Đà Nẵng cần tiên phong phát triển mô hình “du lịch y tế” kết hợp bệnh viện tiêu chuẩn quốc tế, y tế thông minh và khu nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe; đồng thời ưu tiên kinh tế nông nghiệp theo hướng sinh thái, công nghệ cao, đẩy mạnh chế biến sâu nông, lâm, thủy sản và xác định kinh tế biển là nền tảng quan trọng. Đặc biệt, công nghệ dược liệu, trọng yếu là Sâm Ngọc Linh, được nhấn mạnh là mũi nhọn mới, lợi thế đặc thù, hướng tới ngành sản xuất có giá trị kinh tế cao.

Quyết định số 463/QĐ-TTg (28/2/2025), của Thủ tướng Chính phủ, khi phê duyệt đề án “Phát triển và hình thành trung tâm công nghiệp dược liệu tại tỉnh Quảng Nam với Sâm Ngọc Linh là cây chủ lực” đã xác định khá rõ: “Phát triển đồng bộ vùng nguyên liệu dược liệu và hệ thống chế biến, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học,… để từng bước đưa tỉnh Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng) trở thành “Trung tâm của ngành công nghiệp dược liệu của cả nước “. Sâm Ngọc Linh đã được xác định rõ là “Quốc bảo”, là sản phẩm quốc gia (Thành phố Đà Nẵng đã và đang phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai nhiều nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp thành phố, tập trung vào bảo tồn nguồn Gène, nhân giống, bảo hộ sở hữu trí tuệ); cùng các Dược liệu (quý hiếm khác) có thế mạnh trên địa bàn, góp phần đưa ngành công nghiệp dược liệu Việt Nam thành ngành sản xuất hàng hoá có giá trị kinh tế cao.
Hẳn nhiên, yêu cầu phát triển Sâm Ngọc Linh và (các loại) Dược liệu (quý) vẫn còn không ít khó khăn, quy mô sản xuất chưa tương xứng với tiềm năng; chuỗi liên kết còn hạn chế; công nghệ chế biến sâu chưa phát triển mạnh; công tác bảo vệ tài nguyên dược liệu còn đối mặt nhiều khó khăn,…
Mới đây, Lễ hội Sâm Ngọc Linh và Dược liệu quốc tế 2026, chủ đề “Sâm Ngọc Linh – Tinh hoa dược liệu thế giới”, diễn ra từ ngày 1 đến ngày 3/8/2026, lần đầu tiên diễ ra tại Công viên Apec (trung tâm Đà Nẵng) và các vùng Sâm Ngọc Linh, Dược liệu tại Trà Linh, Nam Trà My, Trà Vân, Bến Hiên, Trà Leng và Trà Tập, thành phố Đà Nẵng; kết nối không gian trung tâm với các vùng Sâm Ngọc Linh; liên hoàn 3 giá trị: Bảo tồn – Phát triển- Trải nghiệm. . Lễ hội đã được ghi nhận, là lần đầu tiên Sâm Ngọc Linh được quảng bá toàn diện giá trị. Thành phố Đà Nẵng tiếp tục kế thừa những nỗ lực của tỉnh Quảng Nam trước đây, hiện thực hóa hướng phát triển hệ sinh thái ngành Dược liệu theo hướng bền vững; hình thành chuỗi giá trị từ phát triển vùng nguyên liệu, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, chế biến sâu đến thương mại hóa sản phẩm.
Tại hội thảo khoa học quốc tế “Sâm Ngọc Linh – từ sản phẩm quốc gia tới thương hiệu toàn cầu”, điểm nhấn của lễ hội, lãnh đạo thành phố đã bày tỏ với tinh thần cầu thị cao: “Đà Nẵng mong muốn lắng nghe ý kiến tâm huyết, những đề xuất giải pháp thiết thực từ giới chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học, những trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm của doanh nghiệp trong nước và quốc tế về thực trạng, tiềm năng, thách thức, cơ chế chính sách nhằm phát triển vùng nguyên liệu, chế biến sâu, hướng đến xuất khẩu nhằm triển khai hiệu quả các đề tài nghiên cứu – đề án về Sâm Ngọc Linh và Dược liệu mang tính toàn diện, thương mại hóa thành công sản phẩm có giá trị cao.
