(Đà Nẵng). Chiều 17/10/2026, UBND thành phố Đà Nẵng tổ chức Hội thảo “Phát triển du lịch Đô thị cổ Hội An – Di sản Văn hóa Thế giới trong kỷ nguyên mới”. Đây là hội thảo quy mô lớn đầu tiên sau khi Đà Nẵng và Quảng Nam chính thức sáp nhập, nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Di sản Văn hóa Thế giới Đô thị cổ Hội An; đồng thời thảo luận, đề xuất định hướng và giải pháp phát triển du lịch trong giai đoạn mới, hướng tới xây dựng Hội An trở thành điểm đến văn hóa – du lịch giàu bản sắc, hấp dẫn, xanh và sáng tạo.

Gần 200 đại biểu, đại diện cơ quan Trung ương và thành phố Đà Nẵng; đại diện các tổ chức quốc tế; các chuyên gia, nhà nghiên cứu; các Hiệp hội, trường học, doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, khu/điểm du lịch trên địa bàn thành phố; các chủ di tích trong tuyến tham quan (Khu phố cổ Hội An), các cơ quan truyền thông – báo chí, đã tham dự sự kiện. Định hướng được đưa ra là phát triển du lịch Hội An trên nền tảng các giá trị của một “Di sản văn hóa thế giới”, với 3 hợp phần cấu thành đặc trưng: Bảo tồn là yêu cầu xuyên suốt; Cộng đồng là chủ thể quan trọng; Du lịch là động lực góp phần phát huy giá trị di sản.
Thành phố Đà Nẵng đã xác định rõ hơn các mục tiêu hướng đến trong chiến lược phát triển du lịch Hội An, lấy du khách làm trung tâm phục vụ, bảo đảm mỗi du khách khi đến với Hội An đều có được những trải nghiệm xứng đáng. Trong đó, nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản được đặt ở vị trí trung tâm; phát triển kinh tế di sản gắn kết với kinh tế sáng tạo và công nghiệp văn hóa. Cộng đồng dân cư là chủ thể của di sản, người dân phải được thụ hưởng những giá trị từ di sản. Phát triển du lịch phải đi đôi với tạo sinh kế, nâng cao đời sống người dân.
Với tinh thần cởi mở, đa chiều và đi vào thực chất, Hội thảo được kỳ vọng là diễn đàn để các nhà quản lý, chuyên gia, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và cộng đồng cùng nhìn nhận toàn diện thực trạng, những kết quả đạt được, đồng thời đánh giá các cơ hội và thách thức mới. Trên cơ sở đó, tập trung thảo luận, đề xuất những định hướng và giải pháp mang tính chiến lược, nâng cao trách nhiệm bảo tồn, phát huy giá trị di sản, phát triển du lịch Hội An theo hướng chất lượng, bền vững và có sức cạnh tranh trong giai đoạn mới.
Những sáng kiến, đề xuất và khuyến nghị từ Hội thảo sẽ là cơ sở tham khảo quan trọng trong quá trình hoàn thiện định hướng, quy hoạch và chính sách phát triển du lịch Hội An; bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, để di sản tiếp tục được gìn giữ, trao truyền và phát huy giá trị trong giai đoạn mới. Qua đó, không ngừng nâng cao chất lượng điểm đến, tạo nội lực bền vững cho tăng trưởng.

Từ thương cảng nổi tiếng vùng Đông Nam Á một thời
Nằm bên bờ sông Thu Bồn, không xa cụm đảo Cù Lao Chàm, với vùng nước neo đậu thuận lợi cho cả thương thuyền lớn lẫn ghe thuyền nhỏ, cảng thị Hội An từng giữ vị trí quan trọng trên các tuyến giao thương duyên hải và hàng hải quốc tế ở Đông Nam Á. Sức sống của thương cảng Hội An được UNESCO ghi nhận là “Điển hình tiêu biểu về một thương cảng châu Á truyền thống, là một trong những điểm cập bờ của tuyến đường tơ lụa trên biển và mạng lưới thương mại sớm của toàn cầu”.
