Một nhân vật lịch sử có thể được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau, nhưng không phải cách gọi nào cũng có cùng nguồn gốc, giá trị và phạm vi sử dụng. Khi một danh xưng đi từ sử liệu vào sách giáo khoa, nghiên cứu, báo chí hay các hoạt động tôn vinh, cần làm rõ: danh xưng ấy từ đâu, ai xác lập, dựa trên căn cứ nào và được sử dụng trong phạm vi nào. Đó là cơ sở để nhận diện nhân vật lịch sử minh bạch, tránh nhập nhằng giữa danh xưng, danh hiệu và sự tôn vinh.

Danh xưng lịch sử không đồng nhất với danh hiệu chính thức
Một nhân vật lịch sử có thể được biết đến qua nhiều lớp danh xưng: tên thật, tên tự, tên hiệu; chức vị, tước hiệu; niên hiệu; miếu hiệu được truy tôn; hoặc những cách gọi hình thành trong đời sống văn hóa. Mỗi danh xưng ra đời trong một hoàn cảnh, mang một ý nghĩa và có phạm vi sử dụng riêng. Vì vậy, việc một tên gọi trở nên phổ biến không mặc nhiên khiến nó trở thành danh hiệu chính thức; ngược lại, một danh hiệu chính thức cũng chỉ có thể được hiểu đúng khi đặt trong bối cảnh lịch sử đã xác lập nó. Muốn định danh chính xác một nhân vật, trước hết cần xác định tên gọi đó có nguồn gốc từ đâu, được xác lập trong hoàn cảnh nào và thuộc loại hình danh xưng nào.
Lịch sử Việt Nam có nhiều trường hợp cho thấy sự phân biệt này. Trong khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi từng xưng Bình Định Vương; sau khi lên ngôi, ông được biết đến với miếu hiệu Lê Thái Tổ. Nguyễn Huệ là tên của một trong những lãnh đạo phong trào Tây Sơn; khi lên ngôi Hoàng đế, ông lấy niên hiệu Quang Trung. Trần Quốc Tuấn được biết đến với tước hiệu Hưng Đạo Vương. Bình Định Vương, Lê Thái Tổ, Quang Trung hay Hưng Đạo Vương vì thế không phải những cách gọi hình thành tùy ý, mà đều gắn với địa vị, thiết chế và thời điểm lịch sử cụ thể.
Trường hợp Nguyễn Huệ – Quang Trung cho thấy rõ hơn yêu cầu phân biệt giữa các lớp danh xưng. Thông tư 36/2006/TT-BVHTT khi hướng dẫn việc đặt tên đường, phố và công trình công cộng đã dẫn Nguyễn Huệ, Quang Trung cùng những danh nhân có nhiều tên gọi khác nhau để xác lập nguyên tắc sử dụng tên. Theo đó, không dùng những tên gọi khác nhau của cùng một danh nhân để đặt cho các đường, phố hoặc công trình công cộng trên cùng một đô thị, trừ những trường hợp thuộc quy định ngoại lệ. Cách quy định này cho thấy Nguyễn Huệ và Quang Trung tuy là hai tên gọi khác nhau nhưng cùng quy chiếu đến một nhân vật lịch sử.
Từ đó, vấn đề không chỉ nằm ở việc một tên gọi có quen thuộc hay được sử dụng rộng rãi hay không, mà quan trọng hơn là phải xác định đúng bản chất và nguồn gốc của nó. Phân biệt tên thật, tước hiệu, niên hiệu, miếu hiệu hay danh xưng hình thành về sau giúp tránh việc đặt các khái niệm khác nhau trên cùng một mặt bằng ý nghĩa. Đây không chỉ là yêu cầu của nghiên cứu và trình bày lịch sử, mà còn là cơ sở để sử dụng tên danh nhân nhất quán trong sách giáo khoa, báo chí, tên đường, trường học và các công trình công cộng.
Từ công lao lịch sử đến sự ghi nhận của Nhà nước
Công lao của một nhân vật lịch sử trước hết cần được xác định trên cơ sở tư liệu, sử liệu và kết quả nghiên cứu. Việc một nhân vật được nhân dân kính trọng thuộc đời sống văn hóa và ký ức cộng đồng; được giới nghiên cứu đánh giá là vấn đề học thuật; còn được Nhà nước ghi nhận bằng một hình thức cụ thể thuộc phạm vi quản lý nhà nước. Các phạm vi này có thể liên hệ với nhau nhưng không thể thay thế cho nhau. Vì vậy, muốn xác định một nhân vật là ai, có đóng góp gì, được gọi và ghi nhận như thế nào, cần dựa trên những nguồn tư liệu và căn cứ có thể kiểm chứng.
