Đổi mới giáo dục phổ thông là yêu cầu tất yếu trong quá trình phát triển đất nước, nhưng không thể chỉ dừng ở việc thay đổi chương trình, sách giáo khoa hay phương thức thi cử. Cốt lõi của đổi mới là xác định mục tiêu đào tạo thế hệ người Việt Nam vừa có tri thức, năng lực, vừa có đạo đức, lòng yêu nước, ý thức cộng đồng và trách nhiệm công dân. Những bất cập trong dạy học, tranh luận về sách giáo khoa và lựa chọn tác phẩm văn học đang đặt ra yêu cầu nhìn nhận nghiêm túc hiệu quả đổi mới, bảo đảm giáo dục hướng tới phát triển con người toàn diện, thay vì chỉ thay đổi hình thức.

Đổi mới chương trình phải bắt đầu từ mục tiêu đào tạo con người
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định yêu cầu chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Cụ thể hóa định hướng đó, Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 xác định năm phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm. Đây là cơ sở quan trọng để khắc phục lối học nặng ghi nhớ, thiếu vận dụng, hướng tới hình thành những thế hệ học sinh có tri thức, năng lực tư duy độc lập, khả năng sáng tạo và ý thức trách nhiệm với xã hội.
Tuy nhiên, phát triển năng lực không đồng nghĩa với xem nhẹ giáo dục đạo đức; đề cao tính chủ động của cá nhân cũng không có nghĩa là coi nhẹ lợi ích cộng đồng. Một học sinh có kiến thức, kỹ năng nhưng thiếu trung thực, kỷ luật, lòng nhân ái và trách nhiệm xã hội thì chưa thể được xem là phát triển toàn diện. Giáo dục không chỉ giúp học sinh biết học, biết làm mà còn phải biết sống có lý tưởng, có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước. Tinh thần “tiên học lễ, hậu học văn” vì thế vẫn giữ nguyên giá trị cốt lõi trong giáo dục hiện đại, với cách tiếp cận phù hợp nhằm kết hợp hài hòa giữa tri thức, nhân cách và năng lực.
Từ năm học 2020–2021, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 được triển khai theo lộ trình, tạo ra những chuyển biến trong phương pháp dạy và học. Nhiều nhà trường tăng cường thực hành, trải nghiệm, thảo luận và vận dụng kiến thức vào thực tiễn; giáo viên từng bước chuyển từ truyền đạt một chiều sang tổ chức, hướng dẫn học sinh chủ động khám phá và giải quyết vấn đề. Những đổi mới này cần được ghi nhận, bởi giáo dục hiện đại không thể chỉ dừng ở việc truyền thụ kiến thức có sẵn mà phải hình thành năng lực tư duy, sáng tạo và thích ứng với sự phát triển của xã hội.
Dẫu vậy, thành công của đổi mới giáo dục không thể đo bằng số môn học được thiết kế lại, số bộ sách giáo khoa được xuất bản hay số phương pháp giảng dạy mới được áp dụng, mà phải bằng chất lượng giáo dục và sự trưởng thành thực chất của học sinh. Đó là khả năng vận dụng tri thức, năng lực giải quyết vấn đề, sự tiến bộ về đạo đức, ý thức kỷ luật, lòng yêu nước và trách nhiệm công dân. Nếu chương trình thay đổi nhưng giáo viên còn lúng túng, học sinh chịu áp lực, phụ huynh khó đồng hành thì mục tiêu đổi mới vẫn chưa được hiện thực hóa đầy đủ. Vì vậy, mọi điều chỉnh về chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học phải nhất quán với mục tiêu cao nhất: đào tạo những con người Việt Nam phát triển toàn diện về tri thức, năng lực và nhân cách, có khả năng làm chủ tương lai và ý thức cống hiến cho đất nước.
Những thành tựu đáng ghi nhận và bất cập trong tổ chức thực hiện
Một trong những chuyển biến tích cực của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 là chú trọng phát triển năng lực tự học, vận dụng kiến thức, làm việc nhóm và giải quyết vấn đề, đáp ứng yêu cầu của xã hội trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển nhanh chóng. Việc đổi mới kiểm tra, đánh giá cũng hướng tới giảm lối học thuộc lòng, khuyến khích học sinh hiểu bản chất và biết vận dụng kiến thức. Phương án thi tốt nghiệp trung học phổ thông từ năm 2025 với hai môn bắt buộc là Toán, Ngữ văn và hai môn tự chọn thể hiện nỗ lực mở rộng định hướng học tập phù hợp với năng lực, sở trường của học sinh. Tuy nhiên, hiệu quả đổi mới thi cử phải được kiểm chứng bằng tính công bằng, độ tin cậy, khả năng phân hóa và tác động thực tế đến chất lượng dạy học.