Các nguồn tư liệu lịch sử, trong đó có ghi chép của thương nhân Nhật Bản, hệ thống thư tịch, văn bản hành chính và biên niên sử về hoạt động cai trị, luật pháp, quan hệ ngoại giao của các Mạc phủ (Bakufu – chính quyền quân sự phong kiến Nhật Bản); cùng những phát hiện khảo cổ học từ các tàu đắm chở số lượng lớn gốm sứ tại vùng biển Việt Nam và các công trình nghiên cứu của những học giả Nhật Bản như GS.TS. Kikuchi Seiichi, GS. Iwao Seiichi… đã góp phần xác nhận vị thế giao thương quốc tế của Hội An trong thế kỷ XVII.
Theo đó, Hội An nằm trong mạng lưới kết nối với khoảng 19 thương cảng lớn nhỏ trong khu vực, từ Ayutthaya (Xiêm, nay là Thái Lan), các trung tâm và cảng thị ven biển Chân Lạp (Campuchia), đến các cảng miền Nam Trung Quốc như Quảng Đông, Phúc Kiến, đảo Hải Nam, thông qua tuyến hải trình cổ Tây dương châm lộ. Hội An còn kết nối với thương cảng Nagasaki của Nhật Bản thông qua hệ thống thuyền buôn sử dụng giấy phép Shuinjo do Mạc phủ Tokugawa cấp; đồng thời liên thông với các thương cảng qua eo biển Malacca (Malaysia), vượt Ấn Độ Dương để kết nối với những trung tâm thương mại phương Tây như Amsterdam (Hà Lan) và Lisbon (Bồ Đào Nha).
Là những người cai quản xứ Đàng Trong trong các thế kỷ XVI–XVIII, với tầm nhìn cởi mở và tư duy hướng biển, các chúa Nguyễn đã xây dựng, phát triển thương cảng Hội An, mở rộng hoạt động thương mại và mậu dịch quốc tế. Chính tư duy mở cửa táo bạo, vượt trội trong bối cảnh đương thời đã tạo nền tảng đưa Hội An, khi ấy được biết đến với tên gọi Faifo, trở thành một trong những trung tâm giao thương quốc tế sầm uất bậc nhất Đông Nam Á. Dấu ấn nổi bật của thời kỳ này là sự tồn tại song song của phố người Nhật (Nihon-machi) và phố người Hoa (còn gọi là phố Đường hay Đại Đường).
Dưới thời các chúa Nguyễn, Hội An trở thành một trong những điển hình về thu hút ngoại lực, chuyển hóa thành nội lực phát triển. Đông đảo thương nhân nước ngoài đã đến giao thương, lập nghiệp và chọn Faifo làm quê hương thứ hai. Sự hội tụ của nhiều cộng đồng cư dân, đặc biệt là vai trò của thương nhân Trung Hoa và Nhật Bản trong hoạt động thương mại, giao lưu và lan tỏa bản sắc văn hóa, đã góp phần quan trọng hình thành diện mạo và những giá trị đặc trưng của Phố cổ Hội An.
Theo thông tin từ Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An (website: https://hoianheritage.net/), khi nghiên cứu về cộng đồng dân cư, những biến động dân số và quá trình hình thành làng xã, đô thị ở Hội An, không thể không đề cập đến các dòng di cư, chuyển cư và định cư của người Hoa cùng thương nhân Trung Quốc, Nhật Bản. Những cuộc di cư này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm điều kiện kinh tế và cả hoàn cảnh tị nạn chính trị. Đặc biệt, sự hiện diện của thương nhân Nhật Bản thông qua các thương thuyền Châu Ấn (Shuinjo), cùng thương nhân đến từ các quốc gia phương Tây và khu vực Đông Á, Tây Á, Nam Á, đã góp phần quan trọng tạo nên sự thịnh vượng, sầm uất của đô thị thương cảng quốc tế Faifo – Hội An một thời.