Đặc biệt thúc đẩy thành công mối liên kết Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp, cùng kết hợp mở rộng hợp tác quốc tế, hình thành chuỗi giá trị từ nghiên cứu, công bố nghiên cứu, xúc tiến đầu tư, chuyển giao công nghệ đến sản xuất, chế biến, hình thành và mở rộng thị trường, giúp thành phố nghiên cứu, hoạch định chính sách và tổ chức triển khai hiệu quả các chương trình phát triển Sâm Ngọc Linh và dược liệu trong thời gian tới”, ông Hồ Quang Bửu, Phó Chủ tịch UBND thành phố chia sẻ…

Luôn nhận diện sớm và đúng những hạn chế-thách thức
Tuy nhiên, thành phố vẫn đối mặt với nhiều hạn chế mang tính cấu trúc như quy mô kinh tế còn khiêm tốn, thiếu doanh nghiệp đầu đàn, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các ngành công nghệ cao, năng lực thực thi chính sách còn độ trễ, hạ tầng logistics chưa tương xứng và đồng bộ.
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư, công nghệ và nhân lực ngày càng gay gắt, cùng với các rủi ro từ xung đột chính trị, biến động kinh tế toàn cầu, rào cản thương mại phi thuế quan mới và biến đổi khí hậu, Đà Nẵng cần lựa chọn chiến lược phát triển theo hướng đẩy nhanh tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên đổi mới sáng tạo, công nghệ mới, chất lượng thể chế, liên kết vùng, phát triển xanh và hình thành các động lực mới có sức lan tỏa mạnh, khẳng định vai trò là một cực tăng trưởng quan trọng của cả nước và trung tâm phát triển năng động của khu vực miền Trung.
Nếu thiếu cơ chế điều phối hiệu quả, các động lực này có thể phát triển phân mảnh, làm giảm hiệu quả phân bổ nguồn lực và hạn chế tiềm năng tăng trưởng. Vì vậy, thách thức trọng tâm của giai đoạn 2026–2030 không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng, mà là tổ chức lại cấu trúc tăng trưởng trên toàn bộ không gian kinh tế hợp nhất. Từ góc độ chính sách, điều này đặt ra yêu cầu chuyển từ cách tiếp cận tăng trưởng dựa trên mở rộng quy mô sang cách tiếp cận dựa trên cấu trúc tăng trưởng. Báo cáo này đề xuất một khung phân tích trong đó tăng trưởng GRDP được hình thành từ 3 thành phần: tăng trưởng nền, tăng trưởng thể chế và cú sốc (như chúng tôi đã chia sẻ ở bài 1). Cách tiếp cận này cho phép chuyển trọng tâm từ quan sát tăng trưởng sang điều hành tăng trưởng, trong đó từng thành phần có thể được tác động thông qua chính sách.
Do đó, cải cách thể chế trong giai đoạn tới cần tập trung nhiều hơn vào năng lực điều phối thay vì chỉ “Cải thiện thủ tục hành chính” theo nghĩa truyền thống. Thành phố cần xây dựng cơ chế liên kết chặt chẽ giữa quy hoạch không gian, danh mục đầu tư công và định hướng phát triển ngành; đồng thời tăng cường phối hợp giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân trong các lĩnh vực ưu tiên như Logistics, công nghệ cao, hạ tầng số và phát triển đô thị. Chú ý huy động hiệu quả đầu tư công, đầu tư tư nhân, hợp tác công – tư (PPP) và FDI thông qua danh mục lĩnh vực và dự án ưu tiên, nhằm dẫn dắt quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
“Đà Nẵng cần chuyển từ “huy động vốn” sang “chuyển hóa vốn thành năng suất, giá trị gia tăng và năng lực chống chịu”. Tập trung vốn mồi: Đầu tư công ưu tiên hạ tầng nền tảng, giải phóng mặt bằng và chuẩn bị dự án.; Nâng chất lượng dòng vốn: FDI/tư nhân gắn với công nghệ cao, R&D, nhân lực và nhà cung cấp địa phương. Đo hiệu quả bằng kết quả: Tỷ lệ vốn thực hiện, tiến độ, năng suất vốn, việc làm, liên kết chuỗi và thích ứng khí hậu” – Thạc sỹ Trần Như Quỳnh – Viện nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Đà Nẵng nhấn mạnh.
Yêu cầu bức thiết nâng cấp thể chế điều phối, còn mang ý nghĩa quan trọng trong giảm chi phí phối hợp giữa các chủ thể phát triển. Khi các quyết định về hạ tầng, quy hoạch và phát triển ngành được triển khai đồng bộ, nền kinh tế có thể chuyển từ trạng thái phát triển phân tán sang trạng thái phát triển có tổ chức, trong đó các khu vực hỗ trợ lẫn nhau thay vì cạnh tranh nguồn lực kém hiệu quả. Các nội dung cải thiện thể chế phải thực sự tạo ra tác động đến tăng trưởng.