Bên cạnh những kết quả tích cực, việc tổ chức dạy học các môn tích hợp cho thấy khoảng cách giữa mục tiêu đổi mới và điều kiện triển khai. Tích hợp kiến thức là hướng tiếp cận có cơ sở, giúp học sinh nhìn nhận vấn đề toàn diện hơn, nhưng không thể chỉ dừng ở việc ghép các lĩnh vực hoặc thay đổi tên môn học khi đội ngũ giáo viên, tài liệu và phương pháp giảng dạy chưa được chuẩn bị đồng bộ. Những khó khăn trong dạy học môn Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lý đặt ra yêu cầu đánh giá lại cách tổ chức, phân công giáo viên và điều kiện thực tế của từng nhà trường. Khi chính sách phát sinh bất cập, cơ quan quản lý phải chủ động điều chỉnh, thay vì để giáo viên và học sinh gánh chịu phần lớn áp lực thích nghi.
Việc triển khai nhiều bộ sách giáo khoa nhằm mở rộng quyền lựa chọn, đa dạng hóa học liệu và phát huy tính chủ động của cơ sở giáo dục. Tuy nhiên, chủ trương này chỉ phát huy hiệu quả khi các bộ sách bảo đảm chuẩn chất lượng thống nhất, nội dung chính xác, phù hợp với học sinh và có giá thành hợp lý. Nghị quyết số 686/NQ-UBTVQH15 năm 2023 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giám sát việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã chỉ ra những hạn chế trong quá trình thực hiện, bao gồm sai sót nội dung ở một số sách giáo khoa và bất cập trong biên soạn, thẩm định, lựa chọn, quản lý giá sách. Những vấn đề này đòi hỏi tăng cường kiểm soát chất lượng, minh bạch quy trình và xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan.
Nhìn tổng thể, những bất cập trong tích hợp môn học, biên soạn sách giáo khoa và đổi mới thi cử cho thấy yêu cầu cấp thiết phải nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện, tránh tình trạng điều chỉnh chính sách liên tiếp nhưng chưa giải quyết triệt để những nguyên nhân cốt lõi. Đổi mới giáo dục phải được đánh giá bằng dữ liệu thực tiễn, phản hồi từ nhà trường, giáo viên, học sinh và phụ huynh, đồng thời gắn với trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý. Không thể quy mọi khó khăn cho sự chậm thích nghi của người thực hiện khi chính sách, nguồn lực và điều kiện triển khai còn những hạn chế cần khắc phục. Chỉ khi nhận diện đúng bất cập, điều chỉnh kịp thời và bảo đảm tính ổn định cần thiết, đổi mới mới thực sự đi vào chiều sâu, nâng cao chất lượng giáo dục thay vì tạo thêm áp lực cho nhà trường và xã hội.
Thi cử và sách giáo khoa: Đổi mới không thể chạy theo hình thức
Tranh luận về thi hay không thi, kiểm tra kiến thức hay đánh giá năng lực thường bị đặt thành những lựa chọn đối lập. Thực tế, giáo dục cần kết hợp cả hai. Kiểm tra thường xuyên giúp phát hiện những hạn chế trong học tập, trong khi các kỳ thi có chuẩn mực góp phần xác nhận kết quả và bảo đảm tính công bằng. Điều cần đổi mới không phải là phủ định hình thức đánh giá truyền thống, mà là xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp và cách sử dụng kết quả. Nếu tiêu chí thiếu nhất quán, giáo viên dễ dạy theo yêu cầu trước mắt của kỳ thi, học sinh học để đối phó, còn mục tiêu phát triển toàn diện khó được thực hiện.
