Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo có phẩm chất, năng lực ngang tầm thời đại luôn là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Từ 26 tư cách của người cách mạng chân chính được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927), bài viết làm rõ những giá trị giản dị nhưng có ý nghĩa bền vững, vượt qua mọi thời đại. Đặt trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (2026) và yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, bài viết phân tích những nét đặc sắc trong nội dung “Tư cách một người cách mạng”, qua đó khái quát 14 giá trị cốt lõi góp phần định hình mẫu hình nhà lãnh đạo công Việt Nam trên ba phương diện: đối với bản thân, đối với công vụ và đối với Nhân dân.

“Tư cách người cách mạng” và bối cảnh xây dựng đội ngũ cán bộ Việt Nam hiện nay
Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận thức sâu sắc vai trò quyết định của đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với thành bại của sự nghiệp cách mạng. Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người luôn dành nhiều tâm huyết nghiên cứu, biên soạn các tác phẩm nhằm giáo dục, rèn luyện và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Trong số những tác phẩm tiêu biểu đó, Đường Kách mệnh, xuất bản năm 1927 tại Quảng Châu (Trung Quốc), được xem là một văn kiện chính trị quan trọng, là “bảo vật quốc gia”, không chỉ có giá trị đối với phong trào cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX mà còn tiếp tục soi sáng công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay. Đặc biệt, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nội dung “Tư cách người cách mạng” ở vị trí mở đầu tác phẩm thể hiện tư tưởng nhất quán của Người về vai trò nền tảng của phẩm chất, đạo đức đối với người cách mạng và sự thành công của sự nghiệp cách mạng.
Trong bối cảnh hiện nay, khi Đảng ta đã tổ chức thành công Đại hội XIII (01/2021) và Đại hội XIV (01/2026), đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hướng tới những dấu mốc 100 năm thành lập Đảng (1930–2030) và 100 năm thành lập nước (1945–2045), yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo có đủ phẩm chất, năng lực, bản lĩnh và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ ngày càng trở nên cấp thiết. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Yêu cầu này gắn liền với việc tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV.
Cùng với đó, việc tiếp tục thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu vận dụng sâu sắc hơn những giá trị tư tưởng của Người vào công tác xây dựng đội ngũ cán bộ hiện nay. Đây cũng là cơ sở để bài viết tiếp cận, phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về “Tư cách người cách mạng”, qua đó khái quát những giá trị cốt lõi góp phần định hình mẫu hình nhà lãnh đạo công Việt Nam trong tình hình mới.
Nét đặc sắc trong “Tư cách một người cách mạng” của tác phẩm Đường Kách mệnh
Trong phần đầu tác phẩm Đường Kách mệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát 26 tư cách của một người cách mạng chân chính, gồm: Cần; Kiệm; Hòa; Tư; Cả quyết sửa lỗi mình; Cẩn thận; Không nhút nhát; Hay hỏi; Nhẫn nại; Vị công vong tư; Không hiếu danh; Không kiêu ngạo; Nói thì phải làm; Giữ chủ nghĩa cho vững; Hy sinh; Ít lòng ham muốn vật chất; Bí mật; Khoan thứ; Nghiêm túc; Có lòng bày vẽ cho người; Chánh trực; Táo bạo; Xem xét toàn diện; Quyết đoán; Dũng cảm; Phục tùng đoàn thể. Điểm đặc sắc trong cách lựa chọn và trình bày những tư cách này thể hiện trên hai phương diện cơ bản:
Thứ nhất, tư cách người cách mạng là sự kết tinh những phẩm chất tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, với những giá trị giản dị, gần gũi trong đời sống nhưng có sức lan tỏa và quy tụ sâu rộng. Đó không phải là những chuẩn mực xa vời hay chỉ dành riêng cho một nhóm người nhất định, mà được thể hiện tự nhiên qua nhận thức, thái độ và hành vi của mỗi cá nhân, trong từng vị trí và mối quan hệ cụ thể. Những phẩm chất như “cần” (siêng năng, chăm chỉ), “kiệm” (tiết kiệm, hướng đến lợi ích chung), “cẩn thận”, “không kiêu ngạo”… đều bắt nguồn từ những yêu cầu thiết thực trong đời sống và công việc hằng ngày. Bên cạnh đó, tư cách người cách mạng còn thể hiện ở những phẩm chất nhân văn sâu sắc như biết nhận lỗi và kiên quyết sửa lỗi, khoan dung, chính trực, sẵn sàng hy sinh vì lợi ích chung. Chính sự kết hợp giữa những chuẩn mực đạo đức đời thường với những giá trị nhân cách cao quý đã tạo nên nét gần gũi mà sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về người cách mạng.