Xét về yếu tố Việt trong tiến trình giao thoa văn hóa, hành trình di dân, lập làng tại Hội An – xứ Quảng, Đàng Trong bắt đầu từ năm 1471, dưới triều vua Lê Thánh Tông, và tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, gắn với kế sách tạo dựng cơ nghiệp lâu dài của các chúa Nguyễn. Đặc biệt, từ năm 1558, khi Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, đến năm 1570 kiêm lãnh trấn Quảng Nam và tháng 7/1602 (năm Nhâm Dần), thành lập Dinh trấn Quảng Nam, quá trình di dân, khai phá và định cư ngày càng được thúc đẩy, góp phần định hình diện mạo văn hóa vùng đất này.
Chính vì vậy, bên cạnh những giá trị được gìn giữ và bảo tồn tốt, trong quá trình xem xét công nhận Hội An là Di sản Văn hóa Thế giới, UNESCO đặc biệt coi trọng tiêu chí về “Sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ lịch sử tại thương cảng quốc tế Hội An”. Nổi bật là sự giao thoa, dung hợp độc đáo về kiến trúc và văn hóa giữa yếu tố bản địa Đàng Trong trong tiến trình lịch sử Việt Nam với các nền văn hóa Trung Hoa, Nhật Bản và phương Tây, được bồi đắp qua suốt bốn thế kỷ.
Sự giao thoa ấy đã tạo nên một chỉnh thể văn hóa Hội An – Việt Nam đặc sắc, nơi các giá trị văn hóa Đông – Tây gặp gỡ, hòa quyện nhưng vẫn lưu giữ những dấu ấn riêng biệt. Đây cũng là giá trị nổi bật được UNESCO ghi nhận, khẳng định Hội An không chỉ là di sản của lịch sử, văn hóa Việt Nam mà còn là một phần di sản văn minh nhân loại, cần được cộng đồng quốc tế biết đến, trân trọng và chung tay bảo tồn.

Hội An – Phát huy giá trị di sản, hướng đến phát triển du lịch bền vững
Kể từ khi được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới tại kỳ họp lần thứ 23 của Ủy ban Di sản Thế giới, ngày 4/12/1999, công tác bảo tồn và phát huy giá trị đô thị cổ Hội An luôn được tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng) đặc biệt quan tâm, ưu tiên thực hiện, từng bước gắn nhiệm vụ bảo tồn di sản với yêu cầu phát triển du lịch bền vững.
Cùng với Quần thể tháp Chăm Mỹ Sơn, được UNESCO công nhận trong cùng kỳ họp, Di sản Văn hóa Thế giới đô thị cổ Hội An từ lâu đã mang sức hấp dẫn đặc biệt, với những giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc riêng có. Qua các giai đoạn phát triển, từ thị xã đến thành phố Hội An trước đây, chính quyền địa phương, các cơ quan hữu quan cấp tỉnh, thành phố, Trung ương cùng cộng đồng dân cư đã không ngừng đầu tư, chung tay bảo tồn, gìn giữ những giá trị quý hiếm của di sản.
Song hành với công tác bảo tồn, ngành Du lịch cũng nỗ lực đổi mới sản phẩm, đa dạng hóa các loại hình du lịch gắn với giá trị văn hóa, sinh thái, làng nghề truyền thống và đời sống cộng đồng. Đặc biệt, trong quản lý di sản và phục vụ du khách, nhiều đề án chuyển đổi số đã được triển khai, như số hóa 3D di tích, ứng dụng mã QR cung cấp thông tin đa ngôn ngữ, xây dựng bản đồ các không gian sáng tạo và nghệ thuật, hệ thống bán vé tự động cùng các nền tảng hỗ trợ trải nghiệm du lịch thông minh. Bên cạnh đó, nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học được đầu tư, công bố và vận dụng vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
Những nỗ lực đồng bộ, bền bỉ ấy đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần đưa Hội An liên tục được vinh danh tại các giải thưởng, bảng xếp hạng và bình chọn điểm đến du lịch uy tín trên thế giới. Theo thống kê của Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An, từ năm 2012 đến nay, Hội An đã ghi nhận hơn 85 danh hiệu và lượt bình chọn, nhiều lần được xếp vào nhóm những điểm đến được yêu thích, hấp dẫn hàng đầu châu Á và thế giới.

