Thứ Ba, Tháng 10 27, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Vai trò tiên phong trong hội nhập và phát triển của thành phố Hồ Chí Minh hiện nay



ĐNA -

Từ năm 1986, cùng cả nước tiến hành công cuộc đổi mới, Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt nhiều thành tựu nổi bật, khẳng định vai trò đầu tàu trong hội nhập quốc tế, tăng trưởng kinh tế, thu hút FDI và đóng góp ngân sách quốc gia. Với tinh thần sáng tạo, tiên phong, Thành phố còn đóng góp nhiều ý tưởng, mô hình và cách làm mới vào quá trình hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Trong giai đoạn phát triển mới, thành phố tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu, hướng đến xây dựng đô thị toàn cầu thông minh, hiện đại, năng động, hội nhập, tăng trưởng xanh, bao trùm và bền vững.

Trong tiến trình hội nhập và phát triển đất nước, Thành phố Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò đầu tàu tăng trưởng, đồng thời là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của cả nước. Trước thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính (ngày 01/7/2025), Thành phố đóng góp hơn 22% GDP và 27% tổng thu ngân sách quốc gia, trong khi chỉ chiếm 0,6% diện tích và 8,6% lao động cả nước (V. Lê, 2024). Thành phố cũng dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với 12.398 dự án đến từ 120 quốc gia và vùng lãnh thổ, tổng vốn đăng ký đạt 57,632 tỷ USD, chiếm 31,67% tổng số dự án FDI và gần 13% tổng vốn đăng ký của cả nước (Thúy Hiền, 2024). Những kết quả này cho thấy vị thế và sức ảnh hưởng của Thành phố đối với nền kinh tế quốc gia; đồng thời, khẳng định rằng những chuyển biến trong phát triển kinh tế Thành phố có tác động đáng kể đến tăng trưởng và triển vọng phát triển chung của đất nước.

Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới giai đoạn phát triển mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và sánh vai với các cường quốc năm châu (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2024), Thành phố Hồ Chí Minh đứng trước yêu cầu tiếp tục phát huy vai trò tiên phong, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của cả nước. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Thành phố có thêm điều kiện để phát huy tiềm năng, lợi thế và khai thác hiệu quả các nguồn lực phát triển, gắn với những cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội. Trên nền tảng truyền thống năng động, sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm của chính quyền và Nhân dân, Thành phố hướng tới củng cố vai trò đầu tàu kinh tế, xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

Dấu ấn về vai trò tiên phong của thành phố Hồ Chí Minh qua 40 năm Đổi mới
Từ năm 1986, cùng cả nước thực hiện công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt nhiều thành tựu nổi bật, từng bước khẳng định vai trò đầu tàu tăng trưởng, trung tâm kết nối của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước. Vai trò tiên phong của Thành phố không chỉ thể hiện qua những đóng góp về kinh tế mà còn ở quá trình hình thành và phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Bộ Chính trị từng nhấn mạnh Thành phố có những đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhập kinh tế Việt Nam với khu vực và thế giới (Bộ Chính trị, 2002, tr. 1). Tiếp đó, Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 30/12/2022 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định vai trò động lực, đầu tàu và dẫn dắt của Thành phố trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, thương mại, văn hóa, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và giáo dục – đào tạo; đồng thời nhấn mạnh vị thế cửa ngõ quan trọng kết nối vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước với khu vực, thế giới. Gần đây, Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới tiếp tục nhấn mạnh vị thế của Thành phố là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế, đồng thời là đầu tàu tăng trưởng và cực phát triển quan trọng của đất nước. Những đánh giá và định hướng này cho thấy vai trò của Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng được khẳng định trong chiến lược phát triển quốc gia, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục phát huy năng lực dẫn dắt, kết nối và tạo động lực tăng trưởng cho cả nước.

