Chủ Nhật, Tháng 10 25, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Bác Hồ căn dặn: quyền lực phải vì dân cán bộ phải là công bộc của dân!



ĐNA -

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của Nhân dân, coi việc chăm lo đời sống, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ. Theo Người, quyền lực không phải là đặc quyền để hưởng thụ, càng không phải công cụ để áp đặt, sách nhiễu hay mưu lợi riêng. Mỗi người được giao quyền phải sử dụng quyền lực để phục vụ Nhân dân, phụng sự Tổ quốc và chịu trách nhiệm về những việc mình làm.

Ngày 17/10/1945, chỉ hơn một tháng sau khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng. Trong thư, Người căn dặn: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia, tr. 56–57, theo bản dẫn nguồn.)

Được nêu ra ngay trong những ngày đầu xây dựng chính quyền cách mạng, lời căn dặn ấy mang ý nghĩa sâu sắc về bản chất, mục đích và trách nhiệm của bộ máy công quyền. Chính quyền được lập ra để phục vụ nhân dân, cán bộ được giao nhiệm vụ để gánh vác công việc chung, chứ không phải để đứng trên nhân dân hay sử dụng quyền lực nhằm mưu cầu đặc quyền, đặc lợi. Lấy dân làm gốc, đặt quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân ở vị trí trung tâm không chỉ là yêu cầu về phẩm chất đạo đức của người cán bộ, mà còn là nguyên tắc chi phối việc tổ chức và hoạt động của chính quyền.

Tư tưởng ấy đồng thời đặt ra một yêu cầu có tính căn bản: quyền lực phải gắn liền với trách nhiệm. Người được giao quyền phải nhận thức rõ quyền hạn của mình bắt nguồn từ trách nhiệm phục vụ lợi ích chung; việc thực thi quyền lực phải có mục đích chính đáng, tuân thủ pháp luật và chịu sự giám sát. Quyền lực càng lớn, trách nhiệm càng cao; càng giữ vị trí quan trọng, người cán bộ càng phải ý thức đầy đủ về bổn phận trước nhân dân, không được lấy quyền hạn được giao làm phương tiện phục vụ lợi ích riêng.

Không chỉ khẳng định mục đích phục vụ nhân dân của quyền lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sớm nhận diện và cảnh báo nguy cơ quyền lực bị tha hóa khi người nắm giữ thiếu lương tâm, thiếu liêm chính, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích chung.

Trong tác phẩm Cần Kiệm Liêm Chính, ở phần bàn về chữ Liêm, viết năm 1949, Người chỉ rõ: “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp ‘dĩ công vi tư’”. (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr. 127.)

Lời cảnh báo ấy cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở phạm vi hay mức độ quyền hạn được giao, mà còn ở cách người nắm quyền sử dụng quyền hạn đó. Dù ở cấp nào, quyền lực cũng có nguy cơ bị lợi dụng nếu người thực thi thiếu liêm chính, thiếu ý thức trách nhiệm và đặt lợi ích riêng lên trên lợi ích chung. Khi quyền lực không được ràng buộc bằng trách nhiệm và thiếu sự giám sát hiệu quả, những hành vi tùy tiện, lạm quyền, nhũng nhiễu, trục lợi có thể nảy sinh, làm tổn hại đến quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, ảnh hưởng đến kỷ cương và uy tín của bộ máy công quyền.

Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể nhận thấy yêu cầu kiểm soát quyền lực không chỉ đặt ra đối với việc tu dưỡng đạo đức của mỗi cán bộ, mà còn gắn trực tiếp với cơ chế tổ chức, vận hành và giám sát hoạt động của bộ máy. Đạo đức, lương tâm và sự liêm chính là những phẩm chất không thể thiếu của người được giao quyền, nhưng không thể chỉ dựa vào sự tự giác của cá nhân để bảo đảm quyền lực luôn được sử dụng đúng mục đích. Quyền hạn phải được xác định rõ, trách nhiệm phải được phân định cụ thể, việc thực thi công vụ phải chịu sự kiểm tra, giám sát và những hành vi vi phạm phải được phát hiện, xử lý nghiêm minh theo quy định.