Quá trình từ nhận diện lịch sử đến tôn vinh có thể được xem xét qua nhiều tầng: tư liệu lịch sử – nghiên cứu khoa học – đánh giá chuyên môn – ký ức cộng đồng – tưởng niệm, tôn vinh – ghi nhận của Nhà nước. Các tầng này có sự giao thoa nhưng không đồng nhất về tính chất và giá trị. Một cách gọi có thể tồn tại lâu dài trong dân gian nhưng không vì thế trở thành danh hiệu pháp lý. Một nhân vật có thể được nghiên cứu, đánh giá và tưởng niệm rộng rãi trước khi tên tuổi được sử dụng để đặt tên đường, công trình công cộng hoặc được tôn vinh bằng những hình thức khác. Phân định rõ các tầng này giúp tránh lấy sự phổ biến trong đời sống văn hóa làm căn cứ pháp lý, đồng thời cũng tránh dùng một văn bản quản lý để thay thế cho việc nghiên cứu và đánh giá lịch sử.
Văn bản số 2296/BVHTTDL-MTNATL ngày 21/6/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về quy hoạch tượng đài Quốc tổ Hùng Vương và danh nhân, anh hùng dân tộc. Văn bản nêu 14 nhân vật: Quốc tổ Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ (Quang Trung) và Hồ Chí Minh; đồng thời đưa ra ba nhóm tiêu chí liên quan đến đấu tranh giành độc lập; dựng nước và giữ nước; cùng những đóng góp nổi bật về quân sự, chính trị, văn hóa.
Tuy nhiên, văn bản này cần được hiểu đúng chức năng và phạm vi điều chỉnh. Đây là căn cứ phục vụ công tác quy hoạch tượng đài, không phải một danh mục duy nhất nhằm xác lập đầy đủ các danh nhân, anh hùng trong lịch sử Việt Nam. Việc một nhân vật có hoặc không có tên trong một văn bản phục vụ mục đích quản lý cụ thể vì thế phải được xem xét trong chính phạm vi của văn bản đó, không nên mở rộng thành một kết luận về vị trí hay công lao lịch sử của nhân vật.
Từ đó có thể thấy, ghi nhận và tôn vinh cần dựa trên những căn cứ phù hợp với từng mục đích: tư liệu để xác định sự kiện và nhân vật; nghiên cứu để làm rõ công lao, vai trò và bối cảnh; tiêu chí để xác định hình thức ghi nhận. Phân biệt các tầng căn cứ ấy là điều kiện để việc sử dụng danh xưng, đánh giá công lao và tôn vinh nhân vật lịch sử được thực hiện rõ ràng, nhất quán và đúng phạm vi.
Ai có thẩm quyền xác lập và sử dụng danh xưng?
Nhà sử học có thể khảo cứu, đối chiếu sử liệu, xác định nguồn gốc và quá trình sử dụng một tên gọi, từ đó đưa ra nhận định khoa học. Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu không tạo ra thẩm quyền phong hoặc xác lập một danh hiệu chính thức cho nhân vật lịch sử. Cần phân biệt giữa quyền nghiên cứu, đánh giá với thẩm quyền pháp lý, hành chính. Nghiên cứu có thể làm rõ nguồn gốc, ý nghĩa và giá trị của một danh xưng; còn việc danh xưng đó có phải là danh hiệu được xác lập chính thức hay không phải căn cứ vào chủ thể, hình thức và quy định có liên quan.
Ở chiều ngược lại, Nhà nước thực hiện việc ghi nhận, phong tặng, truy tặng hoặc quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền theo quy định pháp luật. Sự ghi nhận này cũng cần được hiểu trong phạm vi cụ thể. Việc một danh hiệu được xác lập chính thức không làm mất đi những tên gọi khác đã hình thành và tồn tại trong lịch sử, văn hóa. Ngược lại, một danh xưng được sử dụng lâu đời và rộng rãi trong cộng đồng cũng không mặc nhiên trở thành danh hiệu pháp lý. Vì vậy, tính chính thức của một danh hiệu phải được xác định từ căn cứ xác lập và thẩm quyền của chủ thể, không thể suy ra từ mức độ phổ biến của tên gọi.
Trong lĩnh vực đặt tên đường, phố và công trình công cộng, Nghị định 91/2005/NĐ-CP ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng; Thông tư 36/2006/TT-BVHTT hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế này. Đây là các văn bản điều chỉnh việc lựa chọn, đặt và đổi tên trong không gian công cộng, không phải văn bản có chức năng phong danh hiệu lịch sử cho nhân vật. Các quy định của địa phương về đặt, đổi tên đường, phố và công trình công cộng cũng được xây dựng trong khuôn khổ pháp luật và thẩm quyền tương ứng.
Từ đó, cần phân biệt việc xác định một danh xưng, việc xác lập một danh hiệu và việc sử dụng tên nhân vật cho một mục đích cụ thể. Nhà nghiên cứu có thể chứng minh một tên gọi tồn tại trong sử liệu và phân tích giá trị lịch sử của nó, nhưng kết quả nghiên cứu không tự thân tạo thành quyết định phong tặng. Cơ quan nhà nước có thể quyết định việc sử dụng tên nhân vật cho đường, phố hoặc công trình công cộng theo thẩm quyền, nhưng quyết định đó không phải là sự xác lập lại toàn bộ danh xưng, công lao hay vị trí của nhân vật trong lịch sử.
Nói cách khác, mỗi loại hoạt động có chủ thể, căn cứ và phạm vi riêng. Giá trị lịch sử của một danh xưng cần được chứng minh bằng tư liệu và nghiên cứu; tính chính thức của một danh hiệu phải được xác định từ căn cứ và thẩm quyền xác lập; còn việc sử dụng tên nhân vật trong quản lý nhà nước phải tuân theo quy định của từng lĩnh vực. Phân định rõ ba phạm vi này giúp tránh biến một nhận định học thuật thành quyết định pháp lý, hoặc mở rộng một quyết định hành chính thành kết luận bao quát về lịch sử.
Khi danh xưng bước vào không gian công cộng
Khi tên một nhân vật lịch sử được đặt cho đường phố, trường học hoặc công trình công cộng, tên gọi ấy bước ra khỏi phạm vi sách sử để trở thành một phần của ký ức xã hội. Hằng ngày, người dân nhìn thấy tên đường, đọc tên trường, sử dụng địa chỉ và tiếp nhận tên nhân vật như một phần của đời sống. Vì vậy, việc lựa chọn tên không chỉ là chuyện ngôn ngữ. Nó liên quan đến quản lý đô thị, văn hóa, giáo dục truyền thống và cách xã hội truyền tải ký ức lịch sử.
Nghị định 91/2005/NĐ-CP và Thông tư 36/2006/TT-BVHTT đặt ra khuôn khổ cho việc đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng. Đối với danh nhân có nhiều tên gọi, Thông tư 36 quy định nguyên tắc xử lý để bảo đảm tính thống nhất trong cùng một địa bàn đô thị. Như vậy, hoạt động đặt tên công cộng không đơn thuần là lựa chọn một cái tên quen thuộc, mà nằm trong một quy trình quản lý có căn cứ.
Trường hợp Ninh Thuận là một ví dụ thực tế đáng chú ý. Nghị quyết 28/2024/NQ-HĐND ngày 10/12/2024 của HĐND tỉnh Ninh Thuận về đặt tên, đổi tên đường trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm đã quyết định đổi tên đường Phan Thanh Giản thành Đoàn Nhữ Hài, đồng thời đổi tên đường Trương Vĩnh Ký thành Cường Để. Đối với đường Phan Thanh Giản, phụ lục của nghị quyết ghi rõ lý do đổi tên là thực hiện theo khuyến nghị của Ban Tuyên giáo Trung ương tại Công văn 2274-CV/BTGTW ngày 5/1/2022 và kiến nghị đổi tên đường của cử tri.
Trường hợp này cần được đọc đúng bản chất. Một quyết định đổi tên đường là một quyết định quản lý trong không gian công cộng, không phải tự nó là một phán quyết về toàn bộ sự nghiệp và giá trị lịch sử của nhân vật. Đồng thời, quyết định ấy cho thấy khi tên một nhân vật đã đi vào không gian công cộng, việc duy trì hay điều chỉnh tên gọi có thể được xem xét trên cơ sở căn cứ, quy trình và thẩm quyền. Vì vậy, điều đáng chú ý không chỉ là “đổi tên ai”, mà là căn cứ nào, tiêu chí nào và chủ thể nào có thẩm quyền quyết định.
Công văn 2274-CV/BTGTW ngày 5/1/2022 liên quan việc đặt tên đường, phố, công trình công cộng gắn với một số nhân vật lịch sử còn có ý kiến trái chiều. Điều cần rút ra không phải là biến văn bản thành một bộ tiêu chí duy nhất áp dụng máy móc cho mọi nhân vật, mà là yêu cầu phải thận trọng, căn cứ vào quy định và xem xét từng trường hợp cụ thể. Khi một nhân vật có những cách đánh giá khác nhau, càng cần phân biệt tư liệu lịch sử, nhận định nghiên cứu và quyết định quản lý.
Một chuẩn chung để tránh nhập nhằng giữa lịch sử, danh xưng và tôn vinh
Muốn nhận diện một nhân vật lịch sử rõ ràng, trước hết cần xác lập đầy đủ các lớp thông tin: tên thật và những tên gọi khác; niên đại; chức vị, tước hiệu, niên hiệu, miếu hiệu; sự kiện và công trạng được sử liệu ghi nhận; các công trình nghiên cứu và những đánh giá khác nhau; quá trình hình thành ký ức cộng đồng; các hình thức tưởng niệm, ghi nhận và tôn vinh. Khi từng lớp thông tin được phân định, một tên gọi hay một hình thức tôn vinh sẽ không bị đồng nhất với toàn bộ lịch sử của nhân vật.
Cùng với đó là sự phân định về giá trị và thẩm quyền. Sử liệu cung cấp căn cứ để xác định sự kiện và hành trạng; nghiên cứu giúp kiểm chứng, giải thích và đánh giá tư liệu; ký ức cộng đồng phản ánh cách xã hội ghi nhớ nhân vật; Nhà nước thực hiện việc ghi nhận, tôn vinh theo pháp luật và thẩm quyền; địa phương thực hiện các quyết định quản lý trong phạm vi được giao; báo chí chuyển tải thông tin đến công chúng. Các tầng này có thể liên hệ, bổ sung cho nhau nhưng không thay thế nhau. Một quyết định quản lý không thay thế nghiên cứu lịch sử; một nhận định học thuật không tự trở thành quyết định chính thức; một danh xưng lưu truyền trong dân gian cũng không mặc nhiên là danh hiệu pháp lý.
Với báo chí, sự phân định ấy càng cần thiết. Khi viết về nhân vật lịch sử, cần làm rõ đâu là sự kiện được tư liệu xác nhận, đâu là kết quả nghiên cứu, đâu là ý kiến hoặc cách diễn giải của một nguồn, đâu là ký ức cộng đồng, đâu là quyết định của cơ quan có thẩm quyền và đâu vẫn là vấn đề còn tranh luận. Cách diễn đạt phải giúp công chúng nhận biết ranh giới giữa dữ kiện, nhận định và đánh giá, thay vì đặt chúng trên cùng một mặt bằng như những kết luận đã được xác lập. Nghị định 367/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 25/9/2026 và có hiệu lực từ ngày 26/9/2026, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản.
Tuy nhiên, phía sau câu chuyện về chế tài vẫn là yêu cầu về chuẩn mực và căn cứ. Khi tiêu chí chưa rõ, nguồn tư liệu chưa được kiểm chứng hoặc phạm vi thẩm quyền chưa được xác định mà đã đưa ra kết luận hay áp dụng biện pháp xử lý, tranh luận không những khó khép lại mà còn có thể chuyển từ vấn đề lịch sử sang cách hiểu và áp dụng quy định. Bởi vậy, trước một vấn đề liên quan đến danh xưng và tôn vinh nhân vật lịch sử, cần làm rõ tư liệu, kiểm chứng nguồn, đặt nhân vật và tên gọi trong bối cảnh, phân định loại hình danh xưng, xác định tiêu chí và thẩm quyền trước khi lựa chọn hình thức ghi nhận hoặc sử dụng trong không gian công cộng. Chuẩn mực và tiêu chí càng rõ, việc ghi nhận, tôn vinh và xử lý những vấn đề phát sinh càng có cơ sở.
Lịch sử cần được nhận diện bằng tư liệu và nghiên cứu; danh xưng cần được xác định từ nguồn gốc và bối cảnh; danh hiệu chính thức cần có căn cứ và chủ thể có thẩm quyền; việc tôn vinh cần dựa trên tiêu chí phù hợp; còn báo chí có trách nhiệm thông tin chính xác, đúng căn cứ và đúng ngữ cảnh. Phân định được những ranh giới ấy không làm nghèo đi ký ức về một nhân vật, mà giúp mỗi tên gọi, mỗi sự ghi nhận và mỗi hình thức tôn vinh được đặt đúng vị trí của nó trong lịch sử và đời sống đương đại.
Thế Nguyễn – Minh Văn
Tài liệu tham khảo
1. Chính phủ, Nghị định 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 về ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng.
2. Bộ Văn hóa – Thông tin, Thông tư 36/2006/TT-BVHTT ngày 20/3/2006 hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng.
3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Văn bản 2296/BVHTTDL-MTNATL ngày 21/6/2013 về quy hoạch tượng đài Quốc tổ Hùng Vương và danh nhân anh hùng dân tộc.
4. Ban Tuyên giáo Trung ương, Công văn 2274-CV/BTGTW ngày 5/1/2022 về việc đặt tên đường, phố, công trình công cộng liên quan một số nhân vật lịch sử còn có ý kiến trái chiều.
5. HĐND tỉnh Ninh Thuận, Nghị quyết 28/2024/NQ-HĐND ngày 10/12/2024 về đặt tên, đổi tên đường trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm.
6.Chính phủ, Nghị định 367/2026/NĐ-CP ngày 25/9/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí.