Tiên phong trong đổi mới tư duy phát triển, thử nghiệm thể chế mới
Trong tiến trình phát triển đất nước, Thành phố Hồ Chí Minh luôn thể hiện vai trò tiên phong trong tìm tòi, thử nghiệm và thúc đẩy đổi mới thể chế, được xem như một “phòng thí nghiệm chính sách” từ thực tiễn. Cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, trước những hạn chế của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Thành phố đã chủ động tìm kiếm giải pháp tháo gỡ khó khăn, khơi thông sản xuất và phát huy thế mạnh của nền kinh tế nhiều thành phần, từng bước vận hành theo cơ chế thị trường. Thực tiễn “phá rào”, đổi mới cơ chế quản lý tại Thành phố và một số địa phương đã góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn để Trung ương hoạch định đường lối đổi mới tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (Chính trị quốc gia Sự thật, 2023, tr. 2).

Trong thời kỳ đổi mới, Thành phố tiếp tục phát huy vai trò tiên phong thông qua việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thử nghiệm các mô hình, cơ chế quản lý kinh tế mới. Việc hình thành Khu chế xuất Tân Thuận, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (SHTP) và thu hút các tập đoàn công nghệ lớn như Intel, Samsung đã góp phần thúc đẩy thu hút đầu tư, nâng cao năng lực sản xuất và tăng cường sự tham gia của Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu (Ái Chân & Hoài Nam, 2015). Tiếp nối định hướng đó, Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, mở ra cơ hội phát triển một hệ sinh thái tài chính đa dạng tại Thành phố, bao gồm huy động vốn, đầu tư, thanh toán, quản lý tài sản, công nghệ tài chính (fintech) và tài chính xanh. Đây là một trong những định hướng thể hiện vai trò chủ động của Thành phố trong tiếp cận mô hình phát triển mới, thử nghiệm cơ chế, chính sách đặc thù và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế.

Vai trò tiên phong trong hội nhập quốc tế và kết nối các chuỗi giá trị toàn cầu
Là một trong những cửa ngõ giao lưu quốc tế quan trọng của cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh luôn giữ vai trò tiên phong trong tiến trình hội nhập quốc tế, chủ động mở rộng quan hệ đối ngoại và tăng cường kết nối với các đối tác toàn cầu. Đến nay, Thành phố đã thiết lập quan hệ hữu nghị, hợp tác với 88 địa phương nước ngoài trên nhiều châu lục, đồng thời tích cực tham gia các tổ chức đô thị quốc tế như ANMC21, CityNet và UCLG (HCMCPV, 2026). Thông qua việc tham gia các diễn đàn đa phương, tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế, triển lãm thương mại và các hoạt động xúc tiến đầu tư, Thành phố góp phần mở rộng không gian hợp tác quốc tế, kết nối doanh nghiệp trong nước với thị trường toàn cầu, thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học – công nghệ. Qua đó, vị thế và hình ảnh quốc tế của Thành phố từng bước được nâng cao, tạo động lực cho phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Riêng năm 2025, Thành phố đã tiếp đón, làm việc với 55 đoàn đến tìm hiểu môi trường đầu tư, kinh doanh và tổ chức 150 hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư trong và ngoài nước (UBND TP. Hồ Chí Minh, 2026).

Bên cạnh hoạt động đối ngoại, Thành phố Hồ Chí Minh còn giữ vai trò đầu mối kết nối Việt Nam với các chuỗi giá trị và mạng lưới thương mại toàn cầu. Hệ thống cảng biển cùng các lĩnh vực logistics, tài chính, thương mại và dịch vụ tạo nền tảng quan trọng cho hoạt động xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư và hợp tác quốc tế. Trong đó, cụm cảng Cái Mép – Thị Vải ngày càng khẳng định vị thế trong mạng lưới cảng biển khu vực; các đầu mối như cảng Cát Lái, cảng quốc tế Gemalink và dự án cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ tiếp tục góp phần mở rộng năng lực kết nối hàng hóa của Việt Nam với thị trường thế giới. Theo số liệu được công bố, năm 2025, hệ thống cảng biển Thành phố thông qua hơn 24 triệu TEU, xếp thứ 8 thế giới theo Lloyd’s List; kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 200 tỷ USD, tương đương 20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước (Hà Linh, 2026). Những kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của Thành phố trong tổ chức lưu thông hàng hóa, phát triển logistics và tăng cường khả năng tham gia của Việt Nam vào chuỗi cung ứng quốc tế.

