Thứ Tư, Tháng 11 4, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Mối quan hệ giữa phát triển Kinh tế Tư nhân và định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam

 TS. Nguyễn Đức Long



ĐNA -

Trong quá trình đổi mới, nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện. Từ chỗ chủ yếu được nhìn nhận như một bộ phận bổ sung của nền kinh tế, kinh tế tư nhân từng bước được xác định là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng. Đặc biệt, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức khi xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế” trong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế.

Từ góc độ kinh tế chính trị, phát triển kinh tế tư nhân đồng thời đặt ra những vấn đề cần được giải quyết về quan hệ sở hữu, quan hệ lao động, phân phối thu nhập, tích tụ và tập trung tư bản, phân bổ nguồn lực, cạnh tranh, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội.

Sự phát triển của kinh tế tư nhân vì vậy không còn chỉ là vấn đề phát triển một khu vực kinh tế, mà trở thành một nội dung quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy nhiên, từ góc độ kinh tế chính trị, phát triển kinh tế tư nhân đồng thời đặt ra những vấn đề cần được giải quyết về quan hệ sở hữu, quan hệ lao động, phân phối thu nhập, tích tụ và tập trung tư bản, phân bổ nguồn lực, cạnh tranh, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội.

Do đó, vấn đề không phải là lựa chọn giữa phát triển kinh tế tư nhân và định hướng xã hội chủ nghĩa, mà là xác lập và vận hành những cơ chế kinh tế, thể chế và chính sách để sức mạnh của kinh tế tư nhân được phát huy trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời bảo đảm sự phát triển đó phục vụ các mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế tư nhân và định hướng xã hội chủ nghĩa

Phát triển kinh tế tư nhân là một yêu cầu khách quan của quá trình phát triển lực lượng sản xuất

Theo quan điểm của kinh tế chính trị Mác – Lênin, lực lượng sản xuất là yếu tố năng động nhất của phương thức sản xuất; sự phát triển của lực lượng sản xuất đặt ra yêu cầu khách quan đối với sự vận động và biến đổi của quan hệ sản xuất. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế là một thực tế khách quan gắn với trình độ phát triển không đồng đều của lực lượng sản xuất.

Đối với Việt Nam, xuất phát điểm của quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một nền kinh tế có lực lượng sản xuất chưa phát triển đồng đều, các hình thức tổ chức sản xuất và sở hữu rất đa dạng. Vì vậy, việc thừa nhận và phát triển kinh tế tư nhân không phải là sự phủ nhận định hướng xã hội chủ nghĩa, mà là sự vận dụng phù hợp quy luật khách quan vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Về bản chất kinh tế, kinh tế tư nhân dựa chủ yếu trên sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất, hoạt động thông qua các hình thức tổ chức kinh doanh khác nhau và chịu sự chi phối của các quy luật thị trường. Sự phát triển của khu vực này tạo điều kiện huy động các nguồn lực xã hội, khuyến khích tinh thần kinh doanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất.

Như vậy, xét từ phương diện lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế tư nhân là một phương thức huy động và phát triển nguồn lực xã hội, qua đó góp phần giải phóng sức sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Định hướng xã hội chủ nghĩa không phủ nhận kinh tế tư nhân mà định hướng phương thức và mục tiêu phát triển

Điểm cần nhấn mạnh từ góc độ kinh tế chính trị là định hướng xã hội chủ nghĩa không đồng nhất với việc xóa bỏ kinh tế tư nhân. Trong điều kiện Việt Nam, định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện trước hết ở mục tiêu, thể chế, phương thức quản lý và kết quả của quá trình phát triển kinh tế.

Văn kiện Đại hội XIII xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ theo các quy luật thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong mô hình đó, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Điều đó cho thấy cần phân biệt hình thức sở hữu với định hướng phát triển của nền kinh tế. Một doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân vẫn có thể hoạt động trong một nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa nếu hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, cạnh tranh bình đẳng, thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, bảo vệ môi trường và đóng góp vào các mục tiêu phát triển chung.

Theo nghĩa đó, định hướng xã hội chủ nghĩa không được thực hiện bằng cách hành chính hóa hoạt động của doanh nghiệp tư nhân, mà thông qua thể chế, pháp luật, chính sách kinh tế vĩ mô, phân phối và phân phối lại thu nhập, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm an sinh xã hội, điều tiết thị trường và kiểm soát những thất bại của thị trường.

Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế tư nhân và định hướng xã hội chủ nghĩa là quan hệ thống nhất trong điều kiện có những mâu thuẫn cần giải quyết

Mối quan hệ này có thể nhìn nhận trên ba phương diện.