Thứ hai, tư cách người cách mạng được Hồ Chí Minh đặt trong một chỉnh thể biện chứng, toàn diện, gắn kết chặt chẽ giữa ba phương diện: (1) “Tự mình phải”, những yêu cầu đối với bản thân; (2) “Đối người phải”, những chuẩn mực trong quan hệ với mọi người; (3) “Làm việc phải”, những yêu cầu trong thực hiện nhiệm vụ và công việc. Ba phương diện này không tồn tại tách biệt mà bổ sung, chi phối lẫn nhau, tạo nên sự thống nhất giữa tu dưỡng phẩm chất cá nhân, ứng xử trong các mối quan hệ xã hội và hành động trong thực tiễn cách mạng. Đặc biệt, các tư cách không chỉ được biểu hiện qua hành vi cụ thể mà còn phản ánh chiều sâu trong nhận thức, tình cảm và bản lĩnh của người cách mạng. Nếu “khoan thứ” thể hiện tinh thần nhân văn, bao dung; “vị công vong tư” khẳng định sự đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân; thì “giữ chủ nghĩa cho vững” thể hiện bản lĩnh chính trị và sự kiên định với lý tưởng, lập trường cách mạng.
Có thể khẳng định, 26 tư cách người cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong Đường Kách mệnh là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp của trí tuệ, văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam. Những chuẩn mực ấy không chỉ mang giá trị lịch sử, mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, là cơ sở quan trọng để kế thừa, vận dụng và phát triển trong quá trình xây dựng hệ giá trị của nhà lãnh đạo công Việt Nam, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Từ “Tư cách một người cách mạng” đến hình mẫu nhà lãnh đạo công Việt Nam trong thời đại hiện nay
Gần một thế kỷ đã trôi qua kể từ khi tác phẩm Đường Kách mệnh ra đời, đất nước ta đang tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh mới, với nhiều thời cơ và thách thức đan xen. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để hiện thực hóa những mục tiêu chiến lược đó, bên cạnh yêu cầu về thể chế, nguồn lực và động lực phát triển, vấn đề đặt ra là phải xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo có đủ phẩm chất, năng lực và bản lĩnh. Vậy, hình mẫu nhà lãnh đạo công Việt Nam trong thời đại hiện nay cần hội tụ những giá trị và chuẩn mực nào?
Kế thừa 26 tư cách của người cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh xác lập, kết hợp với yêu cầu thực tiễn và đòi hỏi của thời đại, có thể khái quát hình mẫu nhà lãnh đạo công Việt Nam trên ba phương diện cơ bản: đối với bản thân, đối với công vụ và đối với nhân dân. Trong đó, phương diện đối với bản thân được thể hiện qua năm yêu cầu sau:
Đối với bản thân
Một là, là công dân kiểu mẫu trong thời đại mới. Nhà lãnh đạo trước hết phải là một công dân gương mẫu, tiêu biểu trong đời sống chính trị và xã hội; có tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng cống hiến vì cộng đồng, mẫu mực trong lối sống, có ý thức chấp hành pháp luật và tôn trọng Hiến pháp. Đồng thời, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhà lãnh đạo cần có tư duy và tác phong của công dân hiện đại, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời góp phần gìn giữ, phát huy và quảng bá các giá trị văn hóa dân tộc ra thế giới.
Hai là, có lòng tự trọng cao và biết xấu hổ trước những sai phạm. Nhà lãnh đạo phải có ý thức sâu sắc về danh dự, nhân phẩm và trách nhiệm cá nhân; giữ gìn đạo đức cách mạng trước những tác động phức tạp của đời sống xã hội. Điều đó đòi hỏi mỗi người phải chủ động đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực ngay từ trong suy nghĩ và hành vi; biết lắng nghe, cầu thị, thành thật nhận lỗi và kiên quyết sửa chữa khi mắc sai lầm, không để những khuyết điểm đã được nhận diện tái diễn.