Cách tiếp cận mới- Mang đến trải nghiệm mới từ giá trị nguyên bản
Tại diễn đàn “Phát triển du lịch – Di sản Văn hóa Thế giới trong kỷ nguyên mới”, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng cho biết, thời gian qua, Hội An đã đẩy mạnh tổ chức nhiều sự kiện, lễ hội và hoạt động văn hóa, nghệ thuật, góp phần gia tăng sức hấp dẫn của điểm đến, nâng cao chất lượng trải nghiệm và kéo dài thời gian lưu trú của du khách.
Cùng với đó, nhiều mô hình du lịch xanh, du lịch cộng đồng và du lịch trải nghiệm từng bước hình thành, phát triển, hướng đến hài hòa lợi ích giữa du khách, doanh nghiệp và người dân địa phương. Đáng chú ý, nhiều sự kiện văn hóa, nghệ thuật được đầu tư với quy mô lớn, mang những giá trị đặc sắc, tiêu biểu như: Lễ hội Đèn lồng quốc tế, Liên hoan Hợp xướng quốc tế, Liên hoan Nghệ thuật dân gian quốc tế, Lễ hội sông Cổ Cò, Lễ hội Xuống đồng, Hội Tết Trung thu… cùng các lễ hội, nghi thức tế lễ dân gian truyền thống, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa và sản phẩm du lịch Hội An.
Trong thời gian tới, Hội An tiếp tục định hướng đổi mới, đa dạng hóa sản phẩm du lịch trên nền tảng di sản, văn hóa, sinh thái và cộng đồng; đồng thời mở rộng không gian trải nghiệm, tăng cường kết nối khu phố cổ với các làng nghề, làng quê, vùng sinh thái và biển đảo. Trong đó, chú trọng phát triển các chương trình trải nghiệm chuyên đề như “Dấu ấn Tuồng xưa”, tour đêm tại Nhà lao Hội An, tuyến tham quan “Về Cẩm Thanh – Nghe dừa kể chuyện” cùng những sản phẩm gắn với văn hóa và đời sống cộng đồng địa phương.
Song song với việc làm mới các sản phẩm du lịch, Hội An cũng sẽ tiếp tục phát triển kinh tế đêm theo hướng đa dạng, có chiều sâu, gắn với những giá trị văn hóa bản địa, qua đó nâng cao sức hấp dẫn và chất lượng trải nghiệm của điểm đến.

Di sản là nền tảng, cộng đồng là chủ thể, du lịch là động lực phát triển
Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, thị hiếu và nhu cầu của du khách, đặc biệt là khách quốc tế, không ngừng thay đổi. Cùng với đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, kỹ thuật và những thành tựu đổi mới sáng tạo đang tác động sâu rộng đến nhiều mặt của đời sống, đặt ra những yêu cầu mới đối với phát triển du lịch, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Vấn đề đặt ra không chỉ là gìn giữ các giá trị vốn có, mà còn phải phát huy hiệu quả hơn nguồn lực di sản, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Thay mặt Ban Tổ chức hội thảo, ông Phạm Phú Ngọc, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An, đề nghị các đại biểu tập trung trao đổi, làm rõ những định hướng và giải pháp trọng tâm. Trong đó, vấn đề được đặt lên hàng đầu là: “Làm thế nào để phát triển kinh tế di sản mà không đánh đổi tính xác thực và giá trị nổi bật toàn cầu của di sản?”.