Thứ nhất, phát triển kinh tế tư nhân tạo cơ sở kinh tế cho việc thực hiện các mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Khi khu vực tư nhân phát triển, quy mô sản xuất xã hội tăng lên, việc làm và thu nhập được tạo ra, nguồn thu ngân sách được mở rộng, nguồn lực xã hội được huy động và năng lực cạnh tranh quốc gia được nâng cao. Đây là tiền đề vật chất để Nhà nước thực hiện các mục tiêu về giáo dục, y tế, an sinh xã hội, giảm nghèo, phát triển hạ tầng và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.

Thứ hai, định hướng xã hội chủ nghĩa tạo khuôn khổ thể chế và môi trường phát triển cho kinh tế tư nhân. Quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng, sự ổn định kinh tế vĩ mô, hệ thống pháp luật minh bạch và cơ sở hạ tầng công cộng là những điều kiện quan trọng để kinh tế tư nhân phát triển dài hạn.

Thứ ba, giữa hai mặt tồn tại những mâu thuẫn kinh tế khách quan cần được điều tiết. Đó có thể là mâu thuẫn giữa mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp với yêu cầu bảo đảm quyền lợi người lao động; giữa tích tụ, tập trung nguồn lực với yêu cầu phân phối công bằng; giữa khai thác tài nguyên với bảo vệ môi trường; giữa cạnh tranh và nguy cơ độc quyền; giữa tự do kinh doanh và yêu cầu bảo đảm lợi ích công cộng.

Vì vậy, bản chất của vấn đề không nằm ở việc loại bỏ các mâu thuẫn đó, mà ở năng lực thể chế hóa, điều tiết và xử lý các mâu thuẫn, để quá trình vận động của kinh tế tư nhân được đặt trong tổng thể mục tiêu phát triển đất nước.

Thực trạng định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Những kết quả chủ yếu

Một là, nhận thức và thể chế về vị trí của kinh tế tư nhân có bước phát triển quan trọng

Quá trình đổi mới đã từng bước chuyển từ cách tiếp cận coi kinh tế tư nhân là khu vực bổ sung sang coi đây là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Đại hội XIII xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; đến Nghị quyết 68-NQ/TW, vai trò này được nâng lên thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Đây là sự thay đổi có ý nghĩa kinh tế chính trị sâu sắc, bởi nó cho thấy nhận thức ngày càng rõ hơn rằng trong điều kiện phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nguồn lực xã hội và năng lực kinh doanh của khu vực tư nhân cần được huy động và phát huy mạnh mẽ. Nghị quyết 68 đồng thời đặt ra yêu cầu xây dựng Nhà nước kiến tạo, phục vụ, hỗ trợ kinh tế tư nhân phát triển nhưng không can thiệp hành chính trái với nguyên tắc thị trường; bảo đảm quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và quyền cạnh tranh bình đẳng.

Hai là, kinh tế tư nhân ngày càng trở thành lực lượng quan trọng tạo ra của cải, việc làm và thu nhập

Quy mô và đóng góp của khu vực tư nhân đã tăng đáng kể. Theo số liệu thống kê hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân 940.000 doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước, sử dụng khoảng 82% tổng số lao động trong nền kinh tế. Trong bối cảnh năm 2025, kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao: GDP tăng 8,02%; quy mô GDP đạt khoảng 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD; năng suất lao động toàn nền kinh tế tăng 6,83%. Những kết quả đó cho thấy sự phát triển của kinh tế tư nhân ngày càng gắn với quá trình mở rộng quy mô nền kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập. Đây chính là một trong những cơ sở vật chất quan trọng để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội.

Quy mô và đóng góp của khu vực tư nhân đã tăng đáng kể

Ba là, quan hệ giữa Nhà nước và thị trường trong phát triển kinh tế tư nhân từng bước được đổi mới

Một trong những biểu hiện rõ nét của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế tư nhân là sự chuyển đổi phương thức quản lý của Nhà nước: từ can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất – kinh doanh sang chủ yếu sử dụng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chính sách và các công cụ kinh tế để định hướng thị trường. Nghị quyết 68 yêu cầu giảm thiểu can thiệp hành chính, xóa bỏ cơ chế “xin – cho”, bảo đảm người dân và doanh nghiệp được tự do kinh doanh trong những ngành nghề pháp luật không cấm; đồng thời thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế trong tiếp cận và sử dụng các nguồn lực. Đây là sự vận động phù hợp với nguyên tắc của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: thị trường giữ vai trò quan trọng trong phân bổ nguồn lực, Nhà nước định hướng và điều tiết để thị trường vận hành theo khuôn khổ pháp luật và phục vụ mục tiêu phát triển chung.