Kiểm soát quyền lực vì vậy phải được thực hiện thường xuyên, đồng bộ và thực chất, không chỉ nhằm phát hiện, xử lý sai phạm mà còn phải chủ động phòng ngừa nguy cơ lạm quyền, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Điều đó đòi hỏi cơ chế giám sát có hiệu lực, trách nhiệm giải trình rõ ràng, kỷ luật nghiêm minh và sự tham gia giám sát của Nhân dân theo quy định pháp luật. Chỉ khi quyền lực được đặt trong khuôn khổ trách nhiệm và sự kiểm soát chặt chẽ, yêu cầu phục vụ Nhân dân mới có cơ sở để được bảo đảm trong thực tiễn, thay vì chỉ dừng lại ở nhận thức hay những lời cam kết.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không thể chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ, nhắc lại những lời căn dặn của Người, mà phải được thể hiện bằng hành động cụ thể, bằng trách nhiệm trong thực thi công vụ và những kết quả thiết thực đối với đời sống Nhân dân. Điều quan trọng không chỉ là nhận thức đúng về trách nhiệm phục vụ Nhân dân, mà còn phải chuyển hóa nhận thức ấy thành những chuẩn mực trong hành động, thành cơ chế ràng buộc trách nhiệm và yêu cầu thực hiện nghiêm túc trong hoạt động của bộ máy công quyền.

Cán bộ là công bộc của dân thì phải chịu sự giám sát của nhân dân; quyền lực được giao để phục vụ lợi ích chung thì việc thực thi quyền lực phải đúng thẩm quyền, đúng pháp luật và gắn với trách nhiệm giải trình. Mọi hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, sử dụng quyền lực sai mục đích phải được xem xét, xử lý nghiêm minh theo quy định. Khi xảy ra sai phạm, cần xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu theo chức trách, nhiệm vụ được giao; không né tránh, đùn đẩy, không để việc kiểm điểm, xử lý chỉ dừng lại ở hình thức. Trách nhiệm không thể chỉ được xác định trên văn bản mà phải được thể hiện trong từng quyết định, từng hành vi công vụ và cả việc khắc phục những hậu quả do sai phạm gây ra.

Cùng với việc ràng buộc trách nhiệm của người thực thi quyền lực, phải bảo đảm để Nhân dân thực hiện đầy đủ quyền giám sát, phản ánh, kiến nghị theo quy định pháp luật. Những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của người dân phải được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, xem xét, giải quyết và trả lời kịp thời, đúng trách nhiệm. Không thể coi việc lắng nghe ý kiến nhân dân chỉ là một yêu cầu về thái độ phục vụ, mà phải xác định đó là trách nhiệm trong hoạt động của cơ quan công quyền. Một bộ máy thực sự vì dân phải biết tiếp thu những ý kiến xác đáng, thẳng thắn nhìn nhận hạn chế, chủ động sửa chữa thiếu sót và chịu trách nhiệm trước những quyết định, hành vi thuộc thẩm quyền của mình.

Uy tín của Đảng và Nhà nước không chỉ được khẳng định qua chủ trương, đường lối, chính sách hay những cam kết, mà còn được thể hiện qua hiệu quả tổ chức thực hiện, qua cách cán bộ thực thi quyền lực và ứng xử với nhân dân. Đặc biệt, khi phát sinh những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của người dân, thái độ tiếp nhận, trách nhiệm giải quyết và việc xử lý sai phạm của các cơ quan có thẩm quyền chính là những biểu hiện cụ thể để Nhân dân đánh giá tinh thần trách nhiệm, tính nghiêm minh và hiệu quả hoạt động của bộ máy công quyền. Những hạn chế, sai phạm nếu không được xem xét, khắc phục kịp thời, nếu trách nhiệm không được xác định rõ ràng, không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân mà còn tác động đến niềm tin của nhân dân đối với cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ.