Ông Ngọc cho biết, ngày 30/9/2026, tại phiên làm việc trong khuôn khổ sự kiện “Đối thoại châu Á – Thái Bình Dương” về chủ đề “Di sản và Tính xác thực”, các đại biểu đã thông qua Văn kiện Hà Nội, đề cập vấn đề di sản và tính xác thực trong bối cảnh du lịch toàn cầu đang có nhiều thay đổi.
Dẫn chứng về những biến động của du lịch thế giới, ông Ngọc cho biết, năm 2025, lượng khách du lịch quốc tế đạt mức kỷ lục 1,52 tỷ lượt, nhưng trong 6 tháng đầu năm 2026, mức tăng trưởng chỉ đạt 0,4%. Tổ chức Du lịch Thế giới (UN Tourism) đã phải điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng du lịch quốc tế năm 2026 xuống còn 1–2%. Cùng với đó, những xu hướng mới đang hình thành khi du khách ngày càng chú trọng giá trị trải nghiệm, ưu tiên các điểm đến gần hoặc du lịch nội địa, trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu, chiến tranh và những biến chuyển về vai trò của cộng đồng đối với hoạt động du lịch.
Từ thực tiễn đó, tái cấu trúc không gian du lịch và đổi mới sản phẩm được xác định là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới. Theo định hướng được đề xuất, khu phố cổ tiếp tục giữ vai trò hạt nhân, nhưng cần tăng cường kết nối hữu cơ với các không gian văn hóa, sinh thái và cộng đồng như Kim Bồng – Cẩm Kim, Thanh Hà, Trà Quế, Cẩm Thanh, Cù Lao Chàm, cùng hệ thống tuyến du lịch đường sông, biển đảo, làng quê và làng nghề truyền thống.
Đồng thời, khuyến khích phát triển những hành trình du lịch có chiều sâu, gắn với trải nghiệm thủ công, nông nghiệp, nghệ thuật, ẩm thực, công nghiệp văn hóa và các hoạt động kinh tế đêm có chọn lọc. Qua đó, từng bước phân bổ hợp lý dòng khách và lợi ích du lịch đến nhiều cộng đồng, hạn chế tình trạng tập trung du khách tại một số điểm tham quan quen thuộc; kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng giá trị chi tiêu dựa trên bản sắc văn hóa địa phương. Trọng tâm là chuyển từ mục tiêu gia tăng số lượng sang nâng cao chất lượng du khách, chất lượng trải nghiệm và giá trị mang lại cho điểm đến.
Chia sẻ ý tưởng và giải pháp phát triển các mô hình du lịch xanh, bền vững tại đô thị cổ Hội An và vùng phụ cận, ông Nguyễn Ngọc Bích, Trưởng Hợp phần Điểm đến và Doanh nghiệp thuộc Dự án Du lịch Thụy Sĩ vì sự Phát triển Bền vững (ST4SD), gợi mở mô hình “Làng nông nghiệp sống tại Trà Quế”, nơi chính người nông dân tham gia thiết kế chương trình trải nghiệm, quyết định giá tour và giới hạn số lượng khách.
Theo đề xuất, sản phẩm du lịch sẽ gắn với trải nghiệm nghề trồng rau truyền thống, tìm hiểu những giá trị bản địa từ đất, nước và đời sống nông nghiệp, kết hợp thưởng thức bữa ăn tại nông hộ. Đây cũng là hướng tiếp cận nhằm chuyển Hội An từ một di sản chủ yếu được tham quan sang điểm đến đáng sống, luôn có sức hấp dẫn và khơi gợi sự khám phá của du khách.