Vai trò đầu tàu trong thu hút FDI và đóng góp cho ngân sách quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương giữ vai trò chủ lực trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), phát triển các ngành dịch vụ hiện đại, thúc đẩy xuất khẩu và tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước. Ngay từ những năm đầu mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, Thành phố đã chủ động khai thác lợi thế về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh để thu hút nguồn lực quốc tế. Cùng với những đổi mới trong tư duy phát triển và cơ chế quản lý, Thành phố từng bước trở thành địa bàn thu hút FDI trọng điểm, tạo hiệu ứng lan tỏa đối với các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Từ năm 1991, dòng vốn FDI vào Thành phố tăng mạnh, với tốc độ tăng bình quân 67,97%/năm trong giai đoạn 1991–1995. Tính lũy kế đến năm 2023, Thành phố có 12.398 dự án FDI đến từ 120 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký đạt 57,632 tỷ USD, chiếm 31,67% tổng số dự án FDI cả nước và gần 13% tổng vốn đăng ký (Thúy Hiền, 2024). Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, Thành phố Hồ Chí Minh mới, bao gồm địa bàn Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu trước đây, tiếp tục ghi nhận quy mô thu hút đầu tư lớn. Trong 10 tháng đầu năm 2025, Thành phố thu hút khoảng 7,23 tỷ USD vốn FDI, tăng 28,67% so với cùng kỳ năm 2024 (Nhật Minh, 2026). Trong 6 tháng đầu năm 2026, vốn FDI thu hút đạt hơn 6,6 tỷ USD; tổng số dự án còn hiệu lực vượt 20.800, với tổng vốn đăng ký khoảng 142 tỷ USD từ 152 quốc gia và vùng lãnh thổ (HTV, 2026).

Đáng chú ý, dòng vốn đầu tư ngày càng gắn với các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, trung tâm dữ liệu, hạ tầng số và logistics. Cùng với đó, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) đã trao chứng nhận cam kết cho 15 nhà đầu tư, với tổng nguồn vốn đăng ký và cam kết đầu tư khoảng 19,1 tỷ USD (Lê Anh, 2026). Những diễn biến này phản ánh định hướng chuyển dịch từ thu hút vốn đầu tư đơn thuần sang nâng cao chất lượng dòng vốn, phát triển các lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng và tăng cường liên kết với mạng lưới sản xuất, dịch vụ toàn cầu.

Vai trò đầu tàu của Thành phố còn thể hiện rõ qua quy mô kinh tế và mức đóng góp vào ngân sách quốc gia. Năm 2020, GRDP của Thành phố, tính theo giá năm 2010, chiếm 25,79% quy mô kinh tế cả nước và 51,11% quy mô kinh tế vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Trong giai đoạn 2011–2021, Thành phố đóng góp gần 22% quy mô GDP cả nước mỗi năm. Năm 2025, Thành phố Hồ Chí Minh mới đạt tốc độ tăng trưởng GRDP 8,3%, với tổng giá trị GRDP khoảng 3,03 triệu tỷ đồng, chiếm 23,5% GDP cả nước (Trần Lê, 2025). Các số liệu này cho thấy quy mô và sức ảnh hưởng đáng kể của Thành phố đối với tăng trưởng kinh tế quốc gia, đồng thời phản ánh vai trò trung tâm của địa phương trong phát triển vùng.

Cùng với đóng góp vào tăng trưởng, Thành phố Hồ Chí Minh luôn là địa phương có nguồn thu ngân sách nhà nước lớn. Tỷ trọng đóng góp của Thành phố vào tổng thu ngân sách cả nước đạt 26,5% trong giai đoạn 2001–2010 và tăng lên 27,5% trong giai đoạn 2011–2019. Theo Phan Anh (2018), riêng năm 2018, số thu ngân sách của Thành phố tương đương tổng thu của 45 tỉnh, thành phố khác. Năm 2025, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 800.043 tỷ đồng, đứng đầu cả nước và chiếm hơn 36% tổng thu ngân sách quốc gia (Lê Tuyết, 2026). Quy mô thu ngân sách này khẳng định vai trò quan trọng của Thành phố trong huy động nguồn lực tài chính công, tạo cơ sở cho đầu tư phát triển và thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của cả nước.