Ba là, giữ vững niềm tin và bản lĩnh cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động”. Từ tư tưởng đó, nhà lãnh đạo phải coi trọng việc học tập, nghiên cứu lý luận cách mạng, đồng thời gắn lý luận với thực tiễn để củng cố nhận thức, niềm tin và bản lĩnh chính trị. Đây cũng là cơ sở để nhận diện, đấu tranh và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; khắc phục tình trạng lý luận suông, xem nhẹ hoặc lười học tập lý luận chính trị. Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, trong khi thông tin xấu độc trên không gian mạng ngày càng diễn biến phức tạp.
Bốn là, nghiêm khắc với bản thân và biết tự giữ mình. Nhà lãnh đạo phải có tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện, nghiêm túc nhìn nhận và đấu tranh với những biểu hiện sai trái, tiêu cực của chính mình; kiên định với lý tưởng cách mạng, không để những cám dỗ về quyền lực và lợi ích cá nhân chi phối. Đặc biệt, khi có sai phạm, phải dũng cảm nhận trách nhiệm, không né tránh, đùn đẩy và sẵn sàng chịu trách nhiệm về hậu quả do hành vi của bản thân gây ra. Trong bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, yêu cầu tự rèn luyện, tự kiểm soát và giữ gìn phẩm chất đạo đức càng có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi cán bộ lãnh đạo.
Năm là, luôn hướng về cộng đồng và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân. Kế thừa truyền thống nhân ái của dân tộc với đạo lý “Thương người như thể thương thân”, nhà lãnh đạo phải có tinh thần trách nhiệm, biết sẻ chia, đồng cảm và sẵn sàng gánh vác công việc vì lợi ích cộng đồng, vì sự phát triển chung của xã hội. Tinh thần ấy phải được thể hiện bằng những hành động thiết thực, gắn trách nhiệm cá nhân với lợi ích của tập thể và Nhân dân; tuyệt đối tránh biểu hiện quan liêu, xa dân, cửa quyền, hách dịch hoặc coi thường Nhân dân.
Đối với công vụ
Một là, có năng lực cao, ngang tầm yêu cầu của thời đại. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhà lãnh đạo công cần không ngừng cập nhật tri thức khoa học, nắm vững lý luận cách mạng, đồng thời chủ động tiếp thu và vận dụng tinh hoa tri thức nhân loại vào thực tiễn Việt Nam. Đặc biệt, cần có hiểu biết và năng lực ứng dụng những thành tựu mới về chuyển đổi số, kinh tế số và quản trị hiện đại, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và điều hành.
Hai là, am tường pháp luật và đề cao pháp chế xã hội chủ nghĩa. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Trên tinh thần đó, nhà lãnh đạo phải nắm vững các quy định pháp luật, tôn trọng và nghiêm túc tuân thủ nguyên tắc “cán bộ, công chức chỉ được làm những gì pháp luật cho phép”; đồng thời vận dụng pháp luật một cách đúng đắn, thấu tình đạt lý trong giải quyết công việc. Tuyệt đối không lợi dụng chức trách, nhiệm vụ để lách luật, trục lợi hoặc khai thác những kẽ hở pháp lý vì lợi ích cá nhân.
Ba là, hành động quyết liệt và hết lòng vì công vụ. Nhà lãnh đạo phải đề cao tinh thần hành động, nói đi đôi với làm, dám nhận và thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp với tinh thần trách nhiệm cao nhất trước Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mỗi quyết định và hành động trong thực thi công vụ phải xuất phát từ lương tâm, trách nhiệm và ý thức phục vụ lợi ích chung. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định cán bộ, công chức phải thực hiện “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong hoạt động công vụ. Đây cũng là những chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa định hướng quan trọng đối với đội ngũ lãnh đạo trong thực thi nhiệm vụ hiện nay.
Bốn là, giữ vững sự chính trực và liêm chính. Người xưa từng đúc kết: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Đây là phẩm chất có ý nghĩa đặc biệt đối với người giữ trọng trách lãnh đạo. Một nhà lãnh đạo thiếu chính trực, dễ dao động trước lợi ích, sợ hãi trước áp lực, thiếu bản lĩnh đấu tranh bảo vệ lẽ phải sẽ khó có thể hoàn thành tốt trách nhiệm được giao. Liêm chính là nền tảng tạo dựng niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân; chính trực là sức mạnh nội tâm giúp nhà lãnh đạo giữ vững nguyên tắc, vượt qua cám dỗ và áp lực trong quá trình thực thi công vụ.