Bốn là, yêu cầu gắn phát triển kinh tế tư nhân với tiến bộ, công bằng xã hội ngày càng rõ

Định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ được thể hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP mà còn ở khả năng chuyển hóa thành các giá trị xã hội. Trong quá trình phát triển, kinh tế tư nhân ngày càng được yêu cầu thực hiện trách nhiệm đối với người lao động, bảo vệ môi trường, thực hiện nghĩa vụ thuế, bảo đảm an toàn sản xuất và tham gia các hoạt động xã hội. Đây là điểm đặc biệt quan trọng dưới góc độ kinh tế chính trị, bởi quan hệ giữa doanh nghiệp và người lao động chính là một bộ phận cấu thành quan hệ sản xuất. Nếu chỉ quan tâm đến tăng trưởng của khu vực tư nhân mà xem nhẹ chất lượng việc làm, tiền lương, điều kiện lao động và quyền lợi người lao động thì chưa thể coi đó là một mô hình phát triển đầy đủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Những vấn đề đặt ra

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế tư nhân vẫn đứng trước một số vấn đề.

Trước hết, quy mô của khu vực tư nhân lớn nhưng năng lực nội sinh của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế. Một bộ phận lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực công nghệ và quản trị hạn chế, khả năng tham gia các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao còn thấp. Điều này làm cho sự phát triển về số lượng chưa chuyển hóa tương xứng thành sự phát triển về năng suất, công nghệ và năng lực cạnh tranh.

Thứ hai, khả năng tiếp cận các nguồn lực sản xuất chưa thật sự bình đẳng. Nghị quyết 68 đã trực tiếp yêu cầu thực hiện cơ chế thị trường, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế trong huy động, phân bổ và sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên, công nghệ, nhân lực và dữ liệu. Việc phải đặt ra yêu cầu này cho thấy đây vẫn là một vấn đề cần tiếp tục xử lý trong thực tiễn.

Thứ ba, mối quan hệ giữa lợi ích doanh nghiệp, lợi ích người lao động và lợi ích xã hội chưa phải lúc nào cũng hài hòa. Trong một số trường hợp, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận có thể tạo áp lực đối với tiền lương, điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội hoặc môi trường. Điều này đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế phân phối và phân phối lại, đồng thời tăng cường thiết chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.

Thứ tư, nguy cơ phát triển không bền vững vẫn tồn tại. Nếu dòng vốn tư nhân tập trung quá mức vào những lĩnh vực mang tính đầu cơ hoặc khai thác tài nguyên mà thiếu đầu tư vào công nghệ, sản xuất, đổi mới sáng tạo thì sự gia tăng quy mô vốn chưa chắc đồng nghĩa với nâng cao chất lượng lực lượng sản xuất.

Thứ năm, năng lực quản trị nhà nước và chất lượng thể chế vẫn là một nhân tố quyết định. Quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp nếu thiếu minh bạch có thể tạo ra chi phí không chính thức, bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và làm suy giảm niềm tin thị trường. Vì vậy, định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi không chỉ “Nhà nước quản lý thị trường” mà quan trọng hơn là Nhà nước phải quản lý bằng thể chế hiện đại, minh bạch, có trách nhiệm giải trình và phù hợp với quy luật thị trường.

Giải pháp định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế tư nhân

Một là, tiếp tục đổi mới nhận thức, thống nhất phát triển kinh tế tư nhân với phát triển lực lượng sản xuất. Trước hết cần nhận thức sâu sắc rằng phát triển kinh tế tư nhân không đối lập với định hướng xã hội chủ nghĩa. Vấn đề có tính nguyên tắc là phải phát huy được mặt tích cực của sở hữu tư nhân và cơ chế thị trường trong việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực, đồng thời hạn chế những mặt trái của thị trường thông qua thể chế và chính sách. Cần chuyển từ tư duy “quản lý khu vực tư nhân” sang tư duy “kiến tạo điều kiện để khu vực tư nhân phát triển và đóng góp vào mục tiêu phát triển quốc gia”. Nghị quyết 68 đã thể hiện khá rõ tư duy này khi xác định Nhà nước kiến tạo, phục vụ, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và chủ thể của quá trình phát triển.

Hai là, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng Đây là giải pháp có tính nền tảng. Cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh, phá sản, hợp đồng và giải quyết tranh chấp. Điểm cốt lõi là xây dựng “luật chơi” thống nhất cho các thành phần kinh tế, hạn chế tối đa sự phân biệt đối xử dựa trên hình thức sở hữu. Nhà nước cần sử dụng các công cụ thị trường để điều tiết thay vì can thiệp hành chính trực tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp. Cùng với đó, cần kiểm soát độc quyền, chống cạnh tranh không lành mạnh, bảo đảm minh bạch trong phân bổ nguồn lực công và tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý.

Ba là, gắn phát triển kinh tế tư nhân với nâng cao năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nếu mục tiêu của định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất hiện đại thì phát triển kinh tế tư nhân phải được đặt trong chiến lược nâng cao năng suất và trình độ công nghệ quốc gia. Nghị quyết 68 đặt mục tiêu đến năm 2030 năng suất lao động của khu vực kinh tế tư nhân tăng bình quân khoảng 8,5–9,5%/năm; đồng thời phấn đấu đưa năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của khu vực này vào nhóm dẫn đầu ASEAN. Do đó, chính sách hỗ trợ cần chuyển mạnh từ hỗ trợ theo quy mô sang hỗ trợ năng lực đổi mới sáng tạo, nhất là nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, công nghệ xanh, đào tạo nhân lực và liên kết doanh nghiệp – viện nghiên cứu – trường đại học.

Bốn là, hình thành đội ngũ doanh nhân tư nhân có năng lực, văn hóa và trách nhiệm xã hội. Doanh nhân là một chủ thể đặc biệt của lực lượng sản xuất hiện đại. Vì vậy, phát triển kinh tế tư nhân phải gắn với xây dựng đội ngũ doanh nhân có năng lực quản trị, tư duy đổi mới sáng tạo, văn hóa kinh doanh và ý thức trách nhiệm xã hội. Nghị quyết 68 đặt yêu cầu xây dựng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hóa kinh doanh, bản lĩnh, trí tuệ, năng động, sáng tạo, thượng tôn pháp luật và tích cực thực hiện trách nhiệm xã hội.  Đây cũng là cơ sở để hình thành một quan niệm mới về làm giàu hợp pháp và chính đáng: lợi nhuận không đối lập với lợi ích xã hội nếu lợi nhuận được tạo ra trên cơ sở đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, tuân thủ pháp luật và tạo ra giá trị cho xã hội.

Năm là, gắn phát triển kinh tế tư nhân với mục tiêu phát triển bền vững và lợi ích quốc gia. Trong giai đoạn mới, kinh tế tư nhân cần được khuyến khích tham gia sâu hơn vào những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược như công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ số, năng lượng, logistics, hạ tầng, công nghiệp hỗ trợ, kinh tế xanh và các ngành có khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Mục tiêu đến năm 2030 của Nghị quyết 68 là có khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, trong đó ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55–58% GDP và 35–40% tổng thu ngân sách nhà nước. Tầm nhìn đến năm 2045 là trên 3 triệu doanh nghiệp và đóng góp trên 60% GDP. Những mục tiêu này cho thấy định hướng phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới không chỉ nhằm tăng số lượng doanh nghiệp mà hướng tới hình thành năng lực sản xuất quốc gia và các doanh nghiệp Việt Nam có sức cạnh tranh quốc tế.

Kết luận

Từ góc độ kinh tế chính trị, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế tư nhân và định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cần được nhìn nhận như một mối quan hệ thống nhất biện chứng, trong đó phát triển kinh tế tư nhân là một phương thức quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, huy động nguồn lực xã hội và tạo ra của cải; còn định hướng xã hội chủ nghĩa tạo khuôn khổ thể chế, mục tiêu và phương thức điều tiết để quá trình phát triển đó hướng tới lợi ích chung của xã hội.

Thực tiễn đổi mới cho thấy, việc phát triển kinh tế tư nhân không làm suy giảm mà ngược lại có thể tạo thêm cơ sở vật chất cho việc thực hiện các mục tiêu xã hội chủ nghĩa, nếu Nhà nước xây dựng được thể chế phù hợp và xử lý hiệu quả các vấn đề về sở hữu, phân phối, quan hệ lao động, cạnh tranh và lợi ích xã hội.

Vấn đề có ý nghĩa quyết định trong giai đoạn tới là không đặt phát triển kinh tế tư nhân và định hướng xã hội chủ nghĩa ở hai phía đối lập, mà phải tạo lập một cơ chế trong đó hai quá trình này hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau: phát triển kinh tế tư nhân để phát triển lực lượng sản xuất; phát triển lực lượng sản xuất để tạo cơ sở vật chất cho tiến bộ và công bằng xã hội; đồng thời sử dụng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để bảo đảm thành quả phát triển được chuyển hóa thành những giá trị phát triển chung của đất nước và nhân dân.

TS. Nguyễn Đức Long

Tài liệu tham khảo

  1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.
  2. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân. Hà Nội, 2025.
  3. Chính phủ, Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 về Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW, Hà Nội, 2025.
  4. Tổng cục Thống kê, Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025, 2026, Hà Nội, 2026.
  5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tại Đại hội XIV, Hà Nội, 2026.

Bài viết cùng chuyên mục