Nhìn chung, vai trò đầu tàu của Thành phố Hồ Chí Minh được thể hiện trên nhiều phương diện có mối quan hệ chặt chẽ: mở rộng hội nhập và đối ngoại quốc tế, tăng cường kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu, thu hút FDI, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp ngân sách. Đây không chỉ là những chỉ dấu về quy mô và năng lực phát triển của Thành phố, mà còn cho thấy tầm quan trọng của địa phương đối với liên kết vùng và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Tiên phong trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương giữ vai trò tiên phong trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của cả nước. Với hệ thống cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và các khu công nghệ cao tập trung, Thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tri thức và thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, kinh doanh. Hiện Thành phố có hơn 80 trường đại học, học viện cùng hàng trăm cơ sở nghiên cứu khoa học, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Trong đó, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm sản xuất công nghệ cao quan trọng của Việt Nam, thu hút sự tham gia của nhiều tập đoàn công nghệ quốc tế như Intel, Samsung, Nidec, Jabil và Schneider Electric. Sự hiện diện của các doanh nghiệp này góp phần mở rộng năng lực sản xuất công nghệ cao, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Bên cạnh đó, hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo của Thành phố cũng đạt được những kết quả đáng chú ý. Trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, Thành phố nằm trong nhóm 5 hệ sinh thái khởi nghiệp hàng đầu Đông Nam Á, thuộc top 110 toàn cầu; đứng thứ hai khu vực về công nghệ tài chính (FinTech) và thuộc top 30 thế giới về công nghệ chuỗi khối (Blockchain).

Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, việc kết hợp các lợi thế về công nghiệp, công nghệ, nghiên cứu và nguồn nhân lực của các địa phương trước đây mở ra thêm dư địa phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cho Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, quá trình xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số tạo điều kiện đổi mới phương thức quản trị, phát triển các mô hình kinh doanh mới, nâng cao năng suất lao động và cải thiện năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, quản trị và phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng của Thành phố. Đây không chỉ là lĩnh vực tạo ra động lực phát triển mới mà còn là nền tảng để Thành phố duy trì vai trò đầu tàu kinh tế, nâng cao chất lượng hội nhập và gia tăng giá trị trong các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu.

Một số định hướng nhằm tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong hội nhập và phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới
Trải qua 40 năm đổi mới, hội nhập và phát triển, Thành phố Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò đầu tàu tăng trưởng, đồng thời là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của cả nước. Trong giai đoạn phát triển mới, Thành phố tiếp tục đảm nhận vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Việc sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức lại không gian phát triển tạo thêm điều kiện để Thành phố mở rộng quy mô kinh tế, kết nối nguồn lực và phát huy lợi thế bổ sung giữa các địa phương.

Theo định hướng được nêu tại nguồn dẫn của Bộ Chính trị (2026), đến năm 2045, Thành phố Hồ Chí Minh hướng tới trở thành “đô thị văn minh, hiện đại, năng động, sáng tạo; trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của châu Á, là điểm đến hấp dẫn toàn cầu, văn hoá, xã hội phát triển đặc sắc, chất lượng cuộc sống cao, hội nhập quốc tế sâu rộng”.

Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trước đây, Thành phố Hồ Chí Minh mới có diện tích tự nhiên 6.773 km², dân số 13,608 triệu người, chiếm 13,4% dân số cả nước. Năm 2025, quy mô GRDP của Thành phố đạt khoảng 123 tỷ USD, tương đương 23,5% GDP cả nước; GRDP bình quân đầu người đạt 8.944 USD, gấp 1,7 lần mức bình quân cả nước. Thành phố cũng chiếm 36,7% tổng thu ngân sách quốc gia. Với khoảng 7,281 triệu lao động đang làm việc, tương đương 14% lực lượng lao động cả nước, Thành phố có nguồn nhân lực quy mô lớn, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển công nghiệp, dịch vụ và liên kết kinh tế vùng (Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 2025).