Từ yêu cầu đó, vấn đề đặt ra không chỉ là ai phải chịu trách nhiệm khi quyền lực bị sử dụng sai mục đích, mà còn là cơ chế nào bảo đảm quyền lực được kiểm soát hiệu quả; trách nhiệm của tập thể, cá nhân được xác định và thực hiện ra sao; quyền giám sát, phản ánh, kiến nghị của Nhân dân được bảo đảm bằng những phương thức nào. Quan trọng hơn, phải làm rõ cách thức để mọi cán bộ, dù ở cương vị nào, đều thực thi đúng chức trách, nhiệm vụ, không thể lợi dụng quyền hạn được giao để mưu lợi riêng và phải chịu trách nhiệm đối với những quyết định, hành vi của mình.

Những yêu cầu ấy không tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh về một chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân, mà chính là sự cụ thể hóa tinh thần phục vụ nhân dân trong điều kiện hiện nay. Khi quyền lực được thực thi đúng mục đích, trách nhiệm được phân định rõ ràng, hoạt động công vụ được giám sát chặt chẽ và những sai phạm được xử lý nghiêm minh, nguyên tắc cán bộ là công bộc của dân mới được thể hiện bằng những kết quả thực chất, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.

Dân là gốc, quyền lực phải được kiểm soát, cán bộ phải thực sự là công bộc của Nhân dân. Những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu xây dựng chính quyền cách mạng đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, không chỉ là chuẩn mực về đạo đức, trách nhiệm của người cán bộ, mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Trong điều kiện hiện nay, khi yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và kiểm soát quyền lực ngày càng đặt ra cấp thiết, những chỉ dẫn của Người càng có ý nghĩa thiết thực, nhắc nhở mỗi tổ chức, mỗi cán bộ về trách nhiệm sử dụng quyền lực đúng mục đích, đúng pháp luật và vì lợi ích chung.

Giá trị bền vững trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ nằm ở những nguyên tắc được khẳng định, mà còn ở khả năng soi sáng những vấn đề đặt ra trong thực tiễn hôm nay. Đó là yêu cầu phải kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, rèn luyện đạo đức công vụ với hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; giữa trao quyền với ràng buộc trách nhiệm; giữa phát huy vai trò của người đứng đầu với tăng cường kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình. Quyền lực càng lớn càng phải được kiểm soát chặt chẽ, trách nhiệm càng cao càng phải được xác định rõ ràng. Không thể chỉ trông chờ vào sự tự giác của người có chức vụ, quyền hạn mà thiếu những cơ chế đủ hiệu lực để phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi lạm quyền, lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vì thế phải được thể hiện bằng những chuyển biến thực chất trong hoạt động của bộ máy công quyền, trong ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ và trong việc bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của Nhân dân. Mỗi chủ trương, chính sách phải hướng đến lợi ích của Nhân dân; mỗi quyết định công vụ phải gắn với trách nhiệm của người thực thi; mỗi sai phạm phải được xem xét, xử lý nghiêm minh theo quy định. Đặc biệt, quyền giám sát của Nhân dân phải được tôn trọng, bảo đảm bằng những cơ chế cụ thể, để ý kiến, phản ánh và kiến nghị chính đáng của người dân được lắng nghe, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực và trách nhiệm của người cán bộ vì vậy không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà còn là cơ sở tư tưởng quan trọng để nhìn nhận, đánh giá và hoàn thiện hoạt động của bộ máy công quyền trong giai đoạn hiện nay. Thước đo của quyền lực không phải là chức vụ, địa vị hay phạm vi quyền hạn của người nắm giữ, mà là cách quyền lực được thực thi, trách nhiệm được thực hiện và những kết quả cụ thể mang lại cho Nhân dân, cho đất nước. Khi quyền lực thực sự được sử dụng vì dân, được kiểm soát bằng kỷ cương, pháp luật và trách nhiệm, khi cán bộ thực sự làm tròn bổn phận công bộc của Nhân dân, đó chính là sự thể hiện thiết thực và có ý nghĩa nhất đối với những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, đồng thời góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân, xây dựng Đảng và Nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Thế Nguyễn – Thu Hoài

Tham khảo tư liệu
1/ Cổng thông tin điện tử Quốc hội, 75 năm Thư Bác Hồ gửi UBND các kỳ, tỉnh, huyện và làng⁠
2/ Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – Làm người công bộc tận tụy, trung thành của Nhân dân⁠.
3/ Tư liệu – Văn kiện Đảng – Di huấn Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư⁠.

Bài viết cùng chuyên mục