Năm là, có tư duy đổi mới và hành động kiến tạo phát triển xã hội. Sau 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, song trước yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, vẫn còn nhiều mục tiêu chiến lược cần tiếp tục hiện thực hóa. Điều đó đòi hỏi nhà lãnh đạo công phải có tư duy đột phá, tinh thần sáng tạo và năng lực kiến tạo phát triển; biết chủ động xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách để dẫn dắt và định hướng sự phát triển của xã hội. Đồng thời, cần có bản lĩnh đưa ra những quyết sách mạnh mẽ, phù hợp với thực tiễn, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, lấy hiệu quả phục vụ nhân dân và sự phát triển của doanh nghiệp làm thước đo trong hoạt động lãnh đạo, quản lý.
Đối với Nhân dân
Một là, trọng dân, gần dân, học dân, hiểu dân và hết lòng phục vụ Nhân dân. Nhà lãnh đạo công Việt Nam xuất thân từ Nhân dân, được nhân dân tin tưởng và ủy thác trọng trách, do đó phải luôn lấy Nhân dân làm gốc, coi việc phục vụ Nhân dân là mục tiêu cao nhất trong hoạt động lãnh đạo, quản lý. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân”. Khoản 2, Điều 8, Hiến pháp năm 2013 quy định các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức “phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân”. Quán triệt tinh thần đó, nhà lãnh đạo cần thấm nhuần quan điểm “dĩ dân vi bản”, thường xuyên sâu sát cơ sở, gần gũi với Nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và tiếp thu ý kiến đóng góp của Nhân dân. Trên cơ sở đó, xây dựng và thực hiện các quyết sách phù hợp với thực tiễn đời sống, đáp ứng lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.
Hai là, dám chịu trách nhiệm trước Nhân dân và lịch sử. Khoản 2, Điều 4, Hiến pháp năm 2013 xác định Đảng Cộng sản Việt Nam “chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Tinh thần đó đặt ra yêu cầu đối với mỗi nhà lãnh đạo phải có bản lĩnh, dũng khí và ý thức trách nhiệm trong việc đưa ra quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả công việc trước Nhân dân. Đặc biệt, khi xảy ra sai sót, khuyết điểm hoặc hậu quả từ những quyết định của mình, nhà lãnh đạo phải thẳng thắn nhận trách nhiệm, không né tránh hay đùn đẩy. Bởi những đóng góp cho đất nước, cũng như những hành động đi ngược lại lợi ích của Nhân dân và dân tộc, đều được lịch sử ghi nhận và đánh giá một cách công minh.
Ba là, có năng lực dẫn dắt, quy tụ Nhân dân đi theo con đường cách mạng đúng đắn. Đây là trọng trách đặc biệt quan trọng của nhà lãnh đạo trong bối cảnh xã hội xuất hiện nhiều xu hướng, quan điểm và lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập. Nhà lãnh đạo cần có tầm nhìn chiến lược, khả năng truyền cảm hứng và thuyết phục để lan tỏa mục tiêu, định hướng phát triển quốc gia đến đông đảo quần chúng Nhân dân. Thông qua năng lực lãnh đạo, tổ chức và nghệ thuật vận động, cần tạo được sự đồng thuận xã hội, thúc đẩy những chuyển biến tích cực trong thực tiễn và huy động sức mạnh của nhân dân vào việc thực hiện các mục tiêu chung. Điều quan trọng là phải giữ vững bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng và sự kiên định với lý tưởng, từ đó tạo dựng niềm tin, quy tụ nhân dân cùng chung chí hướng và thống nhất hành động.