Đáng chú ý, việc hợp nhất không gian phát triển còn tạo điều kiện hình thành mối liên kết giữa các thế mạnh kinh tế của ba địa phương trước đây: Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò trung tâm tài chính, dịch vụ và đổi mới sáng tạo; Bình Dương phát huy thế mạnh công nghiệp; Bà Rịa – Vũng Tàu đảm nhận vai trò cửa ngõ kinh tế biển với hệ thống cảng nước sâu. Nếu được tổ chức và khai thác hiệu quả, sự kết hợp này có thể hình thành hành lang sản xuất – logistics – tài chính liên hoàn, tăng cường kết nối chuỗi giá trị và nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn vùng. Đây là cơ sở quan trọng để Thành phố tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong hội nhập và phát triển đất nước. Tuy nhiên, để chuyển hóa lợi thế về quy mô, nguồn lực và không gian phát triển thành kết quả thực chất, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về thể chế, nhân lực, hạ tầng, thu hút đầu tư, đối ngoại và quản trị đô thị.

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển và phát huy hiệu quả các cơ chế đặc thù. Hoàn thiện thể chế là điều kiện quan trọng để Thành phố Hồ Chí Minh phát huy vai trò đầu tàu kinh tế và chủ động khai thác các nguồn lực phát triển. Những hạn chế của Thành phố không chỉ liên quan đến quy mô nguồn lực mà còn gắn với cơ chế, chính sách và phương thức quản trị đô thị. Vì vậy, cần cụ thể hóa và triển khai hiệu quả các nghị quyết của Trung ương về phát triển Thành phố, trong đó có Nghị quyết số 31-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 98/2023/QH15, Nghị quyết số 260/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị theo các thông tin được dẫn trong tài liệu. Trên cơ sở đó, Thành phố cần chủ động vận dụng các cơ chế đặc thù, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý phù hợp với yêu cầu quản trị một đô thị có quy mô lớn và mức độ liên kết kinh tế cao. Việc nghiên cứu xây dựng Luật Đô thị đặc biệt cần hướng đến xác lập cơ chế quản trị phù hợp, tăng tính chủ động trong huy động nguồn lực, phân bổ vốn đầu tư công, phát triển hạ tầng và tổ chức bộ máy. Qua đó, tạo điều kiện để Thành phố phát huy tính linh hoạt trong điều hành, nâng cao hiệu quả quản lý và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng tiếp nhận, làm chủ công nghệ của Thành phố trong nền kinh tế tri thức. Do đó, Thành phố cần đổi mới giáo dục – đào tạo theo hướng gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của thị trường lao động và xu hướng phát triển khoa học, công nghệ. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu với ứng dụng thực tiễn. Trọng tâm là phát triển nhân lực trong các lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) và công nghệ chuỗi khối (Blockchain).

Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo tại các cơ sở giáo dục hiện có, Thành phố cần lựa chọn các trường đại học trọng điểm để đầu tư phát triển trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Các chương trình đào tạo kỹ năng số cần được mở rộng nhằm nâng cao khả năng thích ứng của lực lượng lao động trước những thay đổi của thị trường. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu hàng đầu thế giới và xây dựng chính sách đủ sức cạnh tranh để thu hút, giữ chân chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân và nhân tài, qua đó bổ sung nguồn lực tri thức cho quá trình phát triển của Thành phố.

Thứ ba, phát triển hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại và tăng cường liên kết vùng. Hạ tầng giao thông, hạ tầng số, logistics và hạ tầng xã hội là nền tảng bảo đảm khả năng kết nối, lưu thông nguồn lực và duy trì động lực tăng trưởng của Thành phố. Vì vậy, cần ưu tiên đầu tư đồng bộ các hệ thống hạ tầng, đẩy mạnh phát triển hạ tầng số và triển khai mạng 5G cùng các thế hệ tiếp theo, đáp ứng yêu cầu của kinh tế số và quản trị đô thị thông minh.

Trong lĩnh vực giao thông, cần tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn và đẩy nhanh tiến độ những dự án có tính kết nối liên vùng như hệ thống đường sắt đô thị (Metro), đường Vành đai 3, Vành đai 4, cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Mộc Bài, cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Chơn Thành và các tuyến kết nối với Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Cùng với đầu tư hạ tầng nội vùng, Thành phố cần tăng cường phối hợp với các địa phương Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long trong quy hoạch, phát triển giao thông, logistics và tổ chức không gian sản xuất. Việc kết nối đồng bộ các trung tâm công nghiệp, dịch vụ, cảng biển và thị trường tiêu thụ sẽ giúp khai thác tốt hơn lợi thế bổ sung giữa các địa phương, hình thành không gian kinh tế liên kết và nâng cao sức cạnh tranh của toàn vùng phía Nam.

Thứ tư, thu hút đầu tư có chọn lọc, phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao. Để nâng cao chất lượng tăng trưởng và hiệu quả hội nhập, Thành phố cần chuyển trọng tâm từ thu hút vốn đầu tư đơn thuần sang lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và khả năng lan tỏa đối với nền kinh tế trong nước. Các lĩnh vực cần ưu tiên gồm công nghệ thông tin, vi mạch, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo và công nghệ tài chính (FinTech). Đồng thời, cần xây dựng cơ chế khuyến khích các dự án sử dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường và thúc đẩy chuyển đổi các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện hữu theo mô hình khu công nghiệp sinh thái, đáp ứng yêu cầu giảm phát thải và phát triển bền vững.

Thành phố cũng cần tập trung phát triển hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn, vi mạch và trí tuệ nhân tạo tại Khu Công nghệ cao, tăng cường hợp tác chiến lược với các quốc gia có thế mạnh về khoa học, công nghệ. Đối với các dự án FDI, cần chú trọng tiêu chí chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước và nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa. Việc tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước sẽ góp phần cải thiện năng lực công nghệ, mở rộng cơ hội tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và nâng cao chất lượng tăng trưởng dài hạn.

Thứ năm, nâng tầm ngoại giao đô thị phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, ngoại giao đô thị cần được xem là một công cụ hỗ trợ phát triển, góp phần thu hút nguồn lực, mở rộng quan hệ đối tác và nâng cao vị thế quốc tế của Thành phố. Trên cơ sở lợi thế về quy mô, không gian phát triển và mạng lưới quan hệ đối ngoại sau sắp xếp đơn vị hành chính, Thành phố cần nâng cao tính chủ động, chuyên nghiệp và hiệu quả của hoạt động ngoại giao đô thị.

Trọng tâm là triển khai đồng bộ năm trụ cột: kinh tế – tài chính; đổi mới sáng tạo – công nghệ; xây dựng thương hiệu thành phố; môi trường và phát triển bền vững; liên kết đô thị toàn cầu. Thông qua các trụ cột này, Thành phố có thể tăng cường kết nối với đối tác quốc tế, thu hút đầu tư, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu và tiếp cận các nguồn lực phục vụ phát triển bền vững. Bên cạnh đó, cần chủ động tham gia sâu hơn vào các mạng lưới đô thị quốc tế mà Thành phố là thành viên, từng bước đóng góp vào việc xây dựng các sáng kiến và chuẩn mực hợp tác đô thị. Việc mở rộng tham gia các mạng lưới như C40 Cities và Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO, phù hợp với điều kiện và định hướng phát triển của Thành phố, sẽ góp phần nâng cao sức ảnh hưởng quốc tế, phát huy quyền lực mềm và mở rộng cơ hội tiếp cận nguồn vốn xanh.

