Khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cần trở thành động lực và định hướng trách nhiệm trong hoạt động biên soạn sách giáo khoa. Thông qua nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp, sách giáo khoa góp phần nuôi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức công dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng cống hiến. Những giá trị ấy phải được chuyển tải trên nền tảng tri thức khoa học, sự thật lịch sử và lập luận có căn cứ, tránh áp đặt, giáo điều hoặc thay thế chứng cứ bằng nhận định chủ quan. Chính trách nhiệm với đất nước đòi hỏi người viết phải trung thực, khách quan, thận trọng và có khả năng giải thích những vấn đề phức tạp một cách khoa học, thuyết phục.

Vững lý tưởng còn là sự kết hợp hài hòa giữa lòng tự hào dân tộc, ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa với tinh thần đổi mới, hội nhập và tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại. Giáo dục lòng yêu nước không đồng nghĩa với khép kín trước thế giới; phát huy truyền thống dân tộc phải gắn với năng lực tiếp nhận những thành tựu tiến bộ của khoa học và văn minh nhân loại. Người viết cần lựa chọn tư liệu chính xác, đặt các vấn đề trong bối cảnh phù hợp, khuyến khích học sinh tư duy độc lập, biết phân tích, đối chiếu, đánh giá và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Mục tiêu không chỉ là hình thành những công dân có lòng yêu nước, mà còn có tri thức, bản lĩnh, năng lực sáng tạo, tinh thần hợp tác và ý chí vươn lên, đủ sức đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Tuy nhiên, lý tưởng và tinh thần trách nhiệm không thể chỉ được đánh giá qua lời cam kết hay sự tự khẳng định của mỗi cá nhân. Những phẩm chất ấy phải được chứng minh bằng quá trình công tác, đạo đức nghề nghiệp, thái độ tiếp nhận phản biện, sự minh bạch trong quan hệ lợi ích và chất lượng sản phẩm biên soạn. Người viết phải tuân thủ quy trình chuyên môn, sẵn sàng sửa chữa sai sót, chịu trách nhiệm về nội dung được giao và không để lợi ích cá nhân hoặc sức ép bên ngoài chi phối sự thật khoa học. Phụng sự Tổ quốc, trước hết, phải được thể hiện bằng việc làm đúng, làm tốt và làm có trách nhiệm đối với từng trang sách dành cho học sinh.

Từ những yêu cầu đó, có thể khẳng định người viết sách giáo khoa cần hội đủ bốn phẩm chất cốt lõi: đủ tầm về tri thức và năng lực khoa học; đủ tâm về đạo đức, sự liêm chính học thuật; đúng chuyên môn về chương trình và phương pháp sư phạm; vững lý tưởng, sáng trách nhiệm với Tổ quốc và thế hệ trẻ. Đây là những yêu cầu thống nhất, bổ sung cho nhau, không thể xem nhẹ hoặc dùng phẩm chất này thay thế phẩm chất khác. Lý tưởng tốt không thể bù đắp sự yếu kém về chuyên môn; học hàm, học vị cao không thay thế được đạo đức nghề nghiệp; kinh nghiệm giảng dạy cũng không loại trừ yêu cầu kiểm chứng khoa học. Vì vậy, lựa chọn tác giả phải dựa trên những tiêu chí công khai, minh bạch, đánh giá đúng năng lực thực chất và gắn trách nhiệm cá nhân với chất lượng sản phẩm.

Chọn đúng người viết là điều kiện tiên quyết, nhưng chưa đủ để có những bộ sách giáo khoa chất lượng. Mỗi bản thảo, dù do những chuyên gia uy tín biên soạn, vẫn phải được thẩm định độc lập, khách quan, khoa học và có trách nhiệm. Chất lượng sách giáo khoa không thể chỉ dựa vào niềm tin đối với tác giả, mà phải được bảo đảm bằng quy trình kiểm chứng nghiêm ngặt, cơ chế phản biện thực chất và trách nhiệm giải trình rõ ràng.

Từ yêu cầu đó, Kỳ 3 của chuyên đề: “Thẩm định sách giáo khoa – Độc lập, khoa học và trách nhiệm” sẽ tập trung làm rõ tiêu chuẩn lựa chọn thành viên hội đồng, quy trình phản biện, cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích và trách nhiệm giải trình đối với từng quyết định thẩm định, nhằm bảo đảm chất lượng sách giáo khoa vì lợi ích của học sinh và tương lai đất nước.

Thế Nguyễn – Minh Văn

Tài liệu tham khảo
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024), *Văn bản hợp nhất số 15/VBHN-BGDĐT ngày 31/12/2024 quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa; tiêu chuẩn tổ chức, cá nhân biên soạn sách giáo khoa; tổ chức và hoạt động của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa*. Cổng văn bản Chính phủ: https://vanban.chinhphu.vn/?classid=2629&docid=212688&pageid=27160
2. Quốc hội (2019), *Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14/6/2019*.
3. Bộ Chính trị (2025), *Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo*.
4. Chính phủ (2025), *Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo*. https://vanban.chinhphu.vn/?classid=2&docid=215336&pageid=27160
5. Quốc hội (2012), *Luật Xuất bản số 19/2012/QH13 ngày 20/11/2012*.
6. Quốc hội (2005), *Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005*, cùng các văn bản sửa đổi, bổ sung có liên quan.