Bốn là, kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng của Đảng và Nhân dân. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các nguy cơ, thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng đan xen, nhà lãnh đạo phải nâng cao năng lực nhận diện, chủ động phòng ngừa và đấu tranh hiệu quả với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, trong đó có chiến lược “diễn biến hòa bình”. Đồng thời, cần kiên định bảo vệ những thành quả cách mạng, chủ động đổi mới phương thức lãnh đạo và quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh mới. Trong quá trình đó, mọi chủ trương, quyết sách và cách thức xử lý các vấn đề xã hội phải hướng đến mục tiêu bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời đặt lợi ích chính đáng của Nhân dân ở vị trí trung tâm.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những chuẩn mực về tư cách và đạo đức cách mạng của người lãnh đạo, là di sản tư tưởng quý báu, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, trường tồn với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Từ 26 tư cách của người cách mạng được Người khái quát trong tác phẩm Đường Kách mệnh, trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng ấy và tổng kết yêu cầu thực tiễn, bài viết đã khái quát 14 giá trị cốt lõi cấu thành hình mẫu nhà lãnh đạo công Việt Nam hiện nay trên ba phương diện: đối với bản thân, đối với công vụ và đối với nhân dân. Đây không chỉ là hệ thống chuẩn mực về phẩm chất, năng lực và bản lĩnh của người lãnh đạo, mà còn là sự kết hợp giữa những giá trị đạo đức cách mạng truyền thống với yêu cầu đổi mới, kiến tạo và phát triển đất nước trong thời đại mới.
Đặc biệt, chiều sâu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ không chỉ nằm ở mục tiêu xây dựng một Đảng trong sạch, vững mạnh, mà còn ở tầm nhìn lớn hơn: xây dựng Đảng để lãnh đạo cách mạng, phụng sự Tổ quốc và phục vụ Nhân dân. Đối với Người, lợi ích của Đảng phải thống nhất với lợi ích của dân tộc và Nhân dân; sức mạnh, uy tín và tính chính đáng của Đảng được khẳng định trong chính sự gắn bó và phụng sự Nhân dân. Tinh thần ấy được thể hiện sâu sắc qua lời Người tự xác định phương châm hành động: “Từ nay về sau, tôi nhất định học tập kỹ và tìm hiểu thấu những phương châm và chính sách của Đảng, quyết không vì lợi riêng mà hại đến lợi chung. Mọi việc đều để lợi ích của Đảng và của Nhân dân lên trên hết. Đưa tất cả học thuật, lực lượng và tính mạng của tôi dâng cho Đảng”. Đây cũng là lời nhắc nhở sâu sắc về lý tưởng, trách nhiệm và sự tận hiến của người cán bộ cách mạng: không vì quyền lực hay lợi ích cá nhân, mà phải luôn đặt lợi ích của Đảng, của đất nước và của Nhân dân lên trên hết, trước hết.
Trong bối cảnh đất nước đang hướng tới các mục tiêu chiến lược năm 2030 và 2045, việc kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về tư cách người cách mạng càng có ý nghĩa cấp thiết. Hình mẫu nhà lãnh đạo công Việt Nam không chỉ cần có phẩm chất đạo đức trong sáng, bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực thực thi công vụ và tư duy đổi mới, mà quan trọng hơn, phải luôn ý thức sâu sắc rằng quyền lực được Nhân dân trao gửi là để phụng sự Nhân dân. Mọi chủ trương, quyết sách và hành động lãnh đạo phải hướng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, hạnh phúc và sự phát triển của Nhân dân. Đó chính là sự tiếp nối tinh thần cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời là thước đo phẩm chất và giá trị của nhà lãnh đạo công Việt Nam trong thời đại mới, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
TS. Bùi Nghĩa/Học viện Chính trị khu vực II
Tài liệu tham khảo
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2021), Những điểm mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội.
2. Ban Tuyên giáo Trung ương (2026), Những điểm mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội.
3. Bộ Chính trị (2021), Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội.
6. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội.
7. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).
8. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.
9. Nguyễn Ái Quốc (2017), Đường Cách mệnh, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội.
10. S. Chiavo-Chamo & P.S.A. Sundaram (2003), Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh, Nxb. CTQG, Hà Nội.
Bài viết cùng chuyên mục
Kỳ Cuối: Sách giáo khoa vì con người, vì đất nước – trách nhiệm với tương lai dân tộc
Vai trò tiên phong trong hội nhập và phát triển của thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
“Cách mạng trắng”: Nhận diện mục tiêu và phương thức của một chiến lược chính trị
Kỳ VI: Từ phản biện đến sửa sai – cơ chế giám sát chất lượng sách giáo khoa
Kỳ V: Quản lý sách giáo khoa – vai trò Nhà nước và cơ chế kiểm soát quyền lực
Kỳ 17: “Cách mạng màu” và giới trẻ: Giữa sức mạnh tuổi trẻ, sự dẫn dắt chính trị và trách nhiệm với tương lai