Sách giáo khoa cũng không đơn thuần là phương tiện truyền đạt kiến thức mà còn góp phần hình thành nhận thức, tình cảm và nhân cách học sinh. Vì vậy, việc lựa chọn ngữ liệu, đặc biệt là tác phẩm văn học, phải dựa trên những tiêu chí rõ ràng về giá trị nghệ thuật, nội dung nhân văn, tính phù hợp với lứa tuổi và mục tiêu giáo dục. Danh tiếng tác giả, sự mới lạ của tác phẩm hay những đánh giá trong đời sống văn học không thể thay thế yêu cầu thẩm định sư phạm. Một tác phẩm có giá trị nghệ thuật chưa hẳn phù hợp với mọi cấp học; ngược lại, việc tác phẩm gây tranh luận cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận giá trị của tác phẩm ấy.
Tranh luận liên quan đến việc sử dụng tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh trong sách giáo khoa cho thấy cần đánh giá ngữ liệu văn học trong đầy đủ ngữ cảnh. Không thể chỉ dựa vào tên tác phẩm hoặc những nhận xét khen, chê để kết luận về tính phù hợp. Điều quan trọng là xác định đoạn trích cụ thể, mục tiêu bài học, cách tổ chức giảng dạy và mối liên hệ với các tác phẩm khác trong chương trình. Văn học về chiến tranh cần giúp học sinh nhận thức được những mất mát, đau thương của con người, đồng thời hiểu sâu sắc hoàn cảnh lịch sử, cuộc đấu tranh giành độc lập và những hy sinh của các thế hệ đi trước. Giáo dục lòng yêu nước không loại trừ việc tiếp cận chiến tranh từ nhiều góc nhìn, nhưng đòi hỏi những góc nhìn ấy được đặt trong bối cảnh lịch sử đầy đủ, chính xác và phù hợp với nhận thức của học sinh.
Vấn đề cốt lõi vì thế không phải là lựa chọn tác phẩm theo cảm tính hay loại bỏ mọi nội dung gây tranh luận, mà là xây dựng quy trình thẩm định có căn cứ khoa học và trách nhiệm giải trình. Hội đồng thẩm định cần làm rõ giá trị văn học, mục tiêu sư phạm, giới hạn tiếp nhận theo lứa tuổi và phương pháp hướng dẫn học sinh. Đổi mới sách giáo khoa chỉ tạo được niềm tin xã hội khi việc lựa chọn nội dung được thực hiện minh bạch, có tiêu chí thống nhất và có cơ chế rà soát, điều chỉnh khi phát hiện bất cập.
Lựa chọn tác phẩm văn học và trách nhiệm bảo vệ giá trị lịch sử, văn hóa dân tộc
Tranh luận liên quan đến tác phẩm Hoàng hôn của các vị thần của Hà Thủy Nguyên và thông tin về việc sử dụng tác phẩm trong tài liệu Ngữ văn lớp 7 tiếp tục đặt ra yêu cầu thận trọng trong lựa chọn ngữ liệu giáo dục. Một số đoạn trích lan truyền trên mạng được cho là có những chi tiết hư cấu liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và các biểu tượng lịch sử, văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, để đánh giá chính xác, cần xác minh văn bản gốc, nội dung được sử dụng trong tài liệu học tập và ngữ cảnh thể hiện. Nếu có căn cứ cho thấy nội dung xuyên tạc lịch sử, xúc phạm danh dự, uy tín của nhân vật lịch sử hoặc không phù hợp với lứa tuổi, cơ quan có thẩm quyền cần xem xét nghiêm túc và xử lý theo quy định. Không nên đưa ra kết luận chỉ từ những trích đoạn chưa được kiểm chứng đầy đủ.
Điều cần làm rõ là mục đích sư phạm và căn cứ chuyên môn của việc lựa chọn tác phẩm, nếu thông tin về việc đưa tác phẩm vào tài liệu giảng dạy được xác nhận. Cơ quan biên soạn, thẩm định và quản lý giáo dục có trách nhiệm giải trình về giá trị nội dung, mức độ phù hợp với học sinh lớp 7 và phương pháp hướng dẫn tiếp nhận. Đổi mới giáo dục phải gắn với yêu cầu tôn trọng sự thật lịch sử, gìn giữ các giá trị văn hóa dân tộc và bồi dưỡng lòng yêu nước, ý thức công dân cho thế hệ trẻ.
Cần phân biệt rõ quyền tự do sáng tạo trong đời sống văn học với trách nhiệm lựa chọn tác phẩm trong giáo dục phổ thông. Văn học có quyền sử dụng hư cấu, biểu tượng và những cách tiếp cận nghệ thuật đa dạng; song không phải mọi tác phẩm đều mặc nhiên thích hợp để giảng dạy cho học sinh. Đối với những nội dung liên quan đến lãnh tụ, nhân vật lịch sử và các giá trị văn hóa có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống dân tộc, việc thẩm định càng cần chú trọng tính chính xác, ngữ cảnh nghệ thuật, mục tiêu giáo dục và khả năng tiếp nhận của từng lứa tuổi. Tôn trọng sáng tạo nghệ thuật và bảo đảm trách nhiệm giáo dục không phải là hai yêu cầu loại trừ nhau.
Bởi vậy, trước những phản ánh có căn cứ, cơ quan quản lý cần công khai thông tin về ngữ liệu được sử dụng, mục tiêu bài học và quy trình lựa chọn; đồng thời tổ chức thẩm định lại khi cần thiết, với sự tham gia của các chuyên gia văn học, lịch sử và giáo dục. Kết quả đánh giá phải được công bố rõ ràng, tránh cả việc xem nhẹ những lo ngại chính đáng lẫn kết luận vội vàng từ thông tin thiếu đầy đủ. Sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy phải được lựa chọn bằng tiêu chuẩn chuyên môn nghiêm túc, đặt lợi ích giáo dục của học sinh lên hàng đầu và gắn trách nhiệm của người thẩm định với chất lượng nội dung đưa vào nhà trường.
Xác lập triết lý giáo dục nhất quán – Lấy đạo đức làm nền tảng, phát triển con người toàn diện
Những bất cập trong đổi mới chương trình, thi cử và lựa chọn tác phẩm văn học cho thấy yêu cầu đặt ra không chỉ là điều chỉnh từng khâu, mà quan trọng hơn phải xác lập và thực hiện nhất quán triết lý giáo dục. Một nền giáo dục hiện đại cần kết hợp hài hòa giữa phát triển cá nhân với trách nhiệm cộng đồng, tư duy độc lập với sự tôn trọng sự thật lịch sử, tự do sáng tạo với chuẩn mực học thuật, tiếp thu tinh hoa nhân loại với gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là những giá trị bổ trợ cho nhau, hướng tới đào tạo con người Việt Nam có tri thức, đạo đức, bản lĩnh, lòng tự trọng và ý thức cống hiến.
Trong giáo dục văn học, học sinh cần được tiếp cận những tác phẩm có giá trị nghệ thuật và nhân văn, phản ánh phong phú đời sống con người, lịch sử và văn hóa dân tộc. Đặc biệt, văn học viết về chiến tranh phải giúp học sinh thấu hiểu những mất mát, đau thương, đồng thời nhận thức đúng bối cảnh lịch sử, ý nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập và sự hy sinh của các thế hệ đi trước. Những góc nhìn khác biệt cần được tiếp nhận, phân tích trên cơ sở văn bản và bằng chứng, nhưng không thể lấy sự khác biệt làm lý do bỏ qua yêu cầu về tính chính xác lịch sử và sự phù hợp với mục tiêu giáo dục. Đa dạng trong tiếp cận văn học phải gắn với nền tảng tri thức, tinh thần nhân văn và trách nhiệm đối với lịch sử dân tộc.
Giáo dục nhân văn không đồng nghĩa với giáo dục thiếu định hướng; phát triển tư duy phản biện không có nghĩa là xem mọi nhận định đều có giá trị ngang nhau, bất kể căn cứ khoa học. Học sinh cần được rèn luyện khả năng đặt câu hỏi, kiểm chứng thông tin, phân biệt hư cấu nghệ thuật với sự kiện lịch sử, nhận diện lập luận có cơ sở và tôn trọng sự khác biệt. Cùng với phát triển năng lực, giáo dục phải bồi dưỡng lòng yêu nước, tính trung thực, ý thức kỷ luật, tinh thần nhân ái và trách nhiệm công dân; giúp các em biết gắn khát vọng cá nhân với lợi ích gia đình, cộng đồng và Tổ quốc. Lấy đạo đức làm nền tảng không phải là xem nhẹ tri thức hay sáng tạo, mà là bảo đảm tri thức và năng lực được sử dụng vì những mục đích tốt đẹp, có ích cho con người và xã hội.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần nâng cao chất lượng xây dựng chương trình, biên soạn và thẩm định sách giáo khoa; công khai tiêu chí lựa chọn ngữ liệu, tăng cường sự tham gia của các chuyên gia giáo dục, văn học, lịch sử, văn hóa và tâm lý lứa tuổi. Đồng thời, phải có cơ chế tiếp nhận phản biện, đánh giá hiệu quả thực hiện bằng kết quả học tập, mức độ quá tải và sự tiến bộ về phẩm chất của học sinh. Giáo viên cần được hỗ trợ chuyên môn, giảm áp lực hành chính và tạo điều kiện phản ánh những khó khăn từ thực tiễn. Những bất cập, sai sót đã được xác định phải được khắc phục kịp thời, gắn với trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý và đơn vị liên quan. Đổi mới chỉ thực sự đi vào chiều sâu khi chất lượng giáo dục được nâng cao, niềm tin xã hội được củng cố và học sinh trưởng thành toàn diện cả về tri thức, năng lực lẫn nhân cách.
Đổi mới chương trình phải gắn với trách nhiệm giáo dục con người
Đổi mới giáo dục phổ thông từ năm 2018 đã tạo ra những chuyển biến đáng ghi nhận, song cũng bộc lộ những hạn chế trong tổ chức dạy học, sách giáo khoa, thi cử và lựa chọn nội dung giáo dục. Những vấn đề ấy đòi hỏi phải tiếp tục đánh giá, điều chỉnh trên cơ sở khoa học, thực tiễn và trách nhiệm giải trình, thay vì chỉ chú trọng thay đổi chương trình hay phương pháp.
Đích đến của đổi mới giáo dục không chỉ là những học sinh có kiến thức, kỹ năng và khả năng thích ứng, mà còn là những con người có đạo đức, lòng yêu nước, ý thức cộng đồng và trách nhiệm với tương lai đất nước. Muốn vậy, không thể tách dạy chữ khỏi dạy người, phát triển năng lực khỏi bồi dưỡng nhân cách, tiếp thu cái mới khỏi gìn giữ những giá trị tốt đẹp của dân tộc.
Tuy nhiên, nhà trường không thể một mình đảm nhận toàn bộ trách nhiệm hình thành nhân cách thế hệ trẻ. Giáo dục đạo đức chỉ đạt hiệu quả bền vững khi có sự thống nhất về nhận thức và phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
Kỳ tiếp theo sẽ phân tích vai trò, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức, xây dựng nhân cách thế hệ trẻ trước những thách thức của thời đại mới.
Thế Nguyễn – Minh Văn
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-29-nqtw-ngay-4112013-hoi-nghi-lan-thu-8-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-doi-moi-can-ban-toan-584
2. Quốc hội (2014), Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=178171
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông. https://vbpl.moj.gov.vn/bogiaoducdaotao/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=146721
4. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2023), Nghị quyết số 686/NQ-UBTVQH15 về giám sát chuyên đề đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. https://quochoi.vn/hoatdongdbqh/Pages/tin-hoat-dong-dai-bieu.aspx?ItemID=81618
5. Hội Nhà văn Việt Nam, “Vì sao tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh được chọn đưa vào sách giáo khoa?”. https://vanvn.vn/vi-sao-tac-pham-noi-buon-chien-tranh-duoc-chon-dua-vao-sach-giao-khoa/
6. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, “Phương án tổ chức thi, xét công nhận tốt nghiệp THPT từ năm 2025”. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/cong-bo-phuong-an-thi-tot-nghiep-thpt-tu-nam-2025-119231129112222933.htm
Bài viết cùng chuyên mục
Kỳ 3: Nhận diện những phương thức xuyên tạc lịch sử trong đời sống xã hội
Kỳ 4: Khi kỷ cương học đường bị thách thức – giáo dục nhân cách đang được thực hiện như thế nào?
Kỳ 2: Nghiên cứu lại lịch sử và xuyên tạc lịch sử – ranh giới không thể nhầm lẫn
Phối hợp quân – dân, chủ động bảo vệ môi trường và ứng phó với các thách thức môi trường ở Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2
Kỳ 3: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đức, tài và sự nghiệp trồng người
Kỳ 1: Sự thật lịch sử – Nền tảng của ký ức và bản sắc dân tộc