Cụ thể, ông Bích đề xuất thí điểm trong 12 tháng chương trình “Phố cổ – Trà Quế – Bữa ăn nông hộ”, kết nối một cụm không gian trong đô thị cổ, làng rau Trà Quế và một cụm làng nghề, chẳng hạn các xưởng sáng tạo nghề mộc Kim Bồng. Theo đó, khu vực sông Cổ Cò, đầm Trà Quế cũng được xem là những hướng mở cần tiếp tục khảo sát, nghiên cứu, đồng thời lắng nghe và tiếp nhận các sáng kiến từ chính cộng đồng thông qua Mạng lưới sáng kiến xanh.
Từ góc độ quản trị điểm đến, Hội An cần đặt nhiệm vụ bảo vệ hệ sinh thái sông – biển, nâng cao năng lực chủ động ứng phó với lũ lụt và thiên tai trong tổng thể chiến lược phát triển du lịch bền vững, thay vì chỉ triển khai những hoạt động bảo vệ môi trường và ứng phó riêng lẻ. Song hành với đó là thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đặc biệt, kinh nghiệm hạn chế sử dụng nhựa dùng một lần tại Cù Lao Chàm cần tiếp tục được phát huy, nhân rộng phù hợp với điều kiện thực tiễn. Đồng thời, chú trọng nâng cao năng lực quản lý rác thải, nước thải, sử dụng năng lượng hiệu quả, phát triển giao thông ít phát thải và nghiên cứu vận dụng các bộ tiêu chí du lịch bền vững phù hợp với đặc thù của Hội An.

Tầm nhìn chiến lược để Hội An tiếp tục cất cánh
Trong tầm nhìn phát triển du lịch Hội An ở giai đoạn mới, một trong những yêu cầu cấp thiết là nâng cao năng lực quản trị sức chứa điểm đến, chủ động phòng ngừa tình trạng quá tải du lịch. Theo đó, cần nghiên cứu sức chứa theo từng tuyến phố, điểm di tích và khung giờ tham quan; xem xét giới hạn quy mô đoàn khách hoặc áp dụng hình thức đặt lịch theo giờ tại những không gian nhạy cảm, trên cơ sở đánh giá đầy đủ các tác động. Mục tiêu không đơn thuần là phân luồng, “giãn khách”, mà quan trọng hơn là bảo vệ chất lượng sống của cộng đồng cư dân, đồng thời nâng cao chất lượng trải nghiệm của du khách.
Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng cũng xác định, nâng cao năng lực quản trị điểm đến, thúc đẩy chuyển đổi số và tăng trưởng xanh là một trong bốn định hướng quan trọng đối với phát triển du lịch Hội An trong bối cảnh mới.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Hội An cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình phối hợp quản lý, đặc biệt là tổ chức lại không gian và hành trình du lịch nhằm gia tăng giá trị kinh tế được giữ lại cho địa phương trong không gian Đà Nẵng mới. Cùng với đó là đổi mới công tác quản lý vé tham quan, hoàn thiện cơ chế tái đầu tư nguồn thu cho bảo tồn di sản; tăng cường kết nối giữa bán vé và kiểm soát lượt khách, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý, đơn vị vận hành, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng hưởng lợi. Công tác truyền thông cũng cần được chú trọng để du khách hiểu rằng việc mua vé tham quan không chỉ là sử dụng dịch vụ, mà còn góp phần trực tiếp gìn giữ, bảo vệ và phát huy giá trị di sản.
Một yêu cầu quan trọng khác là làm rõ trách nhiệm giữa các cơ quan chuyên môn, chính quyền địa phương, đơn vị quản lý di sản, doanh nghiệp và cộng đồng; đồng thời tăng cường liên kết Hội An – Mỹ Sơn – Đà Nẵng với các không gian du lịch phía Nam, phía Tây thành phố, hình thành những chuỗi sản phẩm bổ trợ, mở rộng không gian hưởng lợi và nâng cao hiệu quả phát triển chung.