Nhóm nghiên cứu khuyến nghị: Chuyển trọng tâm điều hành từ tăng trưởng theo chiều rộng sang nâng cao tỷ trọng các ngành có giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ lớn và khả năng lan tỏa mạnh. Đồng thời, tập trung và có chú trọng trong khắc phục tình trạng phát triển phân tán, cục bộ theo địa giới hành chính. Thúc đẩy chuyển dịch nhanh hơn theo chuỗi giá trị Ngành, chuỗi giá trị toàn cầu, theo không gian kinh tế chức năng, tạo ra không gian tăng trưởng mới.

Không gian tăng trưởng mới: Tổ chức lại để nâng hiệu quả điều phối.
Như chúng tôi đã đề cập ở bài 1, sau hợp nhất, Đà Nẵng không còn là một cấu trúc đô thị đơn trung tâm mà đang chuyển sang mô hình không gian kinh tế mở rộng với mức độ phân hóa chức năng ngày càng rõ hơn.
Quy hoạch mới thực chất đang hình thành một hành lang phát triển liên kết từ khu vực cảng Liên Chiểu – trung tâm đô thị Đà Nẵng – Hội An – Tam Kỳ – Chu Lai, trong đó mỗi khu vực đảm nhận các vai trò khác nhau về Logistics, công nghiệp, dịch vụ, du lịch, đổi mới sáng tạo và kinh tế biển. Trong bối cảnh đó, vấn đề lớn nhất không còn là thiếu động lực tăng trưởng mà là khả năng tổ chức và điều phối các động lực này trong một cấu trúc liên kết hiệu quả hơn. Nếu các cực phát triển tiếp tục vận hành theo hướng phân tán, thiếu kết nối chức năng và vẫn cạnh tranh nguồn lực lẫn nhau, hiệu quả lan tỏa sẽ thấp, chi phí phối hợp tăng lên và các cải cách thể chế khó chuyển hóa thành tăng trưởng thực tế.
Thạc sỹ Trần Như Quỳnh, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Đà Nẵng đề xuất: Đà Nẵng nên tổ chức nguồn lực theo không gian phát triển đi kèm với cơ chế và cơ cấu huy động, đồng bộ theo 3 ba chiều: Nguồn vốn – Lĩnh vực và Không gian. Trong đó, khu vực trung tâm: Tài chính, dịch vụ, đổi mới sáng tạo ; Liên Chiểu: Cảng biển, Logistics, Khu thương mại tự do; Hòa Vang – Khu Công nghệ cao: Công nghệ, dữ liệu, R&D; Phía Nam: Công nghiệp, logistics, đô thị, dịch vụ; Vùng ven biển – các không gian Di sản: Du lịch, văn hóa, kinh tế đêm. Riêng miền núi: Phát triển nông nghiệp công nghệ cao , bảo tồn tài nguyên (với mũi nhọn tập trung Công nghiệp Dược liệu) và tổ chức du lịch sinh thái.
Yêu cầu tổ chức lại không gian tăng trưởng phải được thực hiện theo hướng đa trung tâm nhưng có khả năng tích hợp cao. Khu vực đô thị lõi tiếp tục giữ vai trò trung tâm tài chính, dịch vụ chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và các hoạt động kinh tế có giá trị gia tăng lớn. Trong khi các khu vực phía Nam và phía Tây được định hướng phát triển công nghiệp, Logistics, du lịch sinh thái, công nghệ cao và các ngành có khả năng mở rộng quy mô sản xuất. Các khu vực này không vận hành tách biệt mà được kết nối thông qua hạ tầng giao thông, Logistics và các dòng chảy đầu tư, lao động và công nghệ.
Trong cấu trúc đó, hệ thống hạ tầng liên kết giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Các dự án như cảng Liên Chiểu, mạng lưới logistics Chu Lai, tuyến ven biển phía Nam, hệ thống giao thông kết nối Đà Nẵng – Hội An – Tam Kỳ và định hướng đường sắt đô thị tốc độ cao, không chỉ là các dự án hạ tầng đơn lẻ, mà là nền tảng để giảm phân mảnh không gian, tăng hiệu quả lan tỏa tăng trưởng. Khi không gian kinh tế được tổ chức lại theo hướng tích hợp, các cải thiện về điều hành và phân bổ nguồn lực mới có thể chuyển hóa thành tăng trưởng thực sự.
Khoa học điều phối như một động lực tăng trưởng thông qua thể chế.
Phân tích từ mô hình cho thấy trong một không gian kinh tế hợp nhất và có mức độ phân hóa cao như Đà Nẵng hiện nay, hạn chế lớn nhất không nằm ở thiếu nguồn lực mà ở khả năng điều phối nguồn lực giữa các khu vực, các ngành và các cấp quản lý, một cách khoa học. Khi quy hoạch, đầu tư hạ tầng và phát triển ngành chưa được kết nối chặt chẽ, nền kinh tế dễ rơi vào trạng thái phát triển phân tán, chi phí phối hợp tăng cao, nhưng hiệu ứng lan tỏa giữa các khu vực bị suy giảm.
Điều này đặc biệt rõ trong bối cảnh Đà Nẵng đồng thời phải xử lý nhiều không gian phát triển khác nhau gồm đô thị lõi, khu công nghiệp – Logistics ven biển, hành lang du lịch di sản phía Nam, khu kinh tế mở Chu Lai và các vùng sinh thái phía Tây. Nếu mỗi khu vực tiếp tục phát triển theo logic riêng mà thiếu cơ chế điều phối thống nhất, nguồn lực dù lớn vẫn khó chuyển hóa thành tăng trưởng tương xứng. “Điều cần nhất là nâng cấp thể chế điều phối. Xây dụng cơ chế liên thông giữa quy hoạch và đầu tư vùng để giảm chi phí phối hợp, biến liên kết vùng thành động lực tăng trưởng trực tiếp. Đây cũng là 1 trong 6 định hướng chính sách then chốt để hiện thực hóa các kịch bản tăng trưởng 2 con số của Đà Nẵng, mà chúng tôi mạnh dạn đề xuất” – PGS.TS Đoàn Ngọc Phi Anh, Phó Hiệu trưởng DUE – UD, nhấn mạnh.

Khoa học, Nhà khoa học-Doanh nghiệp, Doanh nhân hãy cùng vào cuộc!
Một vấn đề được bàn nhiều trong thời gian qua là “Nâng cao hiệu quả hợp tác 3 nhà: Nhà nước, Nhà khoa học và Nhà doanh nghiệp để thay đổi mô hình kinh tế (cả nước nói chung, Đà Nẵng nói riêng), từ phụ thuộc vào tài nguyên và nhân công giá rẻ, sang nền kinh tế dựa trên tài sản trí tuệ, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo (mà chúng tôi đã bàn sâu ở bài 2).
Đưa nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của xã hội và doanh nghiệp, cơ quan quản lý; nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo (mà trong đó, “Khoa học điều phối”, cũng là đối tượng của nghiên cứu và luôn cần được tham vấn). TS.Nguyễn Thanh Hồng, trong tham luận “Cơ chế đặt hàng – Thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo – Phát triển hợp tác 3 Nhà”, tại một Hội thảo chuyên đề (diễn ra trong quý III năm 2026), nhấn mạnh rằng:
Hiệu quả liên kết vẫn còn hạn chế, thể hiện ở khoảng cách đáng kể giữa hoạt động nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn. Mối liên kết “3 Nhà” chưa thực sự chặt chẽ, chưa hình thành được chuỗi giá trị khép kín từ khâu xác định nhiệm vụ, tổ chức nghiên cứu đến ứng dụng và thương mại hóa kết quả. Sự tham gia của các nhà khoa học trong kết nối với doanh nghiệp còn hạn chế, chưa gắn chặt với nhu cầu thị trường. Nhiều viện nghiên cứu, trường đại học có tiềm lực khoa học và đã tạo ra nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị, song tỷ lệ thương mại hóa còn thấp. Doanh nghiệp chưa thực sự tham gia sâu vào quá trình xác định nhu cầu và có đề xuất cho hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.
TS.Nguyễn Thanh Hồng đề xuất thẳng thắn: Đơn đặt hàng và tài trợ nhiệm vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo cần được triển khai theo hướng gắn chặt với nhu cầu thực tiễn và định hướng phát triển kinh tế – xã hội của thành phố. Cơ quan, đơn vị và địa phương phải xác định các nhiệm vụ trên cơ sở các “bài toán lớn” của ngành, lĩnh vực và địa phương, đặc biệt, trong bối cảnh phát triển chung của thành phố Đà Nẵng.
Khuyến khích xây dựng “Cụm nhiệm vụ hoặc Chuỗi nhiệm vụ liên ngành”, tạo ra sản phẩm có giá trị ứng dụng cao, tránh tình trạng nghiên cứu rời rạc, manh mún; cũng tránh các nghiên cứu hàn lâm, không giải quyết trúng nhu cầu thực tế của yêu cầu phát triển và nhu cầu xã hội. Cần sớm hình thành và triển khai các chương trình hợp tác trọng điểm theo ngành, lĩnh vực ưu tiên của Đà Nẵng. Cơ quan quản lý ban hành cho được danh mục các nhiệm vụ trọng điểm cấp thiết, thực hiện cơ chế khoán sản phẩm đầu ra để đấu thầu/giao trực tiếp cho Nhóm nghiên cứu thực hiện./.
Trần Ngọc