Thứ sáu, đẩy mạnh cải cách hành chính và xây dựng đô thị thông minh. Cải cách hành chính và hiện đại hóa quản trị đô thị là những điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả điều hành, cải thiện chất lượng sống và xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi. Thành phố cần đổi mới phương thức quản trị theo hướng hiện đại, minh bạch, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan nhà nước và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công.

Trọng tâm là phát triển hạ tầng công nghệ, tăng cường liên thông dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào giải quyết thủ tục hành chính, quản lý đô thị và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển. Song song đó, cần tiếp tục đơn giản hóa quy trình, công khai thông tin và minh bạch hóa việc xử lý hồ sơ đầu tư, qua đó giảm thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Việc nâng cao chất lượng dịch vụ công không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả quản lý nhà nước mà còn củng cố niềm tin của nhà đầu tư, tăng sức hấp dẫn của môi trường kinh doanh và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng.

Để tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong hội nhập và phát triển đất nước, Thành phố Hồ Chí Minh cần chuyển hóa lợi thế về quy mô kinh tế, nguồn nhân lực, công nghệ và không gian phát triển thành năng lực cạnh tranh thực chất. Sáu nhóm giải pháp trên có mối quan hệ bổ trợ lẫn nhau: thể chế tạo hành lang cho phát triển; nhân lực và khoa học, công nghệ tạo động lực đổi mới; hạ tầng và liên kết vùng mở rộng không gian kinh tế; chính sách thu hút đầu tư nâng cao chất lượng tăng trưởng; ngoại giao đô thị mở rộng mạng lưới hợp tác; còn cải cách hành chính và quản trị thông minh tạo nền tảng thực thi hiệu quả. Triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần củng cố vai trò đầu tàu của Thành phố, tăng cường liên kết vùng và đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam trong những thập niên tới.

Qua 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, Thành phố Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò tiên phong trên nhiều lĩnh vực, từ đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đến phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Những thành tựu đó không chỉ tạo nền tảng cho sự phát triển của Thành phố mà còn đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế – xã hội và tiến trình hội nhập quốc tế của cả nước. Trong bối cảnh thế giới biến động sâu sắc dưới tác động của cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, tinh gọn bộ máy nhà nước, Thành phố đứng trước những cơ hội mới song cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì động lực tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Để tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu trong hội nhập và phát triển đất nước, Thành phố cần khơi dậy truyền thống năng động, sáng tạo; khai thác hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù; đồng thời đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hoàn thiện kết cấu hạ tầng, nâng cao hiệu quả quản trị đô thị và thúc đẩy chuyển đổi xanh. Việc triển khai đồng bộ các định hướng này có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững trong dài hạn.

Với vị thế, tiềm năng và khát vọng phát triển, Thành phố Hồ Chí Minh hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, dịch vụ, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu Đông Nam Á vào năm 2030; đến năm 2045, trở thành đô thị văn minh, hiện đại, năng động, sáng tạo, là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của châu Á, điểm đến hấp dẫn toàn cầu, có bản sắc văn hóa đặc sắc, chất lượng cuộc sống cao và mức độ hội nhập quốc tế sâu rộng. Xa hơn, Thành phố hướng đến xây dựng đô thị toàn cầu thông minh, hiện đại, phát triển toàn diện, ngang tầm các đô thị tiên tiến trên thế giới, với nền kinh tế tăng trưởng xanh, bền vững, chất lượng sống cao và khả năng thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Hiện thực hóa tầm nhìn đó đòi hỏi quyết tâm chính trị, năng lực quản trị và sự phối hợp đồng bộ giữa Thành phố với các cơ quan Trung ương, các địa phương trong vùng và đối tác quốc tế, qua đó tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển tiếp theo (Bộ Chính trị, 2026)./.

TS. Trịnh Diệp Phương Vũ & TS. Diệp Minh Giang/ Học viện Chính trị khu vực II

Tài liệu tham khảo
Phan Anh. (2018, ngày 2 tháng 1). Thu ngân sách của TP HCM bằng 45 tỉnh cả nước. Báo Người Lao Động. https://nld.com.vn/thoi-su/thu-ngan-sach-cua-tp-hcm-bang-45-tinh-ca-nuoc-20180102141552513.htm
Lê Anh (2026, ngày 01 tháng 5), TPHCM tái định hình tăng trưởng, tạo đà bứt phá hướng tới siêu đô thị toàn cầu, https://baochinhphu.vn/tphcm-tai-dinh-hinh-tang-truong-tao-da-but-pha-huong-toi-sieu-do-thi-toan-cau-10226043023295303.htm, ngày truy cập: 20/06/2026.
Bộ Chính trị. (2002). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 18 tháng 11 năm 2002 về Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010.
Bộ Chính trị. (2022). Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 30/12/2022 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Chính trị. (2026). Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026.
Chính trị quốc gia Sự thật (2023). Võ Văn Kiệt – Một nhân cách lớn, Nhà lãnh đạo tài năng, Suốt đời vì nước vì dân . Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ái Chân, & Hoài Nam. (2015, ngày 13 tháng 4). Khu chế xuất đầu tiên – điểm sáng lan tỏa. Báo Sài Gòn Giải Phóng. https://www.sggp.org.vn/khu-che-xuat-dau-tien-diem-sang-lan-toa-post20393.html, truy cập ngày 20/6/2026
HCMCPV (2026, ngày 9 tháng 5). TPHCM và TP Mumbai thiết lập quan hệ hữu nghị và hợp tác. Trang tin Điện tử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh. https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/tphcm-va-tp-mumbai-thiet-lap-quan-he-huu-nghi-va-hop-tac-1491943594
HTV. (2026, ngày 4 tháng 6). TP. Hồ Chí Minh đẩy mạnh thu hút đầu tư công nghệ cao. Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. https://htv.vn/tp-ho-chi-minh-day-manh-thu-hut-dau-tu-cong-nghe-cao-222260604072806192.htm
Thúy Hiền. (2024). Top 10 địa phương thu hút đầu tư FDI lớn nhất. Báo Tin tức. https://baotintuc.vn/kinh-te/top-10-dia-phuong-thu-hut-dau-tu-fdi-lon-nhat-20240113141622336.htm, truy cập ngày 20/6/2026
Hà Linh. (2026, ngày 10 tháng 6). TP.HCM kích hoạt tài chính hàng hải, kéo lại 1.000 tỷ USD giao dịch từ cảng biển. https://vtcnews.vn/tp-hcm-kich-hoat-tai-chinh-hang-hai-keo-lai-1-000-ty-usd-giao-dich-tu-cang-bien-ar1019193.html

V. Lê(2024).
TP Hồ Chí Minh phát huy vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. https://dangcongsan.vn/kinh-te/tp-ho-chi-minh-phat-huy-vai-tro-dau-tau-kinh-te-cua-ca-nuoc-664093.html
Trần Lê.
(2025, ngày 31 tháng 12). TP. HCM: 10 sự kiện kinh tế – tài chính đáng chú ý năm 2025. VietnamFinance. https://vietnamfinance.vn/tphcm-10-su-kien-kinh-te-tai-chinh-dang-chu-y-nam-2025-d138075.html
Nhật Minh.
(2026). “Siêu đô thị” Thành phố Hồ Chí Minh vươn mình sau sáp nhập, thu hút FDI chất lượng cao, https://thanhtra.com.vn/dau-tu-72A9E3223/sieu-do-thi-thanh-pho-ho-chi-minh-vuon-minh-sau-sap-nhap-thu-hut-fdi-chat-luong-cao-fd59f6507.html, truy cập ngày: 12/06/2026.
Thành ủy Tp. Hồ Chí Minh. (2025). Báo cáo Chính trị Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Lê Tuyết. (2026, ngày 10 tháng 6). Thu ngân sách TP HCM vượt 800.000 tỷ đồng.
VnExpress.https://vnexpress.net/thu-ngan-sach-tp-hcm-vuot-800-000-ty-dong-5001421.html
UBND Tp. Hồ Chí Minh (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2025; nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026.

Bài viết cùng chuyên mục