Đặc biệt, sau khi điều chỉnh địa giới hành chính từ ngày 1/7/2025, không gian di sản Hội An và các vùng đệm hiện thuộc địa bàn các phường Hội An, Hội An Đông, Hội An Tây và xã Tân Hiệp của thành phố Đà Nẵng. Thực tế này đặt ra yêu cầu rà soát quy hoạch, quy chế bảo vệ di sản, phân định thẩm quyền và xây dựng cơ chế phối hợp liên địa bàn phù hợp, tránh phân tán trách nhiệm trong quản lý một hệ sinh thái di sản vốn có tính thống nhất về lịch sử, văn hóa và không gian phát triển.
Song hành với đổi mới mô hình quản trị, chuyển đổi số cần được triển khai trên diện rộng, hướng đến hệ thống quản lý du lịch thông minh, đồng bộ và bao trùm. Trong đó, chú trọng ứng dụng dữ liệu thời gian thực để nhận diện các điểm nghẽn, chủ động điều tiết đoàn khách lớn, tổ chức luồng đi bộ, giao thông tiếp cận, bố trí bãi đỗ xe và xây dựng phương án ứng phó kịp thời trước những tình huống cấp bách, sự cố phát sinh.
Ở tầm nhìn chiến lược rộng hơn, việc thành phố Đà Nẵng bố trí một cán bộ từng giữ cương vị Phó Chủ tịch UBND thành phố trực tiếp tham gia lãnh đạo tại Hội An không chỉ mang ý nghĩa kiện toàn tổ chức bộ máy sau sáp nhập, mà còn cho thấy sự quan tâm, kỳ vọng và quyết tâm chính trị đối với tương lai phát triển của vùng đất di sản. Đây cũng là sự gửi gắm trách nhiệm trong việc kế thừa những thành quả bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa, đồng thời đổi mới tư duy quản trị, khai mở những dư địa phát triển mới, đưa Hội An tiếp tục khẳng định vị thế trên bản đồ du lịch thế giới.
Như ông Phạm Phú Ngọc, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An, nhấn mạnh: “Hội An đang đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình phát triển: Không chỉ thu hút thêm khách mà còn quản lý tốt hơn dòng khách, nâng cao giá trị trên mỗi lượt tham quan, mở rộng không gian hưởng lợi và duy trì tính chân xác, xác thực của di sản”. Theo ông, điều quan trọng là những đề xuất phải có luận cứ khoa học và thực tiễn, xác định rõ vấn đề ưu tiên giải quyết, cơ quan chịu trách nhiệm và nguồn lực thực hiện.
Từ một thương cảng quốc tế từng hội tụ những dòng chảy giao thương, văn hóa Đông – Tây, đến Di sản Văn hóa Thế giới được cộng đồng quốc tế trân trọng, Hội An đang đứng trước cơ hội mở ra một hành trình phát triển mới trong không gian Đà Nẵng rộng lớn hơn. Với tầm nhìn chiến lược, tư duy quản trị hiện đại và quyết tâm bảo tồn những giá trị cốt lõi, kỳ vọng đặt ra không chỉ là đưa Hội An tiếp tục “cất cánh” trên bản đồ du lịch thế giới, mà còn kiến tạo một đô thị di sản giàu bản sắc, xanh, sáng tạo, đáng sống; nơi di sản được gìn giữ, cộng đồng được thụ hưởng và du lịch trở thành động lực phát triển bền vững./.
Thế Nguyễn – Trần Ngọc
Bài viết cùng chuyên mục
Di sản văn hóa Chăm Bình Thuận – Lâm Đồng tỏa sáng tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng
Văn hóa tạo nên sức mạnh bền vững của doanh nhân Việt Nam
50 năm thành lập Khối ngành Xây dựng – Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng
Đẩy mạnh gắn kết 3 Nhà góp phần phát triển đất nước: Sớm thể chế hóa tam giác hợp tác, 3 bên cùng chịu trách nhiệm
Kỷ niệm 105 năm Ngày sinh họa sĩ Lê Bá Đảng và 20 năm thành lập